Vào ngày 25 tháng 4 năm 1989, Hội đồng Nhà nước đã ban hành Pháp lệnh Bảo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ sản năm 1989 do Chủ tịch Võ Chí Công ký. Đây là văn bản pháp lý quan trọng thiết lập hệ thống quy định toàn diện nhằm quản lý, bảo vệ, khai thác và tái tạo nguồn lợi thủy sản, đồng thời bảo vệ môi trường sống của các loài thủy sinh vật, bảo đảm lợi ích kinh tế - xã hội trước mắt và lâu dài của đất nước.
Phạm vi và đối tượng áp dụng: Pháp lệnh áp dụng đối với mọi tổ chức nhà nước, xã hội, tập thể, tư nhân và cá nhân (trong nước và nước ngoài) có hoạt động liên quan đến việc khai thác, nuôi trồng, nghiên cứu, bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản. Phạm vi điều chỉnh bao gồm toàn bộ nguồn lợi thủy sản (các sinh vật có giá trị kinh tế, khoa học) và môi trường sống của chúng tại các vùng nước nội địa, nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa thuộc chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam.
Chế độ sở hữu và nguyên tắc quản lý nguồn lợi thủy sản
- Sinh vật thủy sản sống tự nhiên ở các vùng nước thuộc chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam thuộc sở hữu toàn dân. Sinh vật thủy sản do nuôi trồng thuộc sở hữu toàn dân hoặc các hình thức sở hữu khác theo quy định của pháp luật.
- Nhà nước thống nhất quản lý nguồn lợi thủy sản và môi trường sống của chúng bằng các chính sách, quy hoạch và kế hoạch cụ thể; sử dụng tổng hợp các biện pháp tuyên truyền, giáo dục, kỹ thuật, kinh tế và pháp luật để bảo vệ, đặc biệt là đối với các loài quý hiếm, có giá trị kinh tế cao.
- Nhà nước thực hiện giao vùng nước ổn định lâu dài hoặc có thời hạn cho các tổ chức, cá nhân để nuôi trồng, khai thác thủy sản. Việc thu hồi vùng nước đã giao chỉ được thực hiện trong các trường hợp do pháp luật quy định cụ thể.
Các hành vi bị nghiêm cấm để bảo vệ nguồn lợi thủy sản
- Nghiêm cấm sử dụng chất độc hại, chất nổ, súng đạn, dòng điện làm tê liệt hoặc làm chết hàng loạt để khai thác nguồn lợi thủy sản.
- Cấm xả, thải, để rò rỉ các chất độc hại có nồng độ vượt quá giới hạn quy định vào môi trường nước.
- Cấm phá hoại rừng ngập mặn, rừng đầu nguồn, các rạn đá, rạn san hô, bãi thực vật ngầm và các sinh cảnh đặc biệt khác của thủy sản.
- Cấm tự ý xây dựng mới, phá bỏ hoặc thay đổi các công trình liên quan đến vùng nước và môi trường sống gây thiệt hại lớn đến nguồn lợi thủy sản, trừ trường hợp đặc biệt được Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng cho phép.
- Cấm khai thác hoặc cấm khai thác có thời hạn tại các khu vực bãi đẻ, nơi sinh sống tập trung của các loài thủy sản thời kỳ còn bé.
- Cấm đánh bắt, tổ chức tiêu thụ các loài thủy sản có giá trị kinh tế cao, quý hiếm hoặc có nguy cơ bị tuyệt chủng trong danh mục bảo vệ. Việc lấy giống các loài này để tái tạo hoặc nghiên cứu khoa học phải tuân theo hướng dẫn của Bộ Thủy sản.
Quy định về hoạt động khai thác, nuôi trồng và phát triển nguồn lợi
- Bộ trưởng Bộ Thủy sản quy định mức sản lượng, đối tượng và các loại nghề khai thác tại các vùng nước để bảo đảm khả năng tái sinh tự nhiên của nguồn lợi.
- Quy định rõ danh mục các nghề và phương tiện khai thác phải đăng ký; các nghề bị cấm hoặc hạn chế; thực hiện phân vùng, phân tuyến sản xuất trên biển và di chuyển lực lượng khai thác theo mùa vụ hàng năm. Tổ chức, cá nhân hành nghề thuộc diện phải đăng ký bắt buộc phải có giấy phép hoạt động.
- Việc nhập khẩu các giống thủy sản mới vào Việt Nam, di giống và thuần hóa giống phải tuân thủ quy định của Bộ Thủy sản nhằm phòng ngừa dịch bệnh.
- Nhà nước khuyến khích các hình thức nhận khoán, thuê, đấu thầu vùng nước để nuôi trồng, khai thác và bảo vệ nguồn lợi thông qua hợp đồng. Người sản xuất được hưởng lợi ích vật chất từ thành quả lao động, được quyền chuyển nhượng, bán sản phẩm và có nghĩa vụ nộp thuế theo quy định.
Hệ thống quản lý nhà nước và công tác thanh tra
- Hội đồng Bộ trưởng thống nhất quản lý nhà nước về bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản trên quy mô cả nước.
- Bộ Thủy sản chịu trách nhiệm tổ chức nghiên cứu, điều tra, thăm dò nguồn lợi; hướng dẫn xây dựng, tổng hợp và trình Hội đồng Bộ trưởng phê duyệt quy hoạch, kế hoạch chung; đồng thời tổ chức thực hiện công tác thanh tra chuyên ngành trên phạm vi toàn quốc.
- Ủy ban nhân dân các cấp (tỉnh, huyện, xã) có trách nhiệm xây dựng, tổng hợp và trình Hội đồng nhân dân cùng cấp thông qua quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản tại địa phương mình quản lý.
- Lực lượng thanh tra chuyên ngành phối hợp với các ngành, các cấp thực hiện thanh tra tại các vùng nước trọng điểm, khu vực cấm khai thác và các khu vực bảo vệ đặc biệt.
Thẩm quyền giải quyết khiếu nại và tranh chấp
- Tranh chấp giữa các tổ chức, cá nhân trong cùng một quận, huyện do Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết. Nếu không đồng ý, có quyền khiếu nại lên Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (quyết định của cấp tỉnh là cuối cùng).
- Tranh chấp giữa các quận, huyện trong cùng một tỉnh do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết. Nếu không đồng ý, khiếu nại lên Bộ Thủy sản (quyết định của Bộ trưởng Bộ Thủy sản là cuối cùng).
- Tranh chấp giữa các ngành trung ương hoặc giữa các tỉnh do Bộ trưởng Bộ Thủy sản giải quyết. Nếu không đồng ý, khiếu nại lên Hội đồng Bộ trưởng (quyết định của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng là cuối cùng).
- Tranh chấp về đăng ký, cấp hoặc thu hồi giấy phép hành nghề do Ủy ban nhân dân cùng cấp với cơ quan cấp phép giải quyết; khiếu nại tiếp theo lên Ủy ban nhân dân cấp trên trực tiếp (quyết định của cấp trên trực tiếp là cuối cùng).
- Tranh chấp hợp đồng giao khoán, thuê, nhận thầu được giải quyết theo trình tự tố tụng dân sự hoặc trọng tài kinh tế. Tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do Tòa án nhân dân giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự.
Hợp tác quốc tế và quy định đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài
- Nhà nước Việt Nam sẵn sàng hợp tác với các nước và tổ chức quốc tế trong việc bảo vệ môi trường sống, đường di cư của các đàn cá và nguồn lợi thủy sản liên quan.
- Khuyến khích tổ chức, cá nhân nước ngoài và người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư vào nghiên cứu, thăm dò, nuôi trồng, khai thác, chế biến và bảo vệ nguồn lợi thủy sản theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
- Tàu thuyền nước ngoài khi qua lại hoặc hoạt động tại các vùng nước của Việt Nam phải tuân thủ nghiêm ngặt Pháp lệnh này và các quy định pháp luật liên quan. Hoạt động khai thác, nghiên cứu của tàu thuyền nước ngoài bắt buộc phải có giấy phép và chịu sự hướng dẫn của Bộ Thủy sản Việt Nam.
- Các tranh chấp có yếu tố nước ngoài được giải quyết tại cơ quan trọng tài Việt Nam hoặc cơ quan xét xử khác do các bên thỏa thuận.
Khen thưởng và xử lý vi phạm
- Tổ chức, cá nhân có thành tích xuất sắc trong việc bảo vệ, phát triển nguồn lợi thủy sản và ngăn chặn các hành vi phá hoại sẽ được Nhà nước khen thưởng về vật chất và tinh thần.
- Mọi hành vi vi phạm quy định về đăng ký, giấy phép, sử dụng ngư cụ trái phép, gây ô nhiễm môi trường, đánh bắt trộm hoặc các hành vi hủy hoại khác sẽ bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự tùy theo tính chất và mức độ vi phạm.
Hiệu lực thi hành: Pháp lệnh Bảo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ sản năm 1989 có hiệu lực thi hành kể từ ngày ban hành (ngày 25 tháng 4 năm 1989). Tất cả các quy định trước đây trái với Pháp lệnh này đều bị bãi bỏ. Hội đồng Bộ trưởng chịu trách nhiệm ban hành các văn bản quy định chi tiết để hướng dẫn thi hành Pháp lệnh này.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| HỘI ĐỒNG NHÀ NƯỚC | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 18-LCT/HĐNN8 | Hà Nội, ngày 25 tháng 4 năm 1989 |
CỦA HỘI ĐỒNG NHÀ NƯỚC SỐ 18-LCT/HĐNN8 NGÀY 05/05/1989 VỀ BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN LỢI THUỶ SẢN
Nguồn lợi thuỷ sản là tài nguyên sinh vật vô cùng quý giá, có khả năng tái tạo, có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển kinh tế và đời sống của nhân dân.
Bảo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ sản là yêu cầu cấp thiết trước mắt và lâu dài; là trách nhiệm của toàn dân, của các ngành, các cấp và các lực lượng vũ trang nhân dân;
Căn cứ vào Điều 19, Điều 36 và Điều 100 của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Pháp lệnh này quy định việc bảo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ sản.
Sinh vật thuỷ sản sống tự nhiên ở các vùng nước thuộc chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam thuộc sở hữu toàn dân. Sinh vật thuỷ sản do nuôi trồng thuộc sở hữu toàn dân hoặc các hình thức sở hữu khác.
Nhà nước thống nhất quản lý nguồn lợi thuỷ sản và môi trường sống của các loài thuỷ sản.
Tổ chức Nhà nước, xã hội, tập thể, tư nhân (sau đây gọi chung là tổ chức) và cá nhân có quyền khai thác nguồn lợi thuỷ sản thiên nhiên theo quy định của Pháp lệnh này ở các vùng nước do Nhà nước quản lý.
Vùng nước được giao chỉ bị thu hồi trong các trường hợp do pháp luật quy định. Hội đồng bộ trưởng quy định thẩm quyền, căn cứ và trình tự giao, thu hồi vùng nước.
Tổ chức, cá nhân sử dụng vùng nước được giao để nuôi trồng, khai thác thuỷ sản có trách nhiệm xây dựng quy hoạch, kế hoạch thực hiện các biện pháp bảo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ sản để chủ động đẩy mạnh sản xuất - kinh doanh, tái tạo nguồn lợi thuỷ sản.
Nhà nước bảo đảm quyền hợp pháp của tổ chức, cá nhân sử dụng vùng nước để nuôi trồng, khai thác, bảo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ sản.
BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN LỢI THUỶ SẢN
1- Dùng chất độc hại, chất nổ, súng đạn, dòng điện làm tê liệt hoặc làm chết hàng loạt, để khai thác nguồn lợi thuỷ sản.
2- Xả, thải, để rò rỉ các chất độc hại có nồng độ vượt quá giới hạn quy định.
3- Phá rừng ngập mặn, rừng đầu nguồn, các rạn đá và san hô, các bãi thực vật ngầm và các sinh cảnh đặc biệt khác.
4- Xây dựng mới, phá bỏ, thay đổi các công trình liên quan đến vùng nước và môi trường sống làm thiệt hại lớn đến nguồn lợi thuỷ sản.
Trong trường hợp đặc biệt phải tiến hành một hoặc những công việc quy định tại điểm 3, điểm 4 của Điều này thì phải được phép của Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng.
Đối với các nghề và phương tiện khai thác mà Bộ thuỷ sản quy định phải đăng ký thì tổ chức, cá nhân khi hành nghề phải có giấy phép của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
Việc lấy giống các loài thuỷ sản quy định tại đoạn 1 của Điều này để tái tạo nguồn lợi hoặc phục vụ yêu cầu điều tra, nghiên cứu khoa học phải theo sự hướng dẫn của Bộ Thuỷ sản .
Bộ trưởng Bộ Thuỷ sản quy định danh mục các đối tượng thuỷ sản cần được bảo vệ, các biện pháp đặc biệt để bảo tồn các loài thuỷ sản đó.
Bộ Thuỷ sản và các ngành có liên quan chịu trách nhiệm thực hiện các biện pháp phòng trừ dịch bệnh đối với các loài thuỷ sản.
QUẢN LÝ VIỆC BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN LỢI THUỶ SẢN
Hội đồng bộ trưởng thống nhất quản lý việc bảo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ sản.
Bộ Thuỷ sản tổ chức việc nghiên cứu, điều tra, thăm dò nguồn lợi thuỷ sản trong phạm vi cả nước, trên cơ sở phối hợp sử dụng hợp lý lực lượng của các ngành, các cấp.
Bộ Thuỷ sản hướng dẫn xây dựng và tổng hợp trình Hội đồng bộ trưởng về quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ sản của các ngành, các cấp; tổ chức, chỉ đạo hướng dẫn, xét duyệt quy hoạch, kế hoạch của các đơn vị trực thuộc Bộ.
Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc trung ương tổ chức hướng dẫn, tổng hợp và trình Hội đồng nhân dân cùng cấp xét duyệt quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ sản trong phạm vi địa phương mình.
Uỷ ban nhân dân quận, huyện và cấp tương đương tổ chức hướng dẫn, tổng hợp và trình Hội đồng nhân dân cùng cấp xét duyệt quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ sản của Uỷ ban nhân dân phường, xã, của các tổ chức sản xuất - kinh doanh thuỷ sản trực thuộc quận, huyện mình.
1- Uỷ ban nhân dân quận, huyện, và cấp tương đương giải quyết khiếu nại và tranh chấp giữa các tổ chức, cá nhân với nhau trong quận, huyện mình. Nếu không đồng ý với quyết định của Uỷ ban nhân dân quận, huyện thì có quyền khiếu nại lên Uỷ ban nhân dân cấp trên trực tiếp. Quyết định của Uỷ ban nhân dân cấp trên trực tiếp là quyết định cuối cùng.
2- Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc trung ương giải quyết khiếu nại và tranh chấp giữa các quận, huyện thuộc địa phương mình. Nếu không đồng ý với quyết định của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh thì có quyền khiếu nại lên Bộ Thuỷ sản . Quyết định của Bộ trưởng Bộ Thuỷ sản là quyết định cuối cùng.
3- Bộ trưởng Bộ Thuỷ sản giải quyết khiếu nại và tranh chấp giữa các ngành trung ương hoặc giữa các địa phương cấp tỉnh. Nếu không đồng ý với quyết định của Bộ trưởng Bộ thuỷ sản thì có quyền khiếu nại lên Hội đồng bộ trưởng. Quyết định của Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng là quyết định cuối cùng.
Tranh chấp giữa các tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc thực hiện hợp đồng giao khoán, thuê, nhận thầu bảo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ sản, tuỳ theo tính chất và nội dung hợp đồng, được giải quyết theo trình tự tố tụng dân sự hoặc trọng tài kinh tế.
Tranh chấp về bồi thường thiệt hại cho tổ chức, cá nhân do hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ sản gây ra mà không liên quan đến hợp đồng, thì do Toà án nhân dân giải quyết theo trình tự tố tụng dân sự.
Các cơ quan này phải xem xét, giải quyết theo Pháp lệnh quy định việc xét và giải quyết các khiếu nại, tố cáo của công dân.
QUAN HỆ VÀ HỢP TÁC QUỐC TẾ TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN LỢI THUỶ SẢN
Căn cứ vào những nguyên tắc quy định trong Pháp lệnh này, Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng ban hành những quy định cụ thể nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư về nước, góp phần bảo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ sản.
Các quan hệ quốc tế, các hợp đồng, các văn bản thoả thuận về hợp tác quốc tế có liên quan đến nguồn lợi thuỷ sản phải phù hợp với các quy định của Pháp lệnh này, trừ trường hợp điều ước quốc tế ký kết giữa nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam với nước ngoài hoặc tổ chức quốc tế có quy định khác.
Tàu thuyền nước ngoài hoạt động ở các vùng nước của Việt Nam để khai thác, nghiên cứu, thăm dò nguồn lợi thuỷ sản phải có giấy phép và theo hướng dẫn của Bộ thuỷ sản nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Hội đồng bộ trưởng quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh này.
|
| Võ Chí Công (Đã ký) |
- 1Quyết định 844/QĐ-TTg về việc thành lập Chi cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản Vịnh Bắc Bộ do Thủ tướng Chính Phủ ban hành
- 2Hiến pháp năm 1980
- 3Nghị định 195-HĐBT năm 1990 thi hành Pháp lệnh bảo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ sản do Hội đồng Bộ trưởng ban hành
- 4Nghị định 70/2003/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuỷ sản
Pháp lệnh Bảo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ sản năm 1989 do Hội đồng Nhà nước ban hành
- Số hiệu: 18-LCT/HĐNN8
- Loại văn bản: Pháp lệnh
- Ngày ban hành: 25/04/1989
- Nơi ban hành: Hội đồng Nhà nước
- Người ký: Võ Chí Công
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 17
- Ngày hiệu lực: 05/05/1989
- Ngày hết hiệu lực: 01/07/2004
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
