Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật xuất bản năm 2008 được Quốc hội ban hành nhằm hoàn thiện hành lang pháp lý, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất bản, in, phát hành xuất bản phẩm phát triển lành mạnh. Văn bản tập trung sửa đổi các quy định cốt lõi liên quan đến quy trình đăng ký kế hoạch xuất bản, thông tin bắt buộc trên xuất bản phẩm, điều kiện nhập khẩu, hợp tác quốc tế và các chế tài xử lý vi phạm nghiêm khắc trong toàn bộ chuỗi hoạt động xuất bản.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Luật áp dụng đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam; tổ chức, cá nhân nước ngoài tham gia hoặc có liên quan đến hoạt động xuất bản, in và phát hành xuất bản phẩm tại Việt Nam. Phạm vi điều chỉnh bao gồm các hành vi từ khâu đăng ký kế hoạch, biên tập, in ấn, nhập khẩu cho đến khâu lưu thông, phát hành sản phẩm ra thị trường.
Quy định về đăng ký kế hoạch xuất bản
Quy trình đăng ký kế hoạch xuất bản được siết chặt nhằm đảm bảo tính định hướng và quản lý nhà nước thống nhất:
- Trước khi tiến hành xuất bản, nhà xuất bản bắt buộc phải đăng ký kế hoạch xuất bản với Bộ Thông tin và Truyền thông. Việc xuất bản chỉ được thực hiện sau khi có xác nhận bằng văn bản từ Bộ.
- Thời hạn giải quyết: Trong vòng mười ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ đăng ký hợp lệ, Bộ Thông tin và Truyền thông phải ra văn bản xác nhận đăng ký kế hoạch xuất bản.
- Yêu cầu về nội dung: Kế hoạch xuất bản phải hoàn toàn phù hợp với tôn chỉ, mục đích, chức năng và nhiệm vụ của từng nhà xuất bản. Kế hoạch này có giá trị thực hiện đến hết ngày 31 tháng 12 của năm kế hoạch đó.
Thông tin bắt buộc phải ghi trên xuất bản phẩm
Luật quy định chi tiết và minh bạch các thông tin phải thể hiện trên xuất bản phẩm nhằm bảo vệ quyền tác giả và thuận tiện cho công tác quản lý:
- Đối với sách và tài liệu dưới dạng sách: Phải ghi rõ tên sách, tác giả, người chủ biên (nếu có), người dịch (đối với sách dịch), người phiên âm (đối với sách chữ Nôm), người hiệu đính (nếu có); tên nhà xuất bản hoặc cơ quan được phép xuất bản, tổ chức hoặc cá nhân liên kết (nếu có); năm xuất bản, số thứ tự tập, số lần tái bản. Đối với sách dịch từ ngôn ngữ trung gian, phải ghi rõ ngôn ngữ gốc và tên người dịch bản đó.
- Thông tin quản lý trên sách: Phải ghi tên người chịu trách nhiệm xuất bản, người biên tập nội dung, khuôn khổ sách, số đăng ký kế hoạch xuất bản, số quyết định xuất bản của giám đốc nhà xuất bản hoặc số giấy phép xuất bản của cơ quan quản lý; tên người trình bày, minh họa, biên tập kỹ thuật, sửa bản in; số lượng in, tên cơ sở in và thời gian nộp lưu chiểu.
- Phân loại thương mại: Sách kinh doanh phải ghi rõ giá bán lẻ; sách do Nhà nước đặt hàng phải ghi "sách Nhà nước đặt hàng"; sách không kinh doanh phải ghi "sách không bán".
- Đối với xuất bản phẩm không phải là sách: Phải ghi tên xuất bản phẩm, tên nhà xuất bản hoặc đơn vị được phép xuất bản, đơn vị liên kết (nếu có); số đăng ký kế hoạch xuất bản, số quyết định xuất bản hoặc số giấy phép; số lượng in, tên cơ sở in; giá bán lẻ hoặc dòng chữ phân loại tương ứng ("Nhà nước đặt hàng" hoặc "không bán").
- Thẩm quyền quyết định: Chính phủ quy định các trường hợp đặc biệt không phải ghi tên tác giả, người dịch, người liên kết trên bìa một. Giám đốc nhà xuất bản quyết định vị trí ghi các thông tin trên xuất bản phẩm (trừ các trường hợp đặc biệt do Chính phủ quy định).
Chế tài xử lý vi phạm trong lĩnh vực xuất bản và in ấn
Để tăng cường tính răn đe, Luật bổ sung các hình thức xử phạt nghiêm khắc đối với các hành vi sai phạm:
- Trong lĩnh vực xuất bản: Tổ chức, cá nhân vi phạm tùy theo tính chất, mức độ sẽ bị cảnh cáo, phạt tiền, tạm đình chỉ xuất bản phẩm vi phạm, tạm đình chỉ hoạt động xuất bản hoặc tước quyền sử dụng giấy phép hoạt động. Nếu gây thiệt hại phải công khai xin lỗi, cải chính trên báo chí và bồi thường. Xuất bản phẩm vi phạm sẽ bị tạm đình chỉ phát hành, yêu cầu sửa chữa, hoặc bị thu hồi, tịch thu, cấm lưu hành, tiêu hủy.
- Trong lĩnh vực in xuất bản phẩm: Áp dụng hình thức cảnh cáo, phạt tiền, đình chỉ in xuất bản phẩm đang in, tạm đình chỉ hoạt động in, tước giấy phép hoạt động in hoặc tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm đối với các hành vi: in không có giấy phép; in không có quyết định hoặc giấy phép xuất bản; in sai nội dung quyết định hoặc giấy phép; in gia công cho nước ngoài không có phép; in xuất bản phẩm đã bị đình chỉ, cấm lưu hành, tiêu hủy; in không đúng bản thảo đã duyệt; in không có hợp đồng hoặc vượt quá số lượng hợp đồng.
- Xử lý xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ: Các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong cả khâu xuất bản và in ấn đều bị xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ. Nếu hành vi vi phạm có đủ yếu tố cấu thành tội phạm thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Điều kiện và thủ tục nhập khẩu xuất bản phẩm để kinh doanh
Hoạt động nhập khẩu xuất bản phẩm được quản lý chặt chẽ thông qua các điều kiện cấp phép và quy trình kiểm duyệt nội dung:
- Điều kiện cấp giấy phép kinh doanh nhập khẩu: Doanh nghiệp phải có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc giấy chứng nhận đầu tư; người đứng đầu cơ sở phải thường trú tại Việt Nam, có văn bằng và chứng chỉ hành nghề phát hành xuất bản phẩm do cơ quan có thẩm quyền cấp. Riêng đối với kinh doanh nhập khẩu sách, doanh nghiệp bắt buộc phải có đội ngũ nhân viên và cộng tác viên đủ năng lực thẩm định nội dung sách.
- Thủ tục cấp phép: Hồ sơ gồm đơn xin phép, danh sách nhân viên hoặc cộng tác viên kèm hợp đồng lao động và bản sao hợp lệ các văn bằng, chứng chỉ. Bộ Thông tin và Truyền thông có trách nhiệm cấp giấy phép trong thời hạn ba mươi ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ; trường hợp từ chối phải trả lời bằng văn bản nêu rõ lý do.
- Quy trình nhập khẩu thực tế: Việc nhập khẩu phải thực hiện qua cơ sở có giấy phép. Trước khi nhập khẩu, cơ sở phải đăng ký danh mục xuất bản phẩm nhập khẩu với Bộ Thông tin và Truyền thông và phải được xác nhận bằng văn bản trong thời hạn mười lăm ngày.
- Kiểm soát nội dung: Nếu phát hiện xuất bản phẩm có dấu hiệu vi phạm pháp luật Việt Nam, Bộ Thông tin và Truyền thông có quyền yêu cầu thẩm định nội dung trước khi xác nhận đăng ký hoặc từ chối xác nhận. Người đứng đầu cơ sở nhập khẩu phải tự tổ chức thẩm định nội dung trước khi phát hành và chịu trách nhiệm hoàn toàn trước pháp luật.
Hợp tác quốc tế và văn phòng đại diện nước ngoài
Luật mở ra hành lang pháp lý cho việc hợp tác quốc tế nhưng vẫn đảm bảo sự giám sát chặt chẽ:
- Các cơ sở phát hành xuất bản phẩm có tư cách pháp nhân của Việt Nam và nước ngoài được phép hợp tác kinh doanh hoặc liên doanh phát hành tại Việt Nam trên cơ sở tuân thủ pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
- Tổ chức nước ngoài được phép thành lập văn phòng đại diện tại Việt Nam để giới thiệu tổ chức, sản phẩm và xúc tiến giao dịch phát hành sau khi được Bộ Thông tin và Truyền thông cấp giấy phép.
- Hồ sơ xin cấp phép văn phòng đại diện bao gồm: Đơn xin cấp phép (nêu rõ mục đích, nhiệm vụ, phạm vi hoạt động, trụ sở, người đứng đầu và cam kết tuân thủ pháp luật Việt Nam) và văn bản xác nhận tư cách pháp nhân của tổ chức nước ngoài do cơ quan có thẩm quyền nước sở tại cấp. Thời hạn giải quyết cấp phép là ba mươi ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ.
Xử lý vi phạm trong lĩnh vực phát hành xuất bản phẩm
Các hành vi vi phạm trong khâu lưu thông, phân phối xuất bản phẩm sẽ bị xử lý nghiêm ngặt:
- Các hành vi bị xử lý bao gồm: Phát hành xuất bản phẩm không hợp pháp (về xuất bản, in, nhập khẩu); phát hành không có hóa đơn, chứng từ chứng minh nguồn gốc; phát hành sản phẩm đã có quyết định đình chỉ, cấm lưu hành, thu hồi, tịch thu, tiêu hủy; bán xuất bản phẩm không kinh doanh; tiêu thụ trái phép sản phẩm in gia công cho nước ngoài tại Việt Nam; nhập khẩu không đăng ký danh mục hoặc sai danh mục; nhập khẩu sản phẩm có nội dung vi phạm điều cấm của Luật xuất bản.
- Hình thức xử lý: Cảnh cáo, phạt tiền, tạm đình chỉ hoặc đình chỉ phát hành; áp dụng biện pháp thu hồi, tịch thu, cấm lưu hành, tiêu hủy sản phẩm vi phạm; tạm đình chỉ hoặc tước giấy phép hoạt động nhập khẩu; bồi thường thiệt hại nếu có.
- Trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Khi cơ quan nhà nước quyết định thu hồi, tịch thu, cấm lưu hành, tiêu hủy xuất bản phẩm vi phạm, nhà xuất bản hoặc cơ sở nhập khẩu phải bồi thường thiệt hại cho cơ sở phát hành. Ngược lại, nếu cơ quan nhà nước ra quyết định thu hồi, tịch thu, cấm lưu hành, tiêu hủy sai gây thiệt hại thì cơ quan ra quyết định sai phải bồi thường cho nhà xuất bản, cơ sở phát hành hoặc cơ sở nhập khẩu theo quy định.
Thay đổi cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền
Luật thực hiện việc chuyển giao thẩm quyền quản lý nhà nước bằng cách thay thế toàn bộ cụm từ “Bộ Văn hóa - Thông tin” bằng cụm từ “Bộ Thông tin và Truyền thông” tại hàng loạt các điều khoản quan trọng của Luật xuất bản số 30/2004/QH11 (bao gồm các quy định về quản lý, cấp phép, thanh tra và xử lý vi phạm).
Hiệu lực thi hành
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật xuất bản năm 2008 chính thức có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2009.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| QUỐC HỘI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Luật số: 12/2008/QH12 | Hà Nội, ngày 03 tháng 6 năm 2008 |
LUẬT
SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT XUẤT BẢN
Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 51/2001/QH10;
Quốc hội ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật xuất bản số 30/2004/QH11.
Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật xuất bản
1. Điều 18 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 18. Đăng ký kế hoạch xuất bản
1. Trước khi xuất bản, nhà xuất bản phải đăng ký kế hoạch xuất bản với Bộ Thông tin và Truyền thông và phải được Bộ Thông tin và Truyền thông xác nhận bằng văn bản. Trong thời hạn mười ngày, kể từ ngày nhận được đăng ký kế hoạch xuất bản của nhà xuất bản, Bộ Thông tin và Truyền thông xác nhận bằng văn bản việc đăng ký kế hoạch xuất bản.
Bộ Thông tin và Truyền thông quy định mẫu đăng ký kế hoạch xuất bản.
2. Kế hoạch xuất bản của nhà xuất bản phải phù hợp với tôn chỉ, mục đích, chức năng, nhiệm vụ của nhà xuất bản và có giá trị thực hiện đến hết ngày 31 tháng 12 của năm kế hoạch.”
2. Điều 26 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 26. Thông tin ghi trên xuất bản phẩm
1. Trên sách và tài liệu dưới dạng sách (sau đây gọi chung là sách) phải ghi các thông tin sau:
a) Tên sách, tên tác giả, tên người chủ biên (nếu có), tên người dịch (nếu là sách dịch) hoặc tên người phiên âm (nếu là sách phiên âm từ chữ Nôm), tên người hiệu đính (nếu có); tên nhà xuất bản hoặc cơ quan, tổ chức được phép xuất bản, tên tổ chức, cá nhân liên kết xuất bản (nếu có); năm xuất bản, số thứ tự của tập, số lần tái bản; đối với sách dịch, phải ghi tên nguyên bản, tên tác giả, tên nhà xuất bản nước ngoài, năm xuất bản ở nước ngoài; nếu dịch từ ngôn ngữ khác với ngôn ngữ nguyên bản thì phải ghi rõ ngôn ngữ và tên người dịch bản đó;
b) Tên người chịu trách nhiệm xuất bản, tên người biên tập nội dung; khuôn khổ sách, số đăng ký kế hoạch xuất bản, số quyết định xuất bản của giám đốc nhà xuất bản hoặc số giấy phép xuất bản của cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản; tên người trình bày, minh họa, tên người biên tập kỹ thuật, tên người sửa bản in; số lượng in, tên cơ sở in, thời gian nộp lưu chiểu;
c) Đối với sách kinh doanh phải ghi giá bán lẻ; đối với sách do Nhà nước đặt hàng phải ghi là “sách Nhà nước đặt hàng”; đối với sách không kinh doanh phải ghi là “sách không bán”.
2. Trên xuất bản phẩm không phải là sách phải ghi các thông tin sau:
a) Tên xuất bản phẩm, tên nhà xuất bản hoặc cơ quan, tổ chức được phép xuất bản; tên tổ chức, cá nhân liên kết xuất bản (nếu có);
b) Số đăng ký kế hoạch xuất bản, số quyết định xuất bản của giám đốc nhà xuất bản hoặc số giấy phép xuất bản của cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản; số lượng in, tên cơ sở in;
c) Đối với xuất bản phẩm kinh doanh phải ghi giá bán lẻ; đối với xuất bản phẩm do Nhà nước đặt hàng phải ghi là “Nhà nước đặt hàng”; đối với xuất bản phẩm không kinh doanh phải ghi là “không bán”.
3. Chính phủ quy định những trường hợp đặc biệt không ghi tên tác giả, tên người dịch, tên người phiên âm, tên tổ chức, cá nhân liên kết xuất bản trên bìa một và vị trí ghi các thông tin quy định tại điểm b khoản 1 Điều này.
4. Giám đốc nhà xuất bản quyết định vị trí ghi các thông tin trên xuất bản phẩm, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này.”
3. Điều 30 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 30. Xử lý vi phạm trong lĩnh vực xuất bản
1. Tổ chức, cá nhân vi phạm quy định tại các
Đối với xuất bản phẩm có vi phạm thì bị tạm đình chỉ phát hành và tùy theo tính chất, mức độ vi phạm phải được sửa chữa mới được phát hành hoặc bị thu hồi, tịch thu, cấm lưu hành, tiêu hủy.
2. Tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản thì bị xử lý theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ.
3. Người có hành vi vi phạm mà hành vi đó đủ yếu tố cấu thành tội phạm thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật về hình sự.
4. Cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản phải chịu trách nhiệm về quyết định xử lý của mình.”
4. Điều 36 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 36. Xử lý vi phạm trong lĩnh vực in xuất bản phẩm
1. Tổ chức, cá nhân có hành vi sau đây thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị cảnh cáo hoặc phạt tiền, đình chỉ in xuất bản phẩm đang in và có thể bị áp dụng biện pháp tạm đình chỉ hoạt động in xuất bản phẩm, tước quyền sử dụng giấy phép hoạt động in xuất bản phẩm, tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm; trường hợp gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật:
a) In xuất bản phẩm mà không có giấy phép hoạt động in xuất bản phẩm;
b) In xuất bản phẩm mà không có quyết định xuất bản hoặc giấy phép xuất bản; in xuất bản phẩm không đúng với quyết định xuất bản hoặc giấy phép xuất bản;
c) In xuất bản phẩm gia công cho nước ngoài mà không có giấy phép in gia công;
d) In xuất bản phẩm đã có quyết định đình chỉ in, thu hồi, tịch thu, cấm lưu hành, tiêu huỷ;
đ) In xuất bản phẩm không đúng với bản thảo đã được nhà xuất bản, cơ quan, tổ chức được phép xuất bản ký duyệt; in xuất bản phẩm không có hợp đồng in hoặc in vượt quá số lượng ghi trong hợp đồng.
2. Tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực in xuất bản phẩm thì bị xử lý theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ.
3. Người có hành vi vi phạm mà hành vi đó đủ yếu tố cấu thành tội phạm thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật về hình sự.”
5. Điều 38 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 38. Cấp giấy phép hoạt động kinh doanh nhập khẩu xuất bản phẩm
1. Tổ chức, cá nhân trong nước, tổ chức, cá nhân nước ngoài được nhập khẩu xuất bản phẩm vào Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam và phù hợp với điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
2. Điều kiện cấp giấy phép hoạt động kinh doanh nhập khẩu xuất bản phẩm gồm:
a) Có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc giấy chứng nhận đầu tư;
b) Người đứng đầu cơ sở kinh doanh phải thường trú tại Việt Nam, có văn bằng và có chứng chỉ hành nghề về phát hành xuất bản phẩm do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp;
c) Trường hợp kinh doanh nhập khẩu sách, ngoài điều kiện quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều này, phải có đội ngũ nhân viên và cộng tác viên đủ năng lực thẩm định nội dung sách.
3. Hồ sơ xin cấp giấy phép gồm:
a) Đơn xin phép kinh doanh nhập khẩu xuất bản phẩm;
b) Danh sách nhân viên, cộng tác viên có hợp đồng lao động; bản sao hợp lệ giấy chứng nhận, văn bằng, chứng chỉ quy định tại khoản 2 Điều này.
4. Trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, Bộ Thông tin và Truyền thông phải cấp giấy phép; trường hợp không cấp giấy phép thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.
5. Chính phủ quy định cụ thể điều kiện cấp giấy phép kinh doanh nhập khẩu xuất bản phẩm quy định tại điểm b và điểm c khoản 2 và hồ sơ xin cấp giấy phép quy định tại khoản 3 Điều này.”
6. Điều 39 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 39. Nhập khẩu xuất bản phẩm để kinh doanh
1.Việc nhập khẩu xuất bản phẩm để kinh doanh được thực hiện thông qua cơ sở có giấy phép hoạt động kinh doanh nhập khẩu xuất bản phẩm.
2. Trước khi nhập khẩu, cơ sở nhập khẩu xuất bản phẩm để kinh doanh phải đăng ký danh mục xuất bản phẩm nhập khẩu với Bộ Thông tin và Truyền thông và phải được Bộ Thông tin và Truyền thông xác nhận bằng văn bản. Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được đăng ký danh mục xuất bản phẩm nhập khẩu của cơ sở nhập khẩu, Bộ Thông tin và Truyền thông xác nhận bằng văn bản việc đăng ký danh mục xuất bản phẩm nhập khẩu.
Bộ Thông tin và Truyền thông quy định mẫu đăng ký danh mục xuất bản phẩm nhập khẩu.
3. Xuất bản phẩm nhập khẩu phải phù hợp với quy định của Luật xuất bản và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Trường hợp phát hiện xuất bản phẩm có dấu hiệu vi phạm pháp luật Việt Nam, Bộ Thông tin và Truyền thông có quyền yêu cầu thẩm định nội dung xuất bản phẩm đó trước khi xác nhận đăng ký nhập khẩu hoặc khước từ xác nhận đăng ký nhập khẩu đối với xuất bản phẩm đó.
4. Người đứng đầu cơ sở nhập khẩu xuất bản phẩm để kinh doanh phải tổ chức thẩm định nội dung xuất bản phẩm nhập khẩu trước khi phát hành và chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung xuất bản phẩm nhập khẩu.”
7. Điều 43 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 43. Hợp tác với nước ngoài về phát hành xuất bản phẩm
1. Cơ sở phát hành xuất bản phẩm có tư cách pháp nhân của Việt Nam, của nước ngoài được hợp tác kinh doanh hoặc liên doanh để phát hành xuất bản phẩm tại Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam và phù hợp với điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
2. Tổ chức nước ngoài được thành lập văn phòng đại diện tại Việt Nam để giới thiệu về tổ chức và sản phẩm của mình, xúc tiến các giao dịch về phát hành xuất bản phẩm theo quy định của pháp luật Việt Nam và phải được Bộ Thông tin và Truyền thông cấp giấy phép.
3. Hồ sơ xin cấp giấy phép gồm:
a) Đơn xin cấp giấy phép hoạt động ghi mục đích, nhiệm vụ, phạm vi hoạt động, trụ sở, tên người đứng đầu văn phòng đại diện và cam kết thực hiện đúng các quy định của pháp luật Việt Nam;
b) Văn bản xác nhận tư cách pháp nhân của tổ chức xin thành lập văn phòng đại diện do cơ quan hoặc người có thẩm quyền của quốc gia hoặc vùng lãnh thổ nơi tổ chức đó đặt trụ sở chính cấp.
4. Trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, Bộ Thông tin và Truyền thông phải cấp giấy phép; trường hợp không cấp giấy phép thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.”
8. Điều 44 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 44. Xử lý vi phạm trong lĩnh vực phát hành xuất bản phẩm
1. Tổ chức, cá nhân có hành vi sau đây thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị cảnh cáo hoặc phạt tiền, tạm đình chỉ phát hành, đình chỉ phát hành xuất bản phẩm và có thể bị áp dụng các biện pháp thu hồi, tịch thu, cấm lưu hành, tiêu huỷ xuất bản phẩm có vi phạm, tạm đình chỉ hoạt động nhập khẩu xuất bản phẩm, tước quyền sử dụng giấy phép hoạt động nhập khẩu xuất bản phẩm; trường hợp gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật:
a) Phát hành xuất bản phẩm mà việc xuất bản, in, nhập khẩu không hợp pháp;
b) Phát hành xuất bản phẩm không có hoá đơn, chứng từ thể hiện nguồn gốc hợp pháp;
c) Phát hành xuất bản phẩm đã có quyết định đình chỉ in, cấm lưu hành, thu hồi, tịch thu, tiêu huỷ;
d) Bán xuất bản phẩm thuộc loại không kinh doanh;
đ) Tiêu thụ, phổ biến trái phép xuất bản phẩm in gia công cho nước ngoài trên lãnh thổ Việt Nam;
e) Nhập khẩu xuất bản phẩm không đăng ký danh mục nhập khẩu hoặc thực hiện không đúng danh mục đã đăng ký;
g) Nhập khẩu xuất bản phẩm có nội dung vi phạm Điều 3 và Điều 10 của Luật xuất bản.
2. Tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực phát hành xuất bản phẩm thì bị xử lý theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ.
3. Người có hành vi vi phạm mà hành vi đó đủ yếu tố cấu thành tội phạm thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật về hình sự.
4. Trường hợp cơ quan nhà nước quyết định thu hồi, tịch thu, cấm lưu hành, tiêu huỷ xuất bản phẩm có vi phạm thì nhà xuất bản hoặc cơ sở nhập khẩu xuất bản phẩm có xuất bản phẩm đó phải bồi thường thiệt hại cho cơ sở phát hành; trường hợp quyết định thu hồi, tịch thu, cấm lưu hành, tiêu hủy xuất bản phẩm sai mà gây thiệt hại thì cơ quan nhà nước có quyết định sai phải bồi thường theo quy định của pháp luật cho nhà xuất bản hoặc cơ sở phát hành, cơ sở nhập khẩu.”
Điều 2. Thay cụm từ “Bộ Văn hóa - Thông tin” bằng cụm từ “Bộ Thông tin và Truyền thông” tại khoản 2 Điều 7, khoản 3 Điều 13, khoản 1 và khoản 2 Điều 16, khoản 2 Điều 17, điểm a khoản 1 Điều 22, khoản 2 và khoản 3 Điều 23, khoản 1 và khoản 3 Điều 24, điểm a khoản 1 Điều 27, Điều 28, điểm a khoản 3 Điều 31, điểm c và điểm d khoản 1 Điều 32, khoản 1 và khoản 2 Điều 34, khoản 3 Điều 37 và điểm a khoản 1 Điều 42 của Luật xuất bản số 30/2004/QH11.
Điều 3. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2009.
Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 03 tháng 6 năm 2008.
| CHỦ TỊCH QUỐC HỘI |
- 1Hiến pháp năm 1992
- 2Nghị định 11/2009/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 111/2005/NĐ-CP Hướng dẫn Luật Xuất bản
- 3Thông tư 02/2010/TT-BTTTT hướng dẫn Quy định của Luật xuất bản, Luật sửa đổi Luật xuất bản, Nghị định 111/2005/NĐ-CP và Nghị định 11/2009/NĐ-CP do Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông ban hành
- 4Nghị định 02/2011/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động báo chí, xuất bản
- 5Quyết định 1205/2006/QĐ-UBND ban hành Quy chế quản lý, cung cấp và sử dụng Internet trên địa bàn tỉnh Bến Tre
Luật xuất bản sửa đổi 2008
- Số hiệu: 12/2008/QH12
- Loại văn bản: Luật
- Ngày ban hành: 03/06/2008
- Nơi ban hành: Quốc hội
- Người ký: Nguyễn Phú Trọng
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Từ số 509 đến số 510
- Ngày hiệu lực: 01/01/2009
- Ngày hết hiệu lực: 01/07/2013
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
