TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 96/2025/HS-ST Ngày: 30 - 12 - 2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà : Ông Trần Khắc Hoàng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Vinh, bà Nguyễn Thị Kim Phương.
- Thư ký phiên tòa: Ông Ngụy Tiến Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Ông Tôn Đức Phong - Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
Ngày 30 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 74/2025/TLST-HS ngày 09 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 86/2025/QĐXXST-HS ngày 07/11/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 69/2025/HSST-QĐ ngày 20/11/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 73/2025/HSST-QĐ ngày 02/12/2025 và Thông báo thay đổi thời gian xét xử số 04/TB-TA ngày 22/12/2025 đối với bị cáo:
Trịnh Xuân V; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 02/3/1997, tại xã P, tỉnh Hưng Yên; Nơi cư trú: Thôn P, xã P, tỉnh Hưng Yên (trước đây là thôn P, xã P, huyện Â, tỉnh Hưng Yên); Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Trịnh Xuân T (đã chết); Con bà: Đào Thị H; sinh năm 1977; Nghề nghiệp: Làm ruộng; A, chị, em ruột: Có 02 người, bị cáo là con thứ nhất; Vợ: Phạm Thị H1; Sinh năm 1998; Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2020, con nhỏ sinh năm 2022.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị khởi tố bị can ngày 18/01/2025; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/01/2025 đến ngày 19/9/2025 được thay thế biện pháp ngăn chặn bằng hình thức Bảo lĩnh.
Bị cáo có mặt tại phiên toà.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Lê Phương L, sinh năm 1982; địa chỉ: Số A phố H, phường H, thành phố Hà Nội (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Nguyễn Văn Q, sinh năm 1997; địa chỉ: Thôn T, xã H, tỉnh Quảng Ninh (Vắng mặt).
- Phạm Văn Q1, sinh năm 1975; địa chỉ: Thôn H, xã P, tỉnh Hưng Yên (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
Người làm chứng:
- Trương Văn S, sinh năm 1985; địa chỉ: Xóm A, xã H, tỉnh Nghệ An (trước là xã D, huyện D). (Vắng mặt)
- Phạm Thị H1, sinh năm 1998; địa chỉ: Thôn P, xã P, tỉnh Hưng Yên (Có mặt).
- Nguyễn Thị O, sinh năm 1990; địa chỉ: Thôn P, xã P, tỉnh Hưng Yên (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
Người chứng kiến: Nguyễn Đức T1, sinh năm 1989; địa chỉ: Thôn K, xã S, tỉnh Hà Tĩnh (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 08 giờ 30 phút, ngày 11/01/2025, tại khu vực B, Cửa khẩu Quốc tế C; Đồn Biên phòng cửa khẩu Quốc tế C phối hợp với Chi cục Hải quan cửa khẩu Quốc tế C trong quá trình kiểm tra kiểm soát phát hiện Trịnh Xuân V đang đứng tại khu vực B có nhiều biểu hiện nghi vấn vận chuyển hàng cấm nên tiến hành kiểm tra, phát hiện bên trong quần lót mà Trịnh Xuân V đang mặc có 02 túi ni lông màu trắng kích thước 8cm x 12 cm được quấn bên ngoài bằng băng dính màu vàng và lớp giấy báo in chữ nước ngoài, bên trong 02 túi ni lông chứa 02 miếng kim loại màu vàng nghi là vàng (được ký hiệu là M1, M2). Trịnh Xuân V khai nhận 02 miếng kim loại màu vàng trên là vàng nguyên chất được Viễn cất giấu trong người đem từ nước Lào về Việt Nam nhằm mục đích để bán lại kiếm lời. Lực lượng chức năng đã tiến hành lập biên bản bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng.
Kết quả điều tra xác định được:
Khoảng cuối năm 2023 đến tháng 11/2024, Trịnh Xuân V sang Thủ đô V, Lào để học nghề và làm chế tác trang sức vàng, bạc tại xưởng chế tác vàng, bạc của Nguyễn Văn L1 (sinh năm 1982, trú tại phường T thành phố Hồ Chí Minh) với thu nhập khoảng 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng/01 tháng. Quá trình làm việc, Trịnh Xuân V tích góp được một số tiền, vay mượn thêm tiền của người thân trong gia đình, người quen để mua vàng nguyên liệu gia công thành vàng trang sức đem bán tại chợ S1, Thủ đô V, Lào. Khoảng cuối tháng 12 năm 2024, thấy công việc tại Lào không mang lại lợi nhuận cao nên Trịnh Xuân V thanh lý tài sản mà mình tích góp được tại Lào để về Việt Nam.
Ngày 01/01/2025, Trịnh Xuân V mang số vàng mà mình gia công, chế tác tích góp được (gồm vòng, nhẫn, dây chuyền, bông tai) với khối lượng khoảng hơn 0,6kg đến cửa hàng vàng của một người đàn ông quốc tịch Lào tên thường gọi là N (không xác định họ tên, địa chỉ cụ thể) ở chợ S1, Thủ đô V, Lào đặt vấn đề phân tách thành vàng tinh khiết (vàng miếng). Trước đó khoảng 15 ngày, Trịnh Xuân V có đưa cho N khoảng gần 0,6kg vàng trang sức để nhờ N bán nên V nói với N phân tách số vàng này thành vàng tinh khiết (vàng miếng). Do vàng trang sức có hàm lượng vàng không tinh khiết bằng vàng miếng nên quá trình phân tách phải mất một thời gian, N nói với Trịnh Xuân V lúc nào phân tách xong thì đến lấy. Sau đó, ngày 02/01/2025, Trịnh Xuân V đi xe khách từ V, Lào nhập cảnh qua Cửa khẩu Quốc tế C về Việt Nam. Chiều ngày 07/01/2025, V đi từ Việt Nam nhập cảnh qua Cửa khẩu Quốc tế C để sang Lào. Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 09/01/2025, Trịnh Xuân V đến cửa hàng vàng của N tại chợ S1 để lấy lại số vàng nhờ phân tách trước đó. Lúc này, N không có mặt tại cửa hàng nên một nhân viên tiệm vàng đưa cho V 02 miếng vàng tinh khiết được đựng trong gói ni lông màu trắng, V bỏ 02 miếng vàng vào túi da màu đen, quay lại nhà nghỉ cho vào két sắt, sau đó ăn uống, nghỉ ngơi. Trưa ngày 10/01/2025, V mở két sắt lấy 02 miếng vàng, dùng báo, băng dính màu vàng gói từng gói ni lông chứa miếng vàng, mỗi gói ni lông được gói riêng biệt cho vào túi da màu đen. Do bán vàng tại Lào phải đổi sang tiền Việt Nam mất nhiều chi phí nên Trịnh Xuân V quyết định mang số vàng trên về Việt Nam để bán. Khoảng 17 giờ ngày 10/01/2025, Trịnh Xuân V mang theo túi da màu đen (bên trong túi có 02 miếng vàng) đến cổng bến xe V, Lào lên xe ô tô khách, mang biển kiểm soát Lào UN 8989 của nhà xe D về Việt Nam. Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 11/01/2025 xe ô tô khách di chuyển đến Cửa khẩu N1 (Lào). Lúc này, Trịnh Xuân V lấy vàng từ trong túi da màu đen bỏ vào phía trong quần lót mặc trên người để tránh bị cơ quan chức năng của Lào và Việt Nam kiểm tra, sau đó xuống xe đi vào làm thủ tục xuất cảnh qua Cửa khẩu N1, Lào. Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 11/01/2025, Trịnh Xuân V đến Cửa khẩu Quốc tế C làm thủ tục nhập cảnh vào Việt Nam và không khai báo về số vàng cất giấu trên người. Sau khi làm xong thủ tục nhập cảnh, Trịnh Xuân V đứng chờ xe tại khu vực Barie số 2 thì bị cán bộ Đồn Biên phòng Cửa khẩu Quốc tế C phối hợp với Chi cục Hải quan Cửa khẩu Quốc tế C tiến hành kiểm tra, phát hiện bắt quả tang, thu giữ tang vật.
Tại Bản Kết luận giám định số 12/KL-KTHS ngày 13/01/2025 của V1, Bộ C1 xác định: 01 miếng kim loại màu vàng (ký hiệu M1) gửi giám định có khối lượng 561,8 gam là vàng tinh khiết (A), hàm lượng trung bình A: 99,94%; 01 miếng kim loại màu vàng (ký hiệu M2) gửi giám định có khối lượng 673,6 gam là vàng tinh khiết (A), hàm lượng trung bình A: 99,95%; tổng khối lượng 02 miếng vàng là 1.235,4 gam.
Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 218/KL-HĐĐG ngày 18/4/2025 của Hội đồng định giá thường xuyên cấp tỉnh trong tố tụng hình sự tỉnh Hà Tĩnh, kết luận: tổng giá trị thị trường của 02 miếng vàng (Ký hiệu M1, M2) là 2.750.765.550 đồng (Hai tỷ, bảy trăm năm mươi triệu, bảy trăm sáu mươi lăm nghìn, năm trăm năm mươi đồng).
* Vật chứng thu giữ:
Quá trình điều tra đã thu giữ tại T:
- 01 miếng vàng tinh khiết có khối lượng 561,8 gam (ký hiệu M1) trừ mẫu giám định còn 555,4 gam vàng tinh khiết;
- 01 miếng vàng tinh khiết có khối lượng 673,6 gam (ký hiệu M2) trừ mẫu giám định còn 666,8 gam vàng tinh khiết;
- 02 túi ni lông bên ngoài bọc băng dính màu vàng và lớp giấy báo in chữ nước ngoài;
- 01 điện thoại Iphone 16 ProMax, màu titan sa mạc, lắp sim điện thoại Unitel của Lào, đã qua sử dụng;
- 01 túi da màu đen, kích thước 20cm x 22cm, đã qua sử dụng;
- 01 Căn cước công dân số: 033097011448, mang tên Trịnh Xuân V; Cấp ngày: 14 tháng 8 năm 2021; Nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Bộ C1.
- 01 cuốn hộ chiếu số E00732105, mang tên Trịnh Xuân V, do Cục Q2, Bộ C1, cấp ngày 28/8/2023.
* Xử lý vật chứng:
- Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã trả lại cho Trịnh Xuân V 01 căn cước công dân, 01 cuốn hộ chiếu, 01 túi da màu đen.
- Số vật chứng còn lại được chuyển đến Thi hành án Dân sự tỉnh Hà Tĩnh để xử lý theo quy định.
(Tình trạng cụ thể vật chứng, tài sản như tại biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 01/2025 ngày 02/10/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H và Cơ quan Thi hành án dân sự tỉnh Hà Tĩnh)
Tại bản Cáo trạng số: 78/CT-VKS-P1 ngày 29 tháng 09 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã truy tố Trịnh Xuân V về tội “Buôn lậu” quy định tại điểm a khoản 4 Điều 188 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm a khoản 4, Khoản 5 Điều 188; điểm s, u khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Khoản 2 Điều 32; khoản 2 Điều 35; khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung một số điều năm 2017, năm 2025:
+ Tuyên bố bị cáo Trịnh Xuân V phạm tội “Buôn lậu”.
+ Xử phạt bị cáo Trịnh Xuân V từ 08 năm tù đến 09 năm tù về tội “Buôn lậu”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án nhưng được trừ thời gian đã tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/01/2025 đến ngày 19/9/2025.
+ Phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng.
Ngoài ra còn đề nghị về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng, tài sản, án phí và quyền kháng cáo.
Tại phiên toà, bị cáo Trịnh Xuân V khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, thừa nhận phạm các tội như cáo trạng truy tố, nhận thức rõ sai phạm và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt mức thấp nhất cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh H, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng và hợp pháp.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Trịnh Xuân V có đơn và trình bày ý kiến từ chối luật sư chỉ định và tự bào chữa cho mình; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Lê Phương L, Phạm Văn Q1, người làm chứng Nguyễn Thị O có đơn xin xét xử vắng mặt, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan khác Tòa án đã gửi giấy triệu tập hợp lệ, phiên tòa mở lần thứ ba nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, bị cáo, đại diện Viện kiểm sát không ai yêu cầu Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Trịnh Xuân V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với Cáo trạng của Viện kiểm sát, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang lời khai của người làm chứng, người chứng kiến, các kết luận giám định và các chứng cứ có tại hồ sơ vụ án. Vì vậy, đủ cơ sở để khẳng định: Từ cuối năm 2023 đến tháng 11/2024, Trịnh Xuân V làm nghề gia công vàng, bạc tại nước Lào và đã tích góp, vay mượn tiền để mua vàng nguyên liệu, chế tác thành vàng trang sức. Ngày 01/01/2025, Trịnh Xuân V đem số vàng trang sức đã chế tác được đến một cửa hàng vàng, bạc tại chợ S1 (thủ đô V, Lào) nhờ phân tách số vàng này và phân tách số vàng 15 ngày trước Viễn gửi nhờ bán thành vàng miếng tinh khiết. Sau đó vào ngày 09/01/2025 V lấy lại số vàng đã nhờ gia công trước đó và nhận được 02 miếng vàng tinh khiết. Do bán vàng tại Lào phải đổi sang tiền Việt Nam mất nhiều chi phí nên V quyết định đưa số lượng vàng nói trên về Việt Nam tiêu thụ nhằm thu lợi nhuận. Ngày 10/01 V dùng báo, băng dính màu vàng, túi ni lông gói 02 miếng vàng thành 02 gói cho vào túi da màu đen. Khoảng 17 giờ ngày 10/01/2025, V đến bến xe V, Lào lên xe biển kiểm soát Lào UN 9889 của nhà xe A1 về Việt Nam. Đến cửa khẩu N2, Lào, nhằm để tránh cơ quan chức năng phát hiện V lấy 02 gói vàng bỏ vào phía trong quần lót đang mặc trên người sau đó xuống xe làm thủ tục xuất cảnh qua Cửa khẩu N1, Lào. Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 11/01/2025, Trịnh Xuân V đến Cửa khẩu Quốc tế C làm thủ tục nhập cảnh vào Việt Nam và không khai báo về số vàng cất giấu trên người. Sau khi làm xong thủ tục nhập cảnh, Trịnh Xuân V đứng chờ xe tại khu vực Barie số 2 thì bị cán bộ Đồn Biên phòng Cửa khẩu Quốc tế C phối hợp với Chi cục Hải quan Cửa khẩu Quốc tế C tiến hành kiểm tra, phát hiện bắt quả tang, thu giữ 02 gói vàng nói trên trong người Trịnh Xuân V.
Tại Bản Kết luận giám định số 12/KL-KTHS ngày 13/01/2025 của V1, Bộ C1 xác định: 01 miếng kim loại màu vàng (ký hiệu M1) gửi giám định có khối lượng 561,8 gam là vàng tinh khiết (A), hàm lượng trung bình A: 99,94%; 01 miếng kim loại màu vàng (ký hiệu M2) gửi giám định có khối lượng 673,6 gam là vàng tinh khiết (A), hàm lượng trung bình A: 99,95%; tổng khối lượng 02 miếng vàng là 1.235,4 gam.
Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 218/KL-HĐĐG ngày 18/4/2025 của Hội đồng định giá thường xuyên cấp tỉnh trong tố tụng hình sự tỉnh Hà Tĩnh, kết luận: tổng giá trị thị trường của 02 miếng vàng (Ký hiệu M1, M2) là 2.750.765.550 đồng (Hai tỷ, bảy trăm năm mươi triệu, bảy trăm sáu mươi lăm nghìn, năm trăm năm mươi đồng).
Hành vi của bị cáo Trịnh Xuân V đã đủ yếu tố cấu thành tội “Buôn lậu” theo quy định tại Điều 188 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Cáo trạng số 78 ngày 29/9/2025 truy tố bị cáo Trịnh Xuân V về tội “Buôn lậu” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 188 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[3] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trịnh Xuân V đã thành khẩn khai báo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Trong thời gian tại ngoại, vào ngày 25/11/2025 bị cáo Trịnh Xuân V có công cung cấp tin báo, thông tin có giá trị về đối tượng có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của đối tượng trên địa bàn xã P. Ngày 17/11/2025, Công xã Phạm Ngũ L2 đã tiến hành kiểm tra, khám xét, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối tượng trên. Trên cơ sở đó Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh H đã ban hành Quyết định khởi tố vụ án hình sự số 592 ngày 05/12/2025, Quyết định khởi tố bị can số 929 ngày 05/12/2025 đối với các đối tượng về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Mua bán trái phép chất ma túy”; lệnh tạm giam số 2970/LTG-CSMT ngày 05/12/2025 đối với đối tượng phạm tội. Nội dung trên đã được Công an xã P xác nhận tại đơn xin xác nhận ngày 10/12/2025 của bị cáo; Công văn số 710/CV-CAX ngày 11/12/2025, Công văn số 756/CV-CAX ngày 19/12/2025 của Công an xã P, tỉnh Hưng Yên (kèm theo quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, Lệnh tam giam nói trên) và Công văn số 17/PC04 ngày 22/12/2025 của Phòng CSĐTTP về ma túy Công an tỉnh H, nên bị cáo V được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm u khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo có ông nội được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhì, được tặng Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng; ông ngoại tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, làm nhiệm vụ quốc tế sau ngày 30/4/1975; ông ngoại của vợ là thương binh hạng 2/4 nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[4] Về hình phạt chính: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, phạm tội thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng không những xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của nhà nước trong lĩnh vực xuất nhập khẩu, mà còn gây rối loạn thị trường, ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp trong nước. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ việc đưa vàng về Việt Nam tiêu thụ là vi phạm pháp luật nhưng vì lợi nhuận, lợi ích cá nhân vẫn cố tình thực hiện. Vì vậy hành vi của bị cáo cần thiết phải được xử lý nghiêm để giáo dục răn đe và phòng ngừa chung. Tuy nhiên cũng cần xem xét quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn hối cải, nhận thức rõ sai phạm, trong quá trình giải quyết vụ án đã lập công chuộc tội cung cấp thông tin giúp công an xã P, tỉnh Hưng Yên bắt quả tang đối tượng tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và CQĐT công an tỉnh H đã ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can vụ án trên đối với các đối tượng liên quan; hành vi buôn lậu của bị cáo bị bắt quả tang tại cửa khẩu nên chưa gây hậu quả, chưa thu lợi, gia đình bị cáo có công với cách mạng, bị cáo nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự, vợ bị cáo có đơn trình bày hoàn cảnh mẹ và em bị cáo thường xuyên ốm đau, vợ không có việc làm ổn định đang phải nuôi 02 con còn nhỏ (có xác nhận của trưởng thôn và chính quyền địa phương) là các tình tiết giảm nhẹ cần xem xét cho bị cáo khi lượng hình. Xét bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 và nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS nên cần xem xét áp dụng khoản 1 Điều 54 BLHS xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt nhằm thể hiện tính khoan hồng nhân đạo của pháp luật. Vì vậy nghĩ cần áp dụng điểm a khoản 4 Điều 188; điểm s, u Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38; Khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung một số điều năm 2017, năm 2025, xử phạt bị cáo Trịnh Xuân V từ 08 năm tù đến 09 năm tù về tội “Buôn lậu”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án nhưng được trừ thời gian đã tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/01/2025 đến ngày 19/9/2025 như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp và đủ nghiêm.
[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nhằm thu lợi bất chính nên cần áp dụng hình phạt bổ sung từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng theo quy định tại khoản 5 Điều 188, khoản 2 Điều 32, khoản 2 Điều 35 BLHS như đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
[6] Về xử lý vật chứng, tài sản và biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm a, khoản 1 Điều 46; điểm a, c, khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
*Tịch thu hóa giá sung ngân sách Nhà nước đối với vật chứng là hàng hóa mà bị cáo buôn lậu và công cụ phương tiện dùng vào việc phạm tội, gồm:
- 01 miếng vàng tinh khiết có khối lượng 561,8 gam (ký hiệu M1) trừ mẫu giám định còn 555,4 gam vàng tinh khiết;
- 01 miếng vàng tinh khiết có khối lượng 673,6 gam (ký hiệu M2) trừ mẫu giám định còn 666,8 gam vàng tinh khiết;
- 01 điện thoại Iphone 16 ProMax, màu titan sa mạc, lắp sim điện thoại Unitel của Lào, đã qua sử dụng;
* Tịch thu và tiêu hủy vật chứng là công cụ, phương tiện bị cáo sử dụng thực hiện hành vi phạm tội không có giá trị sử dụng, gồm:
- 02 túi ni lông bên ngoài bọc băng dính màu vàng và lớp giấy báo in chữ nước ngoài
(Tình trạng cụ thể vật chứng, tài sản như tại biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 01/2025 ngày 02/10/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H và Cơ quan Thi hành án dân sự tỉnh Hà Tĩnh)
[7] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo Trịnh Xuân V phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[8] Đối với hành vi và các đối tượng liên quan trong vụ án:
- Đối với Phạm Văn Q1 (sinh năm 1975, trú tại thôn H, xã P, tỉnh Hưng Yên): Qua kết quả sao kê tài khoản ngân hàng của Trịnh Xuân V xác định, ngày 07/01/2025, Phạm Văn Q1 chuyển vào tài khoản ngân hàng của Trịnh Xuân V số tiền 1.350.000.000 đồng. Quá trình điều tra, Trịnh Xuân V và Phạm Văn Q1 đều khai nhận đây là số tiền V mượn của Q1 để làm ăn. Phạm Văn Q1 không biết, không tham gia giúp sức vào hành vi Buôn lậu của Trịnh Xuân V nên Cơ quan điều tra không đề cập hình thức xử lý đối với Phạm Văn Q1 là có căn cứ.
- Đối với Nguyễn Văn Q (sinh năm 1997, trú tại xã H, tỉnh Quảng Ninh): Qua kết quả trích xuất dữ liệu tin nhắn Zalo của Trịnh Xuân V, xác định ngày 09/01/2025, Nguyễn Văn Q và Trịnh Xuân V nhắn tin cho nhau trao đổi về việc Q nhờ V bán 42 cây vàng nguyên liệu. Quá trình điều tra, Trịnh Xuân V và Nguyễn Văn Q đều khai nhận việc Q nhờ Viễn bán vàng nguyên liệu diễn ra tại nước Lào, hai bên mới chỉ nhắn tin mà chưa giao nhận vàng cho nhau nên chưa phát sinh việc mua bán vàng. Quá trình điều tra, không có tài liệu chứng cứ chứng minh Nguyễn Văn Q tham gia, giúp sức vào hành vi Buôn lậu của Trịnh Xuân V nên Cơ quan điều tra không đề cập hình thức xử lý đối với Nguyễn Văn Q là có căn cứ.
- Đối với Lê Phương L (sinh năm 1982, trú tại số A phố H, phường H, thành phố Hà Nội - chủ cửa hàng V2): Qua kết quả trích xuất dữ liệu tin nhắn Zalo của Trịnh Xuân V xác định: Vào ngày 10/01/2025, Trịnh Xuân V nhắn tin qua Zalo với nội dung sẽ bán 56 chỉ vàng cho Lê Phương L khi đi Viễn đi từ Lào về Việt Nam. Tuy nhiên, ngày 11/01/2025, Trịnh Xuân V đã bị bắt giữ khi đưa 02 miếng vàng từ Lào về Việt Nam nên việc mua bán vàng chưa xảy ra. Do đó, Cơ quan điều tra không đề cập hình thức xử lý đối với Lê Phương L là có căn cứ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trịnh Xuân V phạm tội “Buôn lậu”.
[2] Về hình phạt chính và hình phạt bổ sung.
Áp dụng điểm a khoản 4, khoản 5 Điều 188; điểm s, u khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 54; khoản 2 Điều 32, khoản 2 Điều 35 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung một số điều năm 2017, năm 2025:
Xử phạt bị cáo Trịnh Xuân V 08 (T2) năm tù về tội “Buôn lậu”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án nhưng được trừ thời gian đã tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/01/2025 đến ngày 19/9/2025.
Phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng).
[3] Về xử lý vật chứng vụ án và biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm a, khoản 1 Điều 46; điểm a, c, khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
*Tịch thu hóa giá sung ngân sách nhà nước đối với hàng hóa mà bị cáo phạm tội và công cụ phương tiện dùng vào việc phạm tội, gồm:
- 01 miếng vàng tinh khiết có khối lượng 561,8 gam (ký hiệu M1) trừ mẫu giám định còn 555,4 gam vàng tinh khiết;
- 01 miếng vàng tinh khiết có khối lượng 673,6 gam (ký hiệu M2) trừ mẫu giám định còn 666,8 gam vàng tinh khiết;
- 01 điện thoại Iphone 16 ProMax, màu titan sa mạc, lắp sim điện thoại Unitel của Lào, đã qua sử dụng;
* Tịch thu và tiêu hủy vật chứng là công cụ, phương tiện bị cáo sử dụng thực hiện hành vi phạm tội không có giá trị, gồm:
- 02 túi ni lông bên ngoài bọc băng dính màu vàng và lớp giấy báo in chữ nước ngoài.
(Tình trạng cụ thể vật chứng, tài sản như tại biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 01/2025 ngày 02/10/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H và Cơ quan Thi hành án dân sự tỉnh Hà Tĩnh)
[4] Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án và Danh mục án phí, lệ phí tòa án kèm theo Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14: Buộc Trịnh Xuân V phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[5] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Khắc Hoàng |
10
Bản án số 96/2025/HS-ST ngày 30/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về vụ án hình sự về tội buôn lậu
- Số bản án: 96/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Buôn lậu
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: [1] Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trịnh Xuân V phạm tội “Buôn lậu”. [2] Về hình phạt chính và hình phạt bổ sung. - Áp dụng điểm a khoản 4, khoản 5 Điều 188; điểm s, u khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 54; khoản 2 Điều 32, khoản 2 Điều 35 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung một số điều năm 2017, năm 2025: Xử phạt bị cáo Trịnh Xuân V 08 (T2) năm tù về tội “Buôn lậu”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án nhưng được trừ thời gian đã tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/01/2025 đến ngày 19/9/2025. Phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng).
