Lệnh của Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về việc công bố Luật Di sản văn hóa được ban hành nhằm chính thức công bố Luật Di sản văn hóa số 28/2001/QH10 đã được Quốc hội khóa X thông qua ngày 29 tháng 6 năm 2001, thiết lập hành lang pháp lý toàn diện cho công tác quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc.
Văn bản xác định rõ phạm vi điều chỉnh bao gồm các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể; quy định quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân đối với di sản văn hóa. Đối tượng áp dụng của Luật là mọi cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi cá nhân Việt Nam; cùng các tổ chức, cá nhân nước ngoài hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam.
Quy định chung về di sản văn hóa và quyền sở hữuLuật khẳng định di sản văn hóa Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, là một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta. Nhà nước thực hiện thống nhất quản lý di sản văn hóa thuộc sở hữu toàn dân; bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu di sản văn hóa. Mọi di sản văn hóa ở trong lòng đất, dưới đáy biển thuộc vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đều thuộc sở hữu nhà nước.
Định nghĩa các khái niệm pháp lý cốt lõi- Di sản văn hóa phi vật thể: Là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng truyền khẩu, truyền nghề, trình diễn và các hình thức diễn xướng khác, bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền khẩu, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức về y, dược cổ truyền, về văn hóa ẩm thực, về trang phục truyền thống và những tri thức dân gian khác.
- Di sản văn hóa vật thể: Là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia.
- Di tích lịch sử - văn hóa: Là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học.
- Danh lam thắng cảnh: Là cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị thẩm mỹ, khoa học.
- Di vật: Là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học.
- Cổ vật: Là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa, khoa học, có từ năm mươi năm tuổi trở lên.
- Bảo vật quốc gia: Là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị đặc biệt quý hiếm tiêu biểu của đất nước về lịch sử, văn hóa, khoa học.
- Nhà nước có chính sách bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa nhằm nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; khuyến khích tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài đóng góp, tài trợ cho việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa.
- Nhà nước bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu di sản văn hóa. Chủ sở hữu di sản văn hóa có trách nhiệm bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa.
- Nghiêm cấm các hành vi chiếm đoạt, làm sai lệch di sản văn hóa; hủy hoại hoặc gây nguy cơ hủy hoại di sản văn hóa; đào bới trái phép địa điểm khảo cổ, xây dựng trái phép, lấn chiếm đất đai thuộc di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh; mua bán, trao đổi và vận chuyển trái phép di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh và di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia có nguồn gốc bất hợp pháp; lợi dụng việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa để thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật.
Lệnh công bố Luật Di sản văn hóa năm 2001 đặt nền móng pháp lý vững chắc, có hiệu lực thi hành đồng bộ với Luật Di sản văn hóa kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2002, đánh dấu bước tiến quan trọng trong sự nghiệp bảo tồn và phát triển văn hóa nước nhà.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| CHỦ TỊCH NƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 09/2001/L-CTN | Hà Nội , ngày 12 tháng 07 năm 2001 |
LỆNH
VỀ VIỆC CÔNG BỐ LUẬT
CHỦ TỊCH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Căn cứ vào Điều 103 và Điều 106 của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992;
Căn cứ vào Điều 78 của Luật Tổ chức Quốc hội;
Căn cứ vào Điều 50 của Luật Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật,
NAY CÔNG BỐ:
Luật Di sản văn hoá.
Đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khoá X, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29 tháng 06 năm 2001./.
|
| CHỦ TỊCH NƯỚC |
Lệnh công bố Luật Di sản văn hoá 2001
- Số hiệu: 09/2001/L-CTN
- Loại văn bản: Lệnh
- Ngày ban hành: 12/07/2001
- Nơi ban hành: Chủ tịch nước
- Người ký: Trần Đức Lương
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 34
- Ngày hiệu lực: 12/07/2001
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
