Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 966/2025/DS-PT

Ngày: 12/12/2025

V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

 

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Bà Trần Thị Liên Anh

Các Thẩm phán:

Ông Đỗ Minh Hoàng

Ông Phan Quyết Thắng

Thư ký phiên tòa:

Bà Trịnh Phạm Phương Thảo, Thư ký Tòa án

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội:

Bà Nguyễn Bách Thiện Linh, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 12 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 758/2025/TLPT-DS ngày 13/11/2025 về việc “Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm 189/2025/DS-ST ngày 29/8/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 7 – Hà Nội bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 912/2025/QĐ-PT ngày 26/11/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 821/2025/QĐPT-HPT ngày 05/12/2025 của Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Đỗ Thị T, sinh năm 1965

Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, Thành phố Hà Nội.

Bị đơn: chị Lê Thị Kim L (tức T1), sinh năm 1987.

Địa chỉ: Thôn G, xã T, Thành phố Hà Nội.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chị Lê Thị Kim L: ông Bùi Mạnh H – Luật sư Văn phòng L1 thuộc Đoàn luật sư Thành phố H.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  • - Ông Lê Văn T2, sinh năm 1965.
  • Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, Thành phố Hà Nội.

  • - Anh Trần Đại H1, sinh năm 1982
  • - Ông Lê Quang H2, sinh năm 1960
  • - Bà Đỗ Thị M, sinh năm 1962
  • Cùng trú tại: Thôn G, xã T, Thành phố Hà Nội.

Do có kháng cáo của bà Đỗ Thị T là nguyên đơn, chị Lê Thị Kim L là bị đơn, bà Đỗ Thị M là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo án sơ thẩm vụ án có nội dung như sau:

+ Nguyên đơn bà Đỗ Thị T trình bày:

Bà có quan hệ họ hàng với gia đình chị Lê Thị Kim L (tên thường gọi ở nhà là T1).

Năm 2010, gia đình bà mở rộng sản xuất đồ gỗ và sản xuất sơn PU nên rất cần vốn, bà có nhờ ông H2 và bà M là anh rể và chị gái bà dùng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình ông H2, bà M tại thôn G, xã L, Đ, Hà Nội để thế chấp vay một khoản tiền tại Ngân hàng TMCP K.

Tổng số tiền bà vay được tại Ngân hàng là 690.000.000 đồng tiền nợ gốc theo hai hợp đồng tín dụng.

Khi bà nhờ sổ đỏ của gia đình ông H2 bà M, cháu Lê Thị Kim L là (con gái ruột của ông H2 bà M) có nói với bà, D vay được tiền thì cho cháu vay cùng vào sổ của nhà cháu 125.000.000đ để mua nguyên liệu làm hoa lụa, và lúc nào cháu cần vay thêm tiền thì D phải cho cháu vay cháu mới ký bảo lãnh cho D, cháu sẽ có trách nhiệm trả gốc, lãi đầy đủ theo quy định của ngân hàng, D cứ yên tâm. Sau đó bà nói với ông H2, bà M như vậy thì ông H2 có nói với bà lúc nào cháu L cần tiền mua đất hoặc kinh doanh thì anh cho cháu vay trong sổ đỏ này, và anh chị cần tiền thì D đưa tiền cho anh vay cùng, vì vậy bà đã cho chị L vay các khoản như sau:

  1. Ngày 09/8/2010 ngân hàng cho bà vay 190.000.000đ thời hạn 12 tháng, nhận được tiền ngân hàng xong bà gọi L vào nhà bà lấy tiền, lần đầu L lấy 125.000.000đ ở món 190.000.000đ, thời hạn 12 tháng. Tiền lãi trả hàng tháng theo quy định của ngân hàng. Việc chị L hỏi nhờ vay cùng trong ngân hàng với bà đều không có giấy tờ gì, sau này chị L có viết giấy vay nợ cho bà bao gồm cả các khoản vay khác cộng dồn thành tổng là 452.000.000 đồng mà tôi đã nộp giấy cho Tòa án.
  2. Ngày 10/8/2010 L vào nhà bà lấy 10.000.000đ nữa, món này L nói vay hộ chú Đ, chú Đ là em trai ông H2, T1 nói chú Đ vay nóng 02 tháng, lãi suất vay ngân hàng tại thời điểm giải ngân 18%/năm + cả chi phí vào 20%/năm đối với lãi suất trong hạn, lãi suất quá hạn = 150% lãi vay, T1 và bà cùng viết giấy vay nợ món này. Đối với khoản vay này chị L chưa trả cho tôi được đồng tiền nợ gốc và lãi nào.
  3. Vài ngày sau T1 vào nhà bà lấy 10.000.000₫ nữa,T1 nói ông Lê Quang H2 là (bố ruột L) vay món này và T1 là người viết giấy tên ông Lê Quang H2 vay. Sau một thời gian bà nói với chị M là T1 vay hộ anh H2 10 triệu, chị M nói ông H2 không vay, toàn T1 dùng hết. Khoản vay này thì bà không có giấy tờ gì, sau này chị L có viết giấy vay nợ cho bà bao gồm cả các khoản vay khác cộng dồn thành tổng là 452.000.000 đồng mà tôi đã nộp giấy vay cho Tòa án.

Quá trình giữa bà và chị L có rất nhiều các khoản nhỏ khác mà sau khi thanh toán xong thì bà sẽ trả lại giấy cho chị L giữ và bà đã trình bày cụ thể trong đơn khởi kiện, đến ngày 29/2/2012 thì hai bên có chốt lại số tiền bà còn nợ tại ngân hàng là 452.000.000 đồng, chị L có nhờ cho chị L vay lại số tiền này sau đó chị L sẽ chịu trách nhiệm thanh toán gốc lãi cho ngân hàng nên bà đồng ý và đã đưa đủ cho chị L số tiền 452.000.000 đồng, chị L đã kí vào bên đại diện bên sử dụng tiền, bà có yêu cầu bà M, ông H2 cùng kí vào nhưng chị L nói là để hôm khác bố mẹ cháu kí nhưng sau này bà M, ông H2 không kí. Tuy nhiên sau khi nhận tiền xong thì chị L không thực hiện trả gốc và lãi cho ngân hàng và tiếp tục nhờ bà vay lãi bên ngoài để trả hộ cho chị L, số tiền bà trả hộ cho chị L từ 29/2/2012 đến 29/4/2013 tổng cộng là 157.687.239 đồng. Đến nay

chị L vẫn chưa trả cho bà được đồng tiền nợ gốc và lãi nào, việc bà trả nợ thay cho chị L thì không có giấy tờ gì.

Bà xác định số tiền 452.000.000 đồng này là bà chỉ đưa tiền cho chị L cầm nhưng anh H1 chồng chị L có biết việc này, bà M và ông H2 cũng không biết việc này.

Sau này khi Ngân hàng khởi kiện bà ra Tòa án và Tòa án đã ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, sau khi quyết định có hiệu lực bà đã trả thay cho chị L được hai tháng, mỗi tháng 5.000.000 đồng, tổng cộng là 10.000.000 đồng (việc bà trả nợ thay này thì không có giấy tờ gì), ngoài ra bà còn phải trả nợ thay cho chị L tiền án phí là 13.360.603 đồng.

Nay bà khởi kiện đề nghị Tòa án buộc chị L:

  1. Khoản vay tiền nợ gốc là 10.000.000 đồng vào ngày 10/8/2010, tính đến ngày 9/3/2023 còn nợ cả gốc và lãi là 48.090.000 đồng;
  2. Số tiền bà T trả góp gốc và lãi hàng tháng (29/2/2012 đến 29/4/2013) vào Ngân hàng Thương mại cổ phần K thay cho bà L là: 659.789.566 đồng trong đó:
    • + Nợ gốc: 157.687.239 đồng;
    • + Nợ lãi trong hạn: 2.628.000 đồng;
    • + Nợ lãi quá hạn: 499.474.000 đồng.

    Đối với khoản này bà sẽ tính lại và trình bày cụ thể lại cách tính cho Tòa án sau.

  3. Số tiền bà T vay hộ bà L để trả vào Ngân hàng Thương mại cổ phần K tháng 6 và tháng 7 năm 2015 cả gốc và lãi là 25.550.000 đồng.
  4. Tiền án phí do bà L vi phạm nghĩa vụ trả nợ dẫn đến Ngân hàng khởi kiện là 13.360.603 đồng và tiền lãi là 20%/năm.

Ngoài ra bà L còn phải chịu tiền lãi chậm trả đối với các khoản nợ trên cho đến khi trả hết các khoản nợ.

Riêng món L vay gốc ban đầu 452.000.000 đồng ngày 29/02/2012 đến nay buộc chị Lê Thị Kim L phải thực hiện đúng cam kết theo giấy nhận nợ và Cam kết trả nợ giữa chị L với bà bằng việc chị L chuyển khoản nợ này vào khế ước nhận nợ và cam kết trả nợ ngày 29/7/2010 giữa ngân hàng T3 với vợ chồng bà ở phần BÊN CHUYỀN NHƯỢNG và BÊN NHẬN CHUYỂN NHƯỢNG Cụ thể tiền còn nợ ngân hàng tính từ ngày 01/5/2013 đến ngày 18/5/2015 Tổng cộng: = 563.748.860 đồng sau đó bà đã trả vào ngân hàng T3 2 tháng theo quyết định của Tòa án Đông Anh ngày 29/5/2015 số tiền là 10.000.000đ vậy còn nợ ngân hàng từ tháng 8/2015 chở đi là 553.748.860 đồng và tiền chậm thi hành án bao nhiêu theo quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự do Tòa án nhân dân huyện Đông Anh giải quyết ngày 29/5/2015 L phải hoàn toàn chịu trách nhiệm thanh toán với ngân hàng T3. Theo giấy nhận nợ và Cam kết trả nợ với bà ngày 29/02/2012.

* Tại biên bản hoà giải ngày 25/7/2025 bà T sửa đổi yêu cầu khởi kiện cụ thể như sau:

  1. Đối với khoản tiền 10 triệu đồng:
  2. L nói vay hộ ông Đ (em trai ông H2) chính là khoản vay 10 triệu đồng L đã viết giấy vay của bà ngày 10/8/2010. Nội dung: "Ngày 10/8/2010 nhận D Tuyên 10.000.000 Tr gốc. Lãi suất 20%/năm (vay 2 tháng). Lãi quá hạn = 150% lãi trong hạn. Ký tên: Thắm"

    Thực tế khoản vay này là chị L hỏi vay và trực tiếp nhận tiền của bà, chị L nói là vay hộ ông Đ, nhưng thực tế ông Đ không hỏi vay bà và bà cũng không giao tiền cho ông Đ.

    Khi viết giấy này thì chị L chỉ viết "Ngày 10/8/2010 nhận D Tuyên 10.000.000 Tv gốc và ký tên, sau đó bà có nói L phải viết thêm lãi suất, nhưng L nói dì cứ viết vào, nên bà đã viết thêm "Lãi suất 20%/năm (vay 2 tháng). Lãi quá hạn = 150% lãi trong hạn".

    Quá trình giải quyết chị L đã xuất trình một tài liệu foto có nội dung phần đầu “T1 vay món 10.000.000d Ngân hang T3 từ 9/8/11 DL. Lãi lúc đầu 2% Thì đến 9-11 chở đi Ngân hàng tăng lãi, cả chi phí = 2,52% tháng", cuối trang có dòng chữ "ngày 9-11-11 T1 trả dì Tuyên tiền 14.338.000đ. Ký tên T - Đỗ Thị T". Khoản vay trong tài liệu này là khoản tiền chị L vay của bà hộ cho ông H2 (bố chị L) vào ngày 20/8/2010, chị L đã viết giấy nhận nợ và cam kết trả nợ bên vay nợ là ông Lê Quang H2 và bà Đỗ Thị M (bố mẹ đẻ chị L), bên cho vay là ông Lê Văn T2 (chồng bà), tuy nhiên phần cuối của giấy nhận nợ thì người cho vay là bà ký và bên nhân nợ là chị L ký, thực tế bà là người trực tiếp giao tiền cho chị L, ông H2 và bà M không hỏi vay tiền của bà và cũng không nhận tiền của bà.

    Khoản vay này không phải khoản vay 10.000.000 đồng mà hiện nay bà đang khởi kiện đòi chị L, khoản vay này giữa bà và chị L đã thanh toán với nhau xong từ khoảng tháng 11/2011, không có liên quan đến các khoản vay bà khởi kiện đòi đối với chị L. Chị L nói rằng tài liệu này là tài liệu chị L chứng minh việc đã trả bà số tiền 10.000.000 đồng mà bà đang khởi kiện đòi là hoàn toàn không đúng. Bà đề nghị chị L cung cấp ra tài liệu trên bản gốc và bà không giữ tài liệu này như chị L nói.

    Đối với khoản này bà yêu cầu chị L phải trả cho bà như sau:

    • Nợ gốc: 10.000.000 đồng;
    • Nợ lãi trong hạn hai tháng: 407.000 đồng.
    • Nợ lãi quá hạn tạm tính đến ngày 24/7/2025: 54.140.000 đồng.
    • Tổng cộng: 64.610.000 đồng.
  3. Đối với số tiền 452.000.000 đồng:
  4. Ngày 29/2/2012 bà và chị L có viết giấy với nội dung chị L nhận nợ với bà số tiền 452.000.000 đồng, thực chất số tiền này là chị L nhờ bà vay tại Ngân hàng K và nói chị L sẽ chịu trách nhiệm thanh toán gốc lãi cho ngân hàng nên bà đồng ý và đã đưa đủ cho chị L số tiền 452.000.000 đồng, chị L đã kí vào bên đại diện bên sử dụng tiền, bà có yêu cầu bà M, ông H2 cùng kí vào nhưng chị L nói là để hôm khác bố mẹ cháu kí nhưng sau này bà M, ông H2 không kí. Tuy nhiên sau khi nhận tiền xong thì chị L không thực hiện trả gốc và lãi cho ngân hàng và tiếp tục nhờ bà vay lãi bên ngoài để trả hộ cho chị L. Đến nay chị L vẫn chưa trả cho bà được đồng tiền nợ gốc và lãi nào, việc bà trả nợ thay cho chị L thì không có giấy tờ gì.

    Bà xác định số tiền 452.000.000 đồng này là bà chỉ đưa tiền cho chị L cầm nhưng anh H1 chồng chị L có biết việc này, bà M và ông H2 cũng không biết việc này.

    Đối với khoản này bà yêu cầu chị L phải trả cho bà như sau:

    • Nợ gốc: 452.000.000 đồng;
    • Nợ lãi quá hạn tạm tính đến ngày 24/7/2025: 1.965.189.780 đồng. (Toàn bộ khoản nợ nêu trên của chị L bà tính lãi quá hạn toàn bộ do theo quy định của ngân hàng là lãi trong hạn 21,33%/năm, lãi quá hạn bằng 150% lãi trong hạn nên mức lãi chị L phải chịu theo quy định của ngân hàng là 31.99%/năm, chị L phải chịu mức lãi suất theo quy định của ngân hàng là do chị L nhờ bà vay tại ngân hàng thì phải thực hiện theo quy định của ngân hàng).
    • Tổng cộng: 2.417.189.780 đồng.

3. Quá trình giải quyết vụ án bà đã có yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết trong giấy vay tiền ngày 29/02/2012 và giấy vay tiền ngày 10/8/2010 và tài liệu chị L nộp chứng minh đã trả bà 10.000.000 đồng, thì nay bà xin rút toàn bộ các yêu cầu giám định này. Nếu chị L đưa ra tài liệu chứng minh thì đề nghị chị L phải đưa ra bản gốc để Toà án xem xét.

4. Toàn bộ số tiền nợ hiện nay bà đang khởi kiện đòi nợ đối với chị L tại Tòa án là khoản vay của cá nhân giữa tôi và chị L, không có liên quan gì đến Ngân hàng T3.

5. Bà xác định khoản nợ này là cả bà và chồng bà là ông T2 cùng cho chị L vay và là khoản cho vay chung của hai vợ chồng.

6. Ngoài 2 yêu cầu khởi kiện về số tiền nợ nêu trên, bà xin rút tất cả những yêu cầu khác mà trước đây bà đã ghi trong đơn khởi kiện.uyHuy

+ Bị đơn chị Lê Thị Kim L trình bày:

Chị có quan hệ họ hàng với bà T. Việc bà T vay nợ tại Ngân hàng chị không biết và không có việc chị nhờ bà T vay hộ chị tiền trong Ngân hàng. Chị không vay số tiền 125.000.000 đồng của bà T, những lời trình bày của bà T là hoàn toàn sai sự thật.

Chị xác nhận có vay số tiền 10.00.000 đồng của bà T nhưng chị đã trả đủ gốc và lãi rồi vào ngày 09/11/2011 theo giấy có chữ viết nhận tiền của bà T mà chị chỉ còn giữ bản foto, bản gốc bà T giữ. Giấy vay ngày 10/8/2010 do bà T giao nộp cho Tòa án đúng là chữ kí của chị, chị có kí chữ “T1” là tên thường gọi của chị ở nhà và có viết dòng đầu là “Ngày 10/8/2010 nhận D Tuyên 10.000.000 tr gốc” nhưng nội dung còn lại trong giấy không phải chữ của chị. Chị không vay số tiền 10.000.000 đồng này của bà T.

Giấy vay tiền số tiền 452.000.000 đồng do bà T giao nộp cho Tòa án không phải là chữ kí của chị. Chị không nhờ bà T vay hộ tiền trong Ngân hàng, các lời trình bày của bà T đều không đúng sự thật. Chị đề nghị Tòa án tiến hành giám định chữ kí và chữ viết của chị trong giấy vay tiền này.

Chị không đồng ý với các yêu cầu của bà T, chị xác định chị không còn nợ bà T số tiền nào.

Ngày 17/12/2024 chị L có ý kiến: Tại biên bản đối chất ngày 07/10/2024 chị có ý kiến yêu cầu Toà án tiến hành giám định chữ ký, chữ viết của chị trong giấy vay tiền số tiền 452 triệu đồng do bà T giao nộp cho Toà án do không phải là chữ ký của chị. Tuy nhiên nay chị xin rút yêu cầu về việc đề nghị giám định các chữ ký, chữ viết này, chị không yêu cầu Toà án giám định chữ ký, chữ viết của chị trong giấy vay số tiền 452 triệu đồng do bà T nộp, chị khẳng định các chữ ký, chữ viết này không phải của chị.

Ngày 15/4/2025 chị L có đơn đề nghị giám định chữ viết, chữ ký trong 02 văn bản là « Giấy nhận nợ và cam kết trả nợ lập ngày 29/2/12 DL » và tài liệu có tiêu đề « T1 vay món 10.000.000đ Ngân hàng T3 từ 9/8/11DL ... cuối văn bản có ghi: ngày 9-11-11 T1 trả bà T tiền – 14.338.000 đ và có chữ ký của bà T.

* Tại biên bản hoà giải ngày 25/7/2025 chị L và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chị L trình bày:

  • - Đối với khoản vay 10 triệu đồng do bà T trình bày là chị L đã viết giấy vay ngày 10/8/2010. Nội dung: "Ngày 10/8/2010 nhận D Tuyên 10.000.000 Tv gốc. Lãi suất 20%/năm (vay 2 tháng). Lãi quá hạn = 150% lãi trong hạn thì chị L đã trả hết nợ bao gồm cả gốc và lãi từ lâu rồi. Việc chị L trả hết số nợ này thể hiện theo giấy viết tay ngày 9/11/2011 có ghi rõ nội dung “Ngày 9/11/2011 T1 trả dì Tuyên tiền 11.338.000 đồng” mà chị L đã giao nộp cho Tòa án, tuy nhiên chỉ có bản foto do bản gốc bà T đã giữ, đề nghị Tòa án yêu cầu bà T giao nộp bản gốc đối với giấy tờ này. Chị L có yêu cầu giám định chữ kí của bà T trong giấy viết ngày 9/11/2011 này tuy nhiên hiện nay bản gốc đang do bà T giữ nên chị L không có tài liệu giao nộp cho Tòa án để giám định được.
  • - Đối với khoản vay số tiền nợ gốc 452.000.000 đồng, theo giấy viết tay ngày 29/2/2012 do bà T giao nộp và bà T có nói là chị L nhờ bà T vay hộ thì chị L có ý kiến như sau: Về việc này bà T có văn bản giấy tờ chứng minh việc chị L nhờ bà T vay hộ chị L không. Về phía bà L thì bà L khẳng định không nhờ và không vay của bà T số tiền này. Giấy nhận nợ ngày 29/2/2012 do bà T giao nộp thì tôi khẳng định nội dung của văn bản không phải là văn bản thể hiện nội dung hai bên cho nhau vay tiền vì nhắc đến rất nhiều nội dung khác nhau có cả nội dung liên quan đến việc đưa cho bà T giữ sổ đỏ mà thời điểm này sổ đỏ đang nằm trong Ngân hàng nên văn bản này không có thật.
  • - Đối với các chữ ký “Thắm” và “Lê Thị Kim L” trong giấy viết tay ngày 10/8/2010 và 29/2/12 DL thì chị L khẳng định không phải là chữ ký và chữ viết của chị L và không đề nghị Tòa án giám định chữ ký, chữ viết.
  • - Chị L khẳng định chồng chị L là anh Trần Đại H1 hoàn toàn không liên quan gì đến các khoản vay nợ giữa chị L và bà T.

Do đó chị L không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà T.

Ngoài ra chị L không có ý kiến gì khác.

+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đỗ Thị M trình bày:

Bà xác nhận vợ chồng bà có cho bà T mượn Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để bà T thế chấp vay Ngân hàng tiền, sau này bà T không trả được nợ cho Ngân hàng và Ngân hàng đã khởi kiện ra Tòa án và được Tòa án nhân dân huyện Đông Anh giải quyết theo Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 14/2015/QÐST-DS ngày 29/5/2015. Nay bà yêu cầu bà T thực hiện đúng theo quyết định công nhận sự thỏa thuận của Tòa án, việc vay nợ giữa bà T và Ngân hàng thì hoàn toàn không liên quan gì đến chị L.

Theo giấy nhận nợ và cam kết trả nợ ngày 29/2/12 (DL) do bà T giao nộp thì vợ chồng bà không hề biết, trong văn bản này tuy có ghi tên vợ chồng tôi nhưng không có chữ ký của vợ chồng bà do đó văn bản này không có giá trị pháp lý với vợ chồng bà. Về nội dung của văn bản này có nhắc đến sổ đỏ đứng

tên ông H2 chồng bà tuy nhiên sổ đỏ này bà T đã mượn riêng của gia đình bà (có giấy mượn sổ đỏ của bà T) để thế chấp vay tiền Ngân hàng để bà T sử dụng riêng không liên quan đến giấy này, không liên quan gì đến chị L. Do đó đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T.

+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Quang H2 trình bày:

Ông là chồng bà Vũ Thị M1. Theo các tài liệu chứng cứ do bà T giao nộp cho Toà án, ông thấy số tiền 10 triệu đồng bà T cho chị L vay, chị L đã trả đủ cả gốc và lãi 3.000đ/triệu/ngày cho bà T từ năm 2010 xong.

Với số tiền bà T đòi 452 triệu đồng đối với chị L, mặc dù trong giấy có ghi tên ông và bà M1, giấy này ông không ký tên.

Về sổ đỏ đứng tên ông đại diện hộ gia đình bà T đã lừa mượn của chúng tôi để thế chấp cho Ngân hàng T3 để bà T vay tiền Ngân hàng. Số tiền bà T cùng chồng bà T là ông T2 chi tiêu cho ông bà ấy, gia đình ông không được hưởng một nghìn nào. Bà T mượn sổ đỏ của gia đình ông để vay tiền, có viết giấy mượn sổ đỏ với gia đình ông.

Theo giấy của bà T cung cấp làm căn cứ để đòi nợ chị L, nội dung giấy thể hiện chị L có nhờ bà T vay tiền hộ, nhưng bà T không có giấy tờ chứng minh việc chị L nhờ bà T vay Ngân hàng.

Vì vậy giấy bà T yêu cầu chị L trả nợ 452 triệu đồng, cả gốc và lãi khoảng 2 tỷ đồng, thì ông thấy rằng đây không phải văn bản cho nhau vay tiền và nợ tiền giữa hai bên.

Vì vậy đề nghị Toà án căn cứ các quy định của pháp luật bác yêu cầu khởi kiện đối với bà T.

Hiện nay ông đang bị bệnh nặng không đi lại được nên ông xin được vắng mặt trong quá trình Toà án giải quyết và tại phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án.

+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Trần Đại H1 trình bày:

Về việc vay tiền là không có thật. Anh không có vay mượn tiền nong gì với bà Đỗ Thị T. Đề nghị Toà án xem xét lại việc bà tuyên vu khống cho anh vay tiền là không đúng sự thật, nếu bà T khởi kiện sai bà T phải chịu trách nhiệm trước pháp luật.

+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn T2 trình bày:

Ông là chồng bà Đỗ Thị T. Tất cả mọi giấy tờ có liên quan đến vụ án mà bà Đỗ Thị T đã gửi cho Toà án và ý kiến của vợ ông cũng là ý kiến của ông. Ông không thắc mắc gì. Đề nghị Toà án xem xét giải quyết vụ án theo quy đinh của pháp luật.

Hiện nay do công việc của ông rất bận, nên ông không thể trực tiếp tham gia vụ án được. Vì vậy ông đề nghị được vắng mặt trong tất cả các buổi làm việc của Toà án và xin được vắng mặt trong tất cả các phiên xét xử của Toà án.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm 189/2025/DS-ST ngày 29/8/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 7 – Hà Nội đã quyết định:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản” của bà Đỗ Thị T đối với chị Lê Thị Kim L (tức T1).
  2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị T đối với chị Lê Thị Kim L (tức T1) đối với khoản tiền nợ lãi vượt quá quy định của pháp luật là 1.194.925.870 đồng.
  3. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị T đối với chị Lê Thị Kim L (tức T1) đối với các yêu cầu buộc chị L phải trả các khoản tiền cụ thể:
    • - Số tiền bà T đã trả gốc góp và lãi hàng tháng vào Ngân hàng T3 từ ngày 29/02/2012 đến ngày 30/4/2013 là 157.687.239 đồng và số tiền lãi của số tiền 157.687.239 đồng bà T phải đi vay bên ngoài tính từ ngày 29/02/2012 đến ngày 28/3/2023, tổng cộng là 659.789.566 đồng.
    • - Số tiền 10.000.000 đồng bà T đã trả gốc vào Ngân hàng T3 sau khi có Quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự ngày 29/5/2015 và số tiền lãi của số tiền 10.000.000 đồng bà T phải đi vay bên ngoài tính từ ngày 29/7/2015 đến ngày 28/3/2023, tổng cộng là 25.550.000 đồng.
    • - Số tiền án phí 13.360.603 đồng bà T đã nộp tiền án phí tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Anh.
    • Tổng cộng là 698.700.169 đồng.
  4. Xác nhận tổng số tiền nợ cả gốc và lãi chị Lê Thị Kim L (tức T1) còn nợ bà Đỗ Thị T tính đến ngày 24/7/2025 là 1.310.304.000 đồng, trong đó tiền nợ gốc là 462.000.000 đồng, số tiền nợ lãi là 848.304.000 đồng. Buộc chị Lê Thị Kim L phải thanh toán cho bà Đỗ Thị T toàn bộ số tiền nợ trên.
  5. Chị Lê Thị Kim L (tức T1) phải tiếp tục chịu tiền lãi trên tổng số tiền nợ gốc tương ứng với thời gian chưa thanh toán theo quy định của pháp luật kể từ ngày 25/7/2025 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.

Ngoài ra, Bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Không nhất trí với quyết định của Bản án sơ thẩm nguyên đơn bà Đỗ Thị T, bị đơn chị Lê Thị Kim L, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Đỗ Thị M kháng cáo đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 189/2025/DS-ST ngày 29/8/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 7 – Hà Nội.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

* Nguyên đơn bà Đỗ Thị T trình bày:

Bà xin rút một phần yêu cầu kháng cáo. Chỉ đề nghị tòa xem xét miễn án phí cho bà vì tính đến khi xét xử phúc thẩm bà đã đủ 60. Bản án sơ thẩm không tuyên về nghĩa vụ chậm thi hành án của bị đơn nên đề nghị HĐXX sửa án sơ thẩm, tuyên về nghĩa vụ chậm thi hành án đối với bị đơn để bảo đảm quyền lợi cho bà.

* Bị đơn chị Lê Thị Kim L, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Đỗ Thị M vắng mặt tại phiên tòa.

HĐXX công bố lời khai của các đương sự vắng mặt.

Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội:

Về tố tụng:

Hội đồng xét xử và nguyên đơn tuân thủ đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn chị Lê Thị Kim L, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Đỗ Thị M vắng mặt tại phiên tòa mặc dù đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nên được coi là từ bỏ việc kháng cáo. Đề nghị HĐXX đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của chị L và bà M.

Nguyên đơn bà T rút một phần yêu cầu kháng cáo nên đình chỉ xét xử một phần kháng cáo của bà T.

- Về nội dung:

Sau khi phân tích nội dung vụ kiện, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng Khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 189/2025/DS-ST ngày 29/8/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 7 – Hà Nội về án phí đối với bà T và cách tuyên lãi suất chậm thi hành án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về hình thức:

Đơn kháng cáo của nguyên đơn bà Đỗ Thị T, bị đơn chị Lê Thị Kim L, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Đỗ Thị M nộp trong hạn luật định, đã nộp dự phí kháng cáo, về hình thức là hợp lệ.

Bị đơn chị Lê Thị Kim L, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Đỗ Thị M được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa nên được coi là từ bỏ việc kháng cáo. HĐXX đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của chị L và bà M theo quy định tại Điều 296 BLTTDS.

Nguyên đơn bà T rút một phần yêu cầu kháng cáo nên đình chỉ xét xử một phần kháng cáo của bà T.

Về nội dung:

Xét giấy vay tiền ngày 10/8/2010: Nội dung giấy có viết: “Ngày 10/8/2010 nhận D Tuyên 10.000.000Tr gốc. Lãi suất 20%/năm (vay 2 tháng). Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi trong hạn. Ký tên: T1”. Như vậy thể hiện việc vay nợ giữa bà T với chị L được lập thành văn bản, có chữ ký xác nhận của người vay là chị L (tức T1). Nội dung thể hiện đầy đủ số tiền vay, thời hạn vay, lãi suất vay. Căn cứ theo qui định tại Điều 463, Khoản 2 Điều 470 Bộ luật dân sự thì giấy vay tiền ngày 10/8/2010 được xác định là Hợp đồng vay tài sản có kỳ hạn và có lãi theo qui định của pháp luật.

Xét giấy nhận nợ và cam kết trả nợ ngày 29/2/2012: Giấy nhận nợ này thể hiện việc vay nợ giữa bà T với bà L được lập thành văn bản, có chữ ký xác nhận của người vay là chị L. Nội dung thể hiện số tiền vay là 452.000.000 đồng. Về thời hạn vay và lãi suất vay trong nội dung thể hiện được áp dụng theo Hợp đồng tín dụng của bà T đã ký với Ngân hàng T3, tuy nhiên hai bên không thể hiện rõ theo Hợp đồng tín dụng số nào, ngày tháng năm nào. Trong nội dung giấy xác nhận nợ có thể hiện chị L cam kết trả lãi và trả góp hàng tháng cho bà T, tuy nhiên hai bên cũng không xác định rõ mức lãi suất áp dụng là bao nhiêu, việc trả góp hàng tháng cụ thể như thế nào. Do vậy căn cứ theo qui định tại Điều 463, Khoản 2 Điều 469 Bộ luật dân sự thì giấy nhận nợ và cam kết trả nợ ngày 29/2/2012 được xác định là Hợp đồng vay tài sản không kỳ hạn và có lãi theo qui định của pháp luật.

Xét yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị T đối với số tiền nợ gốc:

  • + Đối với khoản 10.000.000 đồng theo giấy vay tiền ngày 10/8/2010: Chị L xác nhận có vay số tiền này của bà T nhưng chị L đã trả cho bà T đủ cả gốc và lãi vào ngày 09/11/2011 và có chữ ký xác nhận của bà T, thể hiện tại văn bản chị L đã nộp cho Tòa án. Tuy nhiên chị L chỉ cung cấp được văn bản foto, không có bản gốc. Bà T không thừa nhận việc chị L đã trả khoản nợ này cho bà

T, theo bà T thì văn bản chị L đưa ra để chứng minh là 1 khoản nợ khác chị L đã vay bà T và không có liên quan gì đến khoản vay 10.000.000 đồng theo giấy vay ngày 10/8/2010. Quá trình giải quyết vụ án chị L đã yêu cầu giám định chữ viết, chữ ký của bà T trong văn bản này. Tòa án đã yêu cầu chị L phải nộp bản gốc để làm tài liệu trưng cầu giám định, tuy nhiên chị L đã không cung cấp được và chị L đã rút yêu cầu giám định đối với văn bản này.

Như vậy đủ căn cứ xác định chị L vẫn nợ bà T số tiền nợ gốc 10.000.000 đồng theo giấy vay ngày 10/8/2010. Do vậy yêu cầu khởi kiện của bà T buộc chị L phải trả số tiền nợ gốc 10.000.000 đồng là có đủ căn cứ và được Hội đồng xét xử chấp nhận.

  • + Đối với khoản 452.000.000 đồng theo giấy nhận nợ và cam kết trả nợ ngày 29/2/2012: Chị L không thừa nhận có vay của bà T số tiền 452.000.000 đồng. Bà T cho rằng chị L đã nhờ bà vay số tiền 452.000.000 đồng tại Ngân hàng T3, tuy nhiên bà T không có tài liệu nào chứng minh về việc này. Trong quá trình giải quyết vụ án bà T cũng xác nhận việc bà thỏa thuận với chị L cho chị L vay tiền và chị L phải có trách nhiệm trả nợ vào Ngân hàng thì bà cũng không thông báo việc này cho Ngân hàng T3 biết.

Theo nội dung giấy nhận nợ và cam kết trả nợ ngày 29/2/2012 thể hiện hai bên đã thỏa thuận với nhau về việc nhận nợ số tiền 452.000.000 đồng, phần bên sử dụng tiền chị L đã ký tên xác nhận và ghi rõ “đã nhận đủ số tiền trên”.

Quá trình giải quyết vụ án chị L xác nhận chữ ký tại Giấy xác nhận nợ và cam kết trả nợ ngày 29/2/2012 không phải chữ ký của chị và chị đã yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định, nhưng sau đó chị đã rút yêu cầu giám định. Tại phiên toà chị L trình bày chị không nhận số tiền 452.000.000 đồng của bà T mà chị nhận của những người khác, tuy nhiên bà T đã dùng việc hiện nay sổ đỏ của bố mẹ chị đang thế chấp tại Ngân hàng để ép chị nhận số tiền nợ trên để bà T trả nợ Ngân hàng rút sổ đỏ về trả cho bố mẹ chị. Tại phiên toà chị L xác nhận chị không yêu cầu giám định chữ ký, chữ viết của chị trong Giấy xác nhận nợ và cam kết trả nợ ngày 29/02/2012, tuy nhiên chị L có thừa nhận chữ ký và chữ viết này có giống chữ ký và chữ viết của chị, chị L cho rằng chữ ký và chữ viết này của chị là do bà T in dầu vào nhưng chị L không biết rõ quy trình bà T đã làm in dầu như thế nào. Qua đó thể hiện việc chị L đã gián tiếp công nhận chữ ký và chữ viết tên của chị L trong giấy xác nhận nợ và cam kết trả nợ ngày 29/02/2012 là đúng.

Tại Giấy xác nhận nợ và cam kết trả nợ ngày 29/2/2012 có thể hiện bên nhận nợ có bà Lê Thị Kim L, ông Lê Quang H2, bà Đỗ Thị M. Ông H2 và bà M đều xác nhận không có liên quan gì đến việc vay nợ giữa bà T với chị L. Bà T cũng xác nhận bà M và ông H2 không vay tiền của bà và cũng không ký tên vào giấy nhận nợ, giấy nhận nợ chỉ có một mình chị L ký tên. Bà T xác định bà đưa tiền cho một mình chị L không đưa cho bà M, ông H2, anh H1, việc vay nợ này là cá nhân chị L vay tiền của bà, do vậy nên trách nhiệm trả nợ chỉ một mình chị L.

Từ những phân tích trên Hội đồng xét xử nhận thấy yêu cầu của bà T về việc buộc chị L phải trả số tiền nợ gốc 452.000.000 đồng là có cơ sở, nên Hội đồng xét xử chấp nhận và buộc chị L phải trả số tiền nợ gốc này cho bà T.

Đối với khoản tiền nợ lãi:

Đối với khoản nợ 10.000.000 đồng:

Theo giấy vay nợ ngày 10/8/2010 thể hiện lãi suất hai bên thoả thuận là 20%/năm, thời hạn vay là hai tháng, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn.

Theo quy định tại Điều 476 Luật dân sự 2005 quy định: “Lãi suất vay cho các bên thỏa thuận không được vượt quá 150% lãi suất cơ bản do Ngân hàng N công bố với loại cho vay tương ứng” và Điều 305 Luật dân sự quy định: “Bên chậm thanh toán phải trả khoản lãi tương ứng thời gian chậm trả, lãi suất theo thỏa thuận, nếu không có thỏa thuận thì bằng 150% lãi suất cơ bản trên số tiền chậm trả. Lãi suất cơ bản do Ngân hàng N quy định từ năm 2010 đến nay không thay đổi là 9%/năm, như vậy mức lãi suất trong hạn tối đa các bên được thoả thuận là 13.5%/năm và lãi quá hạn là 20,25%/năm. Như vậy, yêu cầu của nguyên đơn vượt quá quy định của Bộ luật dân sự nên chỉ chấp nhận lãi trong hạn là 13.5%/năm và lãi suất quá hạn là 20,25%/năm.

Từ những căn cứ trên, khoản nợ gốc 10.000.000 đồng trên được tính lại lãi cụ thể như sau: Lãi trong hạn được tính từ ngày 10/8/2010 đến ngày 10/10/2010 là 225.000 đồng; lãi quá hạn tính từ ngày 11/10/2010 đến ngày 24/7/2025 là 29.959.000 đồng. Tổng lãi trong hạn và quá hạn là 30.184.000 đồng.

Bà T yêu cầu chị L phải trả khoản tiền nợ lãi đối với khoản tiền nợ gốc 10.000.000 đồng là 321.944 đồng, tiền nợ lãi quá hạn tạm tính đến ngày 24/7/2025 là 43.020.000 đồng. Tổng cộng là 43.341.944 đồng.

Số tiền lãi bà T yêu cầu không được chấp nhận là 13.157.944 đồng.

Đối với khoản nợ gốc 452.000.000 đồng:

Như đã phân tích trên Giấy xác nhận nợ và cam kết trả nợ ngày 29/02/2012 được xác định là hợp đồng vay tài sản không kỳ hạn và có lãi. Do vậy nên căn cứ theo quy định của pháp luật thì áp dụng mức lãi suất tối đa là 13,5%/năm.

Khoản tiền lãi của khoản tiền nợ gốc 452.000.000 đồng tính từ ngày 29/02/2012 đến 24/7/2025 là: 818.120.000 đồng.

Khoản nợ này bà T yêu cầu chị L phải trả cho bà tiền nợ lãi trong hạn là 24.220.981 đồng, tiền nợ lãi quá hạn tạm tính đến ngày 24/7/2025 là 1.942.918.594 đồng, lãi phạt chậm trả lãi là 32.748.351 đồng. Tổng cộng là 1.999.887.926 đồng.

Số tiền lãi bà T yêu cầu không được chấp nhận là 1.181.767.926 đồng.

Từ những phân tích trên buộc chị L phải thanh toán cho bà T tiền nợ lãi đối với khoản nợ gốc 10.000.000 đồng là 30.184.000 đồng, tiền nợ lãi đối với khoản nợ gốc 452.000.000 đồng là 818.120.000 đồng. Tổng cộng tiền lãi của cả 2 khoản là 848.304.000 đồng.

Như vậy chị L phải có trách nhiệm thanh toán trả cho bà T tổng số tiền nợ gốc là 462.000.000 đồng. Tổng tiền nợ lãi là 848.304.000 đồng. Tổng cộng cả gốc và lãi là 1.310.304.000 đồng.

Tổng số tiền bà T yêu cầu nhưng không được Toà án chấp nhận là 1.194.925.870 đồng.

Đối với việc bà T rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với:

  • - Số tiền bà T đã trả gốc góp và lãi hàng tháng vào Ngân hàng T3 từ ngày 29/02/2012 đến ngày 30/4/2013 là 157.687.239 đồng và số tiền lãi của số tiền

157.687.239 đồng bà T phải đi vay bên ngoài tính từ ngày 29/02/2012 đến ngày 28/3/2023, tổng cộng là 659.789.566 đồng.

  • - Số tiền 10.000.000 đồng bà T đã trả gốc vào Ngân hàng T3 sau khi có Quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự ngày 29/5/2015 và số tiền lãi của số tiền 10.000.000 đồng bà T phải đi vay bên ngoài tính từ ngày 29/7/2015 đến ngày 28/3/2023, tổng cộng là 25.550.000 đồng.
  • - Số tiền án phí 13.360.603 đồng bà T đã nộp tiền án phí tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Anh.
  • Tổng cộng là 698.700.169 đồng.

Việc bà T rút các yêu cầu khởi kiện trên là hoàn toàn tự nguyện, không trái với quy định của pháp luật, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Bản án sơ thẩm tuyên về nghĩa vụ chậm thi hành án chưa rõ ràng nên bà T yêu cầu sửa cách tuyên là có căn cứ nên chấp nhận.

Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn bà Đỗ Thị T.

Về án phí:

Án phí dân sự phúc thẩm:

Do sửa án sơ thẩm bà T, chị L, bà M không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Được nhận lại dự phí kháng cáo đã nộp.

Án phí dân sự sơ thẩm:

Chị L phải chịu 51.309.120 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Tại cấp phúc thẩm bà T đã đủ 60 tuổi nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm. Do đó sửa bản án sơ thẩm về án phí đối với bà T. Bà T được nhận lại tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên, áp dụng Khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 189/2025/DS-ST ngày 29/8/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 7 – Hà Nội.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • - Điều 305, Điều 471, Điều 474, Điều 476, Điều 477, Điều 478 Bộ luật dân sự năm 2005.
  • - Điểm đ Khoản 1 Điều 12; Điểm b Khoản 1 Điều 24; Khoản 4 Điều 26, Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản” của bà Đỗ Thị T đối với chị Lê Thị Kim L (tức T1).
  2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị T đối với chị Lê Thị Kim L (tức T1) đối với khoản tiền nợ lãi vượt quá quy định của pháp luật là 1.194.925.870 đồng.
  3. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị T đối với chị Lê Thị Kim L (tức T1) đối với các yêu cầu buộc chị L phải trả các khoản tiền cụ thể:
    • - Số tiền bà T đã trả gốc góp và lãi hàng tháng vào Ngân hàng T3 từ ngày 29/02/2012 đến ngày 30/4/2013 là 157.687.239 đồng và số tiền lãi của số tiền 157.687.239 đồng bà T phải đi vay bên ngoài tính từ ngày 29/02/2012 đến ngày 28/3/2023, tổng cộng là 659.789.566 đồng.
    • - Số tiền 10.000.000 đồng bà T đã trả gốc vào Ngân hàng T3 sau khi có Quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự ngày 29/5/2015 và số tiền lãi của số tiền 10.000.000 đồng bà T phải đi vay bên ngoài tính từ ngày 29/7/2015 đến ngày 28/3/2023, tổng cộng là 25.550.000 đồng.
    • - Số tiền án phí 13.360.603 đồng bà T đã nộp tiền án phí tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Anh.
    • Tổng cộng là 698.700.169 đồng.
  4. Xác nhận tổng số tiền nợ cả gốc và lãi chị Lê Thị Kim L (tức T1) còn nợ bà Đỗ Thị T tính đến ngày 24/7/2025 là 1.310.304.000 đồng, trong đó tiền nợ gốc là 462.000.000 đồng, số tiền nợ lãi là 848.304.000 đồng. Buộc chị Lê Thị Kim L phải thanh toán cho bà Đỗ Thị T toàn bộ số tiền nợ trên.
    • - Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của chị Lê Thị Kim L và bà Đỗ Thị M.
    • - Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bà Đỗ Thị T về việc tính lại lãi suất.
  5. Về án phí:
  6. Án phí dân sự phúc thẩm:

    Bà Đỗ Thị M, chị Lê Thị Kim L không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Bà Đỗ Thị M, chị Lê Thị Kim L được nhận lại 300.000 đồng dự phí kháng cáo đã nộp tại Biên lai thu số 0006561; 0006561 ngày 08/9/2025;

    Bà Đỗ Thị T được nhận lại 300.000 đồng dự phí kháng cáo đã nộp tại Biên lai thu số 0007405 ngày 12/9/2025 của Thi hành án dân sự Thành phố Hà Nội.

    Án phí dân sự sơ thẩm:

    Chị Lê Thị Kim L (tức T1) phải chịu 51.309.120 đồng.

    Bà Đỗ Thị T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 16.935.000 đồng tại Biên lai thu số 0016796 ngày 13/11/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội.

    Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

    Trường hợp Bản án, quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

    Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Các Thẩm phán

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nơi nhận:

  • - VKSND Thành phố Hà Nội;
  • - TAND khu vực 7 – Hà Nội;
  • - Thi hành án dân sự TP Hà Nội;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu văn phòng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Liên Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 966/2025/DS-PT ngày 12/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 966/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 12/12/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đỗ Thị Tuyên - Lê Thị Kim Luân
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger