|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 14 – AN GIANG Bản án số: 95/2025/HNGĐ-ST Ngày: 16 – 12 - 2025 “V/v tranh chấp ly hôn” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 14, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Thanh Hùng,
Các Hội thẩm nhân dân.
- - Ông Phạm Thanh Hải,
- - Ông Nguyễn Lâm Tới.
Thư ký phiên tòa: Ông Châu Kim Sol, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 14 - An Giang.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân khu vực 14 – An Giang tham gia phiên toà: Bà Neàng Sa Men – Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 14 – An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 236/2025/TLST-HNGĐ ngày 21/10/2025, về việc: “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 422/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 11 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 444/2025/QÐST-HNGĐ ngày 26/11/2025, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Anh Hoàng Anh T, sinh năm 1997; nơi thường trú: Thôn Y, xã T, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: Thôn T, phường T, tỉnh Ninh Bình;
- - Bị đơn: Chị Trần Thị L, sinh năm 2004; nơi cư trú: tổ B, ấp T, xã C, tỉnh An Giang.
Anh T có yêu cầu xét xử vắng mặt, chị L vắng mặt lần thứ hai không rõ lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Hoàng Anh T trình bày: Anh và chị L tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 12/4/2022 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Sau khi kết hôn vợ chồng có cuộc sống hòa thuận, đến cuối năm 2023, thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, do thường xuyên cãi nhau, vì bất đồng quan điểm sống, không cùng quan điểm về cách sinh hoạt trong gia đình, từ đó quan hệ vợ chồng trở nên căng thẳng, mặc dù tìm cách trao đổi tìm cách giải quyết, gia đình hai bên cũng hòa giải, nhưng không thỏa thuận được, nên đã không sống chung với nhau từ đầu năm 2024 đến nay; Nay tình cảm không còn, nên anh T yêu cầu ly hôn với chị L.
Trong thời gian chung sống, anh T và chị L có 01 con chung tên Hoàng Tấn T1, sinh ngày 03/01/2022, hiện đang sống cùng với anh; anh T yêu cầu nuôi dạy con chung, không yêu cầu chị L phải cấp dưỡng nuôi dạy con chung.
Tài sản chung, nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án không tiến hành hòa giải được, do chị Trần Thị L vắng mặt.
Phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát:
Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 48 và Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án tại phiên tòa: Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về xét xử sơ thẩm vụ án.
Người tham gia tố tụng gồm nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Riêng, bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
Ý kiến về giải quyết vụ án: Anh T và chị L tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa cấp giấy chứng nhận kết hôn số 16 ngày 12/4/2022, nên là hôn nhân hợp pháp được pháp luật thừa nhận. Xét tình cảm vợ chồng thời gian đầu hạnh phúc, nhưng đến năm 2023 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, có gia đình hai bên hòa giải nhưng không thành, nên đã ly thân từ năm 2024 đến nay, trong quá trình giải quyết vụ án, chị L cũng không thể hiện ý kiến về việc ly hôn của anh T, không có ý định hàn gắn tình cảm vợ chồng, từ đó cho thấy mâu thuẫn giữa anh T và chị L rất trầm trọng, đời sống không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, việc anh T yêu cầu ly hôn với chị L là có cơ sở để chấp nhận.
Trong thời gian chung sống, anh T và chị L có 01 con chung Hoàng Tấn T1, sinh ngày 03/01/2022, hiện cháu T1 đang sống với anh T, cháu chưa đủ 7 tuổi, anh T yêu cầu nuôi dạy cháu T1, để tránh xáo trộn cuộc sống đời thường của cháu T1, nên để cháu T1 cho anh T nuôi dạy là cần thiết, chị L không phải cấp dưỡng nuôi dạy con chung, do anh T không yêu cầu.
Đề nghị áp dụng Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 4, 6 Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, xử:
- - Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Hoàng Anh T với chị Trần Thị L.
- - Về con chung: Để con chung Hoàng Tấn T1, sinh ngày 03/01/2022 cho anh T nuôi dạy; Chị L không phải cấp dưỡng nuôi dạy con chung.
- - Tài sản chung và nợ chung: Không đề xuất giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn. Đồng thời, bị đơn có nơi cư trú thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 14 – An Giang. Xét, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 14 – An Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự hiện hành.
[1.2] Nguyên đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ hai không rõ lý do; nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự hiện hành.
[2] Về nội dung:
[2.1] Anh T và chị L chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa theo giấy chứng nhận kết hôn số 16 ngày 12/4/2022, nên được xem là hôn nhân hợp pháp làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng.
Xét, vợ chồng phải thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, nhưng hiện tại anh T và chị L đã không sống chung với nhau, căn cứ theo Biên bản xác minh tại ấp T, xã C, chị L đã đi làm xa, thỉnh thoảng có về nhà, nhưng không biết việc mâu thuẫn gia đình của chị L, trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành hòa giải, cũng như xét xử vụ án, nhưng chị L vắng mặt, từ đó cho thấy chị L không muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng, nên hôn nhân giữa chị L và anh T không hạnh phúc, kéo dài sẽ gây đau khổ cho nhau, nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh T với chị L theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
[2.2] Anh T và chị L có con chung Hoàng Tấn T1, sinh ngày 03/01/2022 đang sống với anh T; anh T yêu cầu nuôi dạy con chung, hiện cháu T1 đã hơn 3 tuổi, nên để đảm bảo cuộc sống bình thường và tâm lý của cháu T1, nên chấp nhận yêu cầu nuôi dạy con chung của anh T; Anh T không yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi dạy con chung, nên không đặt ra xem xét giải quyết.
[2.3] Anh T không yêu cầu xem xét giải quyết tài sản chung và nợ chung, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[2.4] Anh T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm; chị L không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 4, 6 Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
Điều 147, khoản 1 Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Hoàng Anh T, anh Hoàng Anh T được ly hôn với chị Trần Thị L;
- Anh Hoàng Anh T được tiếp tục nuôi dạy con chung tên Hoàng Tấn T1, sinh ngày 03/01/2022; Chị Trần Thị L không phải cấp dưỡng nuôi dạy con chung.
- Anh Hoàng Anh T cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở chị Trần Thị L trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
Anh Hoàng Anh T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số 0004406 ngày 15 tháng 10 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh A; Anh T đã nộp đủ án phí.
Chị Trần Thị L không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Anh Hoàng Anh T và Trần Thị L được quyền làm đơn kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Thanh Hùng |
Bản án số 95/2025/HNGĐ-ST ngày 16/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 14 – AN GIANG về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 95/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 14 – AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Anh Hoàng Anh T yêu cầu ly hôn với chị Trần Thị L
