Luật Công ty sửa đổi 1994 được ban hành nhằm sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công ty năm 1990, tập trung vào việc cải cách thủ tục hành chính, phân cấp thẩm quyền quản lý nhà nước và hoàn thiện khung pháp lý liên quan đến hoạt động thành lập, đăng ký kinh doanh và giải quyết phá sản của doanh nghiệp.
Phạm vi và đối tượng áp dụng: Văn bản áp dụng đối với các sáng lập viên, các loại hình công ty hoạt động theo Luật Công ty, Ủy ban nhân dân và Ủy ban kế hoạch cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, cùng các cơ quan quản lý ngành kinh tế, kỹ thuật, cơ quan thuế, tài chính và thống kê có liên quan.
Các nội dung sửa đổi, bổ sung cốt lõi của văn bản bao gồm:
Quyền khiếu nại của người xin phép thành lập công ty
- Trong trường hợp người xin phép thành lập công ty bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền từ chối cấp giấy phép thành lập và nhận thấy quyết định từ chối đó là không thỏa đáng, họ có quyền khiếu nại trực tiếp lên Thủ tướng Chính phủ để được xem xét, giải quyết.
Cải cách thủ tục và hồ sơ đăng ký kinh doanh
- Thẩm quyền đăng ký kinh doanh được quy định cụ thể tại Ủy ban kế hoạch tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
- Hồ sơ đăng ký kinh doanh của công ty được đơn giản hóa và chuẩn hóa, bao gồm ba loại giấy tờ bắt buộc: giấy phép thành lập công ty, điều lệ công ty và các giấy tờ chứng thực hợp pháp về trụ sở giao dịch của công ty.
Cơ chế liên thông thông tin giữa các cơ quan quản lý nhà nước
- Nhằm tăng cường sự phối hợp và giám sát của nhà nước, trong thời hạn tối đa là bảy ngày kể từ ngày cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, Ủy ban kế hoạch có trách nhiệm gửi bản sao giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh kèm theo toàn bộ hồ sơ của công ty cho các cơ quan cùng cấp bao gồm: cơ quan thuế, cơ quan tài chính, cơ quan thống kê và các cơ quan quản lý ngành kinh tế, kỹ thuật trực tiếp.
Thủ tục thành lập chi nhánh và văn phòng đại diện
- Khi công ty có nhu cầu mở chi nhánh hoặc văn phòng đại diện tại địa phương khác, công ty phải thực hiện hai bước: xin phép Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi dự kiến đặt chi nhánh/văn phòng đại diện, sau đó tiến hành đăng ký kinh doanh tại Ủy ban kế hoạch cùng cấp theo đúng trình tự, thủ tục quy định.
Nghĩa vụ khai báo lại khi thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh
- Khi có bất kỳ sự thay đổi nào liên quan đến mục tiêu hoạt động, ngành nghề kinh doanh, vốn điều lệ hoặc các nội dung khác đã ghi nhận trong hồ sơ đăng ký kinh doanh ban đầu, công ty bắt buộc phải khai báo lại với Ủy ban kế hoạch nơi đã cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, đồng thời phải thực hiện việc đăng báo công khai theo quy định pháp luật.
Quy định về tình trạng phá sản của công ty
- Luật định nghĩa rõ ràng về tình trạng phá sản: Công ty lâm vào tình trạng phá sản là công ty gặp khó khăn hoặc bị thua lỗ trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, dù đã áp dụng các biện pháp tài chính cần thiết nhưng vẫn mất khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn.
- Quy trình, thủ tục và thẩm quyền giải quyết phá sản đối với công ty được thực hiện thống nhất theo các quy định của Luật phá sản doanh nghiệp.
Quy định kiểm soát việc công khai gọi vốn từ bên ngoài
- Đối với trường hợp công ty thực hiện công khai gọi vốn từ các tổ chức, cá nhân khác, sau khi nhận được giấy phép thành lập, các sáng lập viên có nghĩa vụ phải nộp cho Ủy ban kế hoạch nơi cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh các tài liệu gồm: bản dự thảo điều lệ công ty, danh sách đầy đủ các sáng lập viên kèm theo địa chỉ thường trú và nghề nghiệp cụ thể của họ.
Chuẩn hóa thuật ngữ pháp lý theo Hiến pháp mới
- Thực hiện việc thay đổi đồng bộ các thuật ngữ pháp lý trong toàn bộ văn bản: chuyển đổi cụm từ "Hội đồng bộ trưởng" thành "Chính phủ" và cụm từ "Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng" thành "Thủ tướng Chính phủ" để phù hợp với tổ chức bộ máy nhà nước theo Hiến pháp năm 1992.
Hiệu lực thi hành: Luật này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 1994. Tất cả các quy định trước đây trái với Luật này đều bị bãi bỏ. Chính phủ chịu trách nhiệm ban hành các văn bản sửa đổi, bổ sung các quy định chi tiết thi hành Luật công ty để bảo đảm tính đồng bộ và thống nhất với văn bản này.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| QUỐC HỘI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 35-L/CTN | Hà Nội, ngày 22 tháng 6 năm 1994 |
LUẬT
SỐ 35-L/CTN NGÀY 22/06/1994 CỦA QUỐC HỘI VỀ SỬA ĐỔI MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT CÔNG TY
Để tạo điều kiện thuận lợi cho việc đầu tư kinh doanh và nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước đối với các hoạt động kinh doanh;
Căn cứ vào Điều 84 của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1992;
Luật này sửa đổi một số điều của Luật công ty được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 21 tháng 12 năm 1990.
Điều 1: Sửa đổi một số điều của Luật công ty như sau :
1- Đoạn cuối
"Trong trường hợp người xin phép thành lập công ty thấy việc từ chối cấp giấy phép là không thoả đáng, thì có quyền khiếu nại lên Thủ tướng Chính phủ".
2- Đoạn đầu
"Công ty phải đăng ký kinh doanh tại Uỷ ban kế hoạch tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Hồ sơ đăng ký kinh doanh bao gồm: giấy phép thành lập, điều lệ công ty và giấy tờ chứng thực trụ sở giao dịch của công ty".
3- Đoạn cuối
"Trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, Uỷ ban kế hoạch phải gửi bản sao giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh kèm theo hồ sơ của công ty cho cơ quan thuế, tài chính, thống kê và các cơ quan quản lý ngành kinh tế, kỹ thuật cùng cấp".
4- Điểm 1
"1- Xin phép Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, nơi đặt chi nhánh hoặc văn phòng đại diện và đăng ký kinh doanh tại Uỷ ban kế hoạch cùng cấp như quy định tại các điều 14, 17 và 18 của Luật này;".
5-
"Điều 21
Khi thay đổi mục tiêu, ngành, nghề kinh doanh, vốn điều lệ và các nội dung khác trong hồ sơ đăng ký kinh doanh, công ty phải khai báo lại với Uỷ ban kế hoạch đã cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và phải đăng báo theo quy định tại Điều 19 của Luật này".
6-
"Điều 24
Công ty lâm vào tình trạng phá sản là công ty gặp khó khăn hoặc bị thua lỗ trong hoạt động kinh doanh, sau khi đã áp dụng các biện pháp tài chính cần thiết mà vẫn mất khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn.
Việc giải quyết phá sản công ty được thực hiện theo quy định của Luật phá sản doanh nghiệp".
7- Điểm 2
"2- Trong trường hợp công khai gọi vốn từ những người khác thì sau khi được cấp giấy phép thành lập, các sáng lập viên phải nộp tại Uỷ ban kế hoạch nơi cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh một bản dự thảo điều lệ, danh sách sáng lập viên, địa chỉ thường trú và nghề nghiệp của họ;".
Điều 2: Luật này có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 1994.
Những quy định trước đây trái với luật này đều bãi bỏ.
Chính phủ sửa đổi các văn bản quy định chi tiết thi hành Luật công ty cho phù hợp với Luật này.
Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá IX, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 22 tháng 6 năm 1994.
| Chủ tịch Quốc hội Nông Đức Mạnh (Đã ký) |
Luật Công ty sửa đổi 1994
- Số hiệu: 35-L/CTN
- Loại văn bản: Luật
- Ngày ban hành: 22/06/1994
- Nơi ban hành: Quốc hội
- Người ký: Nông Đức Mạnh
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 16
- Ngày hiệu lực: 01/07/1994
- Ngày hết hiệu lực: 01/01/2000
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
