|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - QUẢNG NINH Bản án số: 97/2025/HS-ST Ngày: 16-12-2025 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Giang Thanh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Khắc Hoàn và ông Đàm Chí Thân
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lý - thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 - Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Mạnh Hoàng và ông Đỗ Văn D - Kiểm sát viên.
Ngày 16/12/2025, tại Phòng xử án - Tòa án nhân dân khu vực 2 - Quảng Ninh xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 83/2025/TLST-HS ngày 25/11/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 92/2025/QĐXXST-HS ngày 03/12/2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Thế B, sinh ngày 11/10/1973, tại tỉnh Quảng Ninh.
Nơi cư trú: Tổ C, khu H, phường H, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 5/12; dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thế G năm 1936 và bà Ngô Thị T (đã chết). Họ và tên vợ: Nguyễn Thị S năm 1980. Có 02 con: Con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2018. Tiền án: Ngày 31 tháng 3 năm 1998, bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xử phạt 10 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; ngày 01/2/2005, chấp hành xong hình phạt tù, đến ngày 30/7/2025 chưa thi hành xong phần dân sự của bản án. Tiền sự: Không. Bị cáo đầu thú ngày 30/7/2025; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” và “Tạm hoãn xuất cảnh”, thời hạn đến ngày 29/12/2025, có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1961. Nơi cư trú: Khu M, phường Đ, tỉnh Quảng Ninh, có mặt.
- Người làm chứng:
- Anh Phạm Văn H, sinh năm 1992. Nơi cư trú: Khu phố L, phường L, tỉnh Quảng Ninhvắng mặt (không lý do).
- Chị Phạm Thị T1, sinh năm 1963. Nơi cư trú: Khu M, phường Đ, tỉnh Quảng Ninhvắng mặt (không lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
2
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Thế B1 anh Nguyễn Văn D(trú tại khu M, phường Đ, tỉnh Quảng Ninhlà hai anh em ruột. Khoảng 16 giờ ngày 30/7/2025, B2 dọn cỏ trong vườn nhà mẹ đẻ là bà Ngô Thị T(đã chết) ở khu M, phường Đ, tỉnh Quảng NinhCùng lúc này, anh D(nhà ở sát cạnh vườn bà T kéo dây để bơm nước từ giếng trong vườn nhà bà T thì B3 cho, nhưng anh D1vẫn làm. Bchạy vào nhà bà T2 một con dao bằng kim loại màu đen, dài khoảng 40cm, có 01 lưỡi sắc, lưỡi dao dài 28cm, chém đứt dây bơm nước, dẫn đến Bvà anh D1xảy ra xô đẩy, cãi chửi nhau. Bdùng tay trái cầm con dao chém 1 nhát từ trên xuống dưới, anh D1giơ tay trái đỡ thì bị trúng vào tay trái. Btiếp tục chém thêm 01 nhát nữa thì trúng vào tay phải anh D1gây thương tích. Sau đó, B4 con dao vào chỗ cũ rồi bỏ về nhà ở tổ C, khu H, phường H, tỉnh Quảng NinhCùng ngày, chị Phạm Thị T1(vợ anh D1đến công an phường Đtrình báo và giao nộp con dao mà B5 để chém anh D1sau đó B6 đến công an phường Đ.
Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 458/KLTTCT-TTPY ngày 27/8/2025 của Trung tâm pháp y - Sở y tế tỉnh Q: Anh Nguyễn Văn D1 thương tích tổn hại 08% (tám phần trăm) sức khỏe, các tổn thương do vật sắc tác động trực tiếp gây nên.
Tại Bản kết luận giám định số 6543/KL-KTHS ngày 05/9/2025 của VBộ Ckết luận: 01 con dao bằng kim loại dạng 01 lưỡi sắc dài 40cm, phần lưỡi dài 28cm, bản rộng nhất 7cm gửi giám định là “dao sắc”, thuộc Phụ lục 5 “Danh mục dao có tính sát thương cao” theo Thông tư 75/2024/TT-BCA ngày 15/11/2024 của Bộ trưởng Bộ C định chi tiết một số điều của Luật quản lý vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ.
Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Thế B7 nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện như cáo trạng đã nêu. Sau khi gây thương tích cho anh D, Bđã tự nguyện bồi thường cho anh D1số tiền 200.000.000 đồng, anh D1có đơn không yêu cầu khởi tố vụ án đối với B2 hành vi cố ý gây thương tích. Đối với con dao đã thu giữ, đã cho bị cáo B1 anh Nguyễn Văn D nhận dạng, cả hai đều xác nhận con dao thu giữ chính là con dao mà B5 chém anh D1gây thương tích.
Lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn D Thừa nhận nguyên nhân mâu thuẫn giữa anh với bị cáo như bị cáo khai. Anh xác nhận bị cáo đã dùng dao chém anh 02 nhát bị thương ở tay trái và tay phải. Sau khi gây thương tích cho anh, bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho anh số tiền 200.000.000 đồng, anh không yêu cầu khởi tố vụ án đối với bị cáo về hành vi Cố ý gây thương tích (Bút lục 130-134).
Lời khai của những Người làm chứng:
3
Anh Phan Văn H1 quá trình điều tra khai: Khoảng 16 giờ 20 phút ngày 30/7/2025, anh đang ở nhà anh D1thì nghe thấy tiếng cãi nhau giữa anh D1và B ở bên sân nhà bà T(đã chết) là mẹ của hai anh. Khoảng 10 phút sau thì nghe thấy anh D1tri hô bị Bdùng dao chém, anh D1bỏ chạy về nhà, anh thấy anh D1bị thương ở 2 cánh tay, chảy máu, còn bị cáo B8 xe mô tô bỏ đi. Anh đứng cách vị trí xảy ra vụ việc khoảng 8 mét nên không nghe rõ được nội dung mâu thuẫn giữa 2 người (Bút lục 125-129).
Chị Phạm Thị T1(vợ anh D1trong quá trình điều tra khai: Khoảng 16 giờ hơn ngày 30/7/2025, chị đang ở trong nhà thì nghe thấy tiếng cãi nhau giữa anh D1và bị cáo B có liên quan đến việc tranh chấp sử dụng giếng ngước tại sân nhà bà T(mẹ chồng chị). Một lúc sau thì anh Dlhô hoán bỏ chạy về phía nhà anh D1chị thấy hai cánh tay của anh D1bị thương chảy máu. Chị chạy ra sân thì thấy bị cáo B9 một con dao, rồi bỏ đi đâu chị không biết. Sau đó, chị kéo anh D lên nhà và gọi mọi người sơ cứu cho anh D1sau đó chị đến Công an phường Đtrình báo, giao nộp con dao mà bị cáo B dùng để chém anh D(Bút lục số 122-124).
Bản Cáo trạng số 18/CT-VKSKV2 ngày 24/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Quảng Ninh đã truy tố bị cáo Nguyễn Thế B về tội: “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Quảng Ninh giữ nguyên cáo trạng truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 304; điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thế B từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù về tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”; thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 con dao bằng kim loại màu đen, dài khoảng 40cm, có 01 lưỡi sắc, lưỡi dao dài 28cm.
- Bị cáo; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không tranh luận
- Lời nói sau cùng: Bị cáo hối hận về hành vi của mình; bị cáo mong Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất để sớm trở về gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
4
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Quảng Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Những người làm chứng đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa; tuy nhiên đã có lời khai trong quá trình điều tra vụ án nên việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên căn cứ khoản 1 Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử
[3] Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thế B thừa nhận hành vi bị cáo thực hiện vào khoảng 16 giờ ngày 30/7/2025 như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo khai: Do mâu thuẫn giữa bị cáo và anh ruột của mình là Nguyễn Văn D1về việc sử dụng giếng nước, dẫn đến hai người cãi nhau, lời qua tiếng lại, bị cáo bức xúc đã dùng dao chém anh D 02 nhát rồi dừng lại; mục đích cảnh cáo anh D1Sau đó, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là sai trái nên đã ra đầu thú.
Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn D2 hợp với các tài liệu: Biên bản tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu (bút lục số 26); biên bản khám nghiệm hiện trường (bút lục số 29); sơ đồ hiện trường (bút lục số 43); kết luận giám định (bút lục số 54, 116); bản ảnh (bút lục số 49-51); biên bản thực nghiệm điều tra (bút lục số 47B, 48) và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án.. Bị cáo khẳng định cáo trạng truy tố đối với bị cáo là đúng; không oan, sai.
[4] Như vậy đủ cơ sở kết luận: Khoảng 16 giờ 20 phút ngày 30/7/2025, tại vườn nhà bà Ngô Thị T3 khu M, phường Đ, tỉnh Quảng Ninhdo mâu thuẫn trong sinh hoạt, Nguyễn Thế B10 có hành vi sử dụng một con dao sắc, có tính sát thương cao, thuộc danh mục vũ khí quân dụng chém anh Nguyễn Văn D3 thương tích tổn hại 08% sức khỏe.
[5] Bị cáo đã có hành vi sử dụng “dao sắc” thuộc Phụ lục 5 Thông tư 75/2024/TT-BCA chém anh Nguyễn Văn D3 thương tích, tổn hại 08% cơ thể; vì vậy, con dao do bị cáo sử dụng là vũ khí quân dụng theo quy định tại điểm d khoản 2 và khoản 6 Điều 2 Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ.
Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ quy định:
“Điều 2: Giải thích từ ngữ:
...
2. Vũ khí quân dụng bao gồm: ...
d) Súng săn, vũ khí quy định tại điểm a khoản 4, vũ khí quy định tại điểm a khoản 5 và dao có tính sát thương cao quy định tại khoản 6 Điều này sử dụng với mục đích xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người trái pháp luật; ...”
...
5
6. Dao có tính sát thương cao là dao sắc, dao nhọn thuộc danh mục do Bộ trưởng Bộ C1 hành.
...”;
Nên hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”, theo quy định lại khoản 1 Điều 304 Bộ luật hình sự; có mức hình phạt tù từ 01 năm đến 07 năm, như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2- Quảng Ninh đã truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội; không oan, sai.
[6] Đối với việc bị cáo B5 dao chém anh D1thương tích 08%, do anh D1có đơn đề nghị không yêu cầu khởi tố vụ án đối với bị cáo về hành vi “Cố ý gây thương tích”. Công an phường Đ đã xử phạt hành chính đối với bị cáo về hành vi này là phù hợp, nên không đề cập xử lý về trách nhiệm hình sự và trách nhiệm dân sự của bị cáo đối với hành vi này.
[7] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến an toàn công cộng là khách thể được pháp luật nhà nước ta bảo vệ. Chỉ vì mâu thuẫn trong sinh hoạt, bị cáo đã có hành vi cố ý dùng dao sắc gây thương tích cho người khác để thỏa mãn sự bực tức của mình; thể hiện bị cáo là đối tượng hung hãn. Hành vi của bị cáo cần xử nghiêm, nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[8] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo đầu thú; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có bố là người có công trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước; bị cáo và Người cơ quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (anh Nguyễn Văn D4 quan hệ anh em ruột, đã giải quyết được mâu thuẫn, bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đối với việc bị cáo đã bồi thường cho anh D1tiền thiệt hại về sức khỏe là 200.000.000 đồng; tuy nhiên, do không xem xét trách nhiệm hình sự của bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” nên không xác định đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình đối với tội: “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”
[9] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có tiền án, chưa được xóa án tích (chưa thi hành xong phần dân sự của bản án) nên phải chịu tình tiết tăng nặng “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
[10] Về xử lý vật chứng: 01 con dao bằng kim loại màu đen, dài khoảng 40cm, có 01 lưỡi sắc, lưỡi dao dài 28cm thu giữ của bị cáo, là công cụ phạm tội, không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.
[11] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[12] Về quyền kháng cáo: Bị cáo; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.
6
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thế B 12 (mười hai) tháng tù, về tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”; thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01(một) con dao bằng kim loại tối màu, dài khoảng 40cm có 01 cạnh sắc, tối màu, loại dao 1 lưỡi, cán dao bằng kim loại, có hình trụ tròn, lưỡi dao dài khoảng 28cm, theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 26/THADS-KV2 ngày 03/12/2025 của Phòng thi hành án Dân sự khu vực 2 - Quảng Ninh.
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết quy định về án phí, lệ phí tòa án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội;
Bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.
Căn cứ vào khoản 1, 4 Điều 331; khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Bị cáo; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Thị Giang Thanh |
7
Bản án số 97/2025/HS-ST ngày 16/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - QUẢNG NINH về vụ án hình sự về tội "sử dụng trái phép vũ khí quân dụng"
- Số bản án: 97/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội "Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng"
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thế B phạm tội "Sử dụng vũ khí quân dụng"
