|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – NINH BÌNH Bản án số: 91/2025/HNGĐ-ST Ngày: 10- 12- 2025 V/v: Ly hôn, nuôi con |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Ngọc Duyên.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đỗ Văn Cận;
- Ông Nguyễn Hồng Minh.
- Thư ký phiên toà: Ông Trần Hồng Chuyên - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 10 – Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Ninh Bình tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Trường - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 10 - Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 102/2025/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 10 năm 2025 về việc “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Lê Thị H, sinh năm 1999; số định danh cá nhân: 019199000082; địa chỉ thường trú: Xóm H, xã T, tỉnh Thái Nguyên; "vắng mặt".
- - Bị đơn: Anh Phạm Xuân H1, sinh năm 1998; số định danh cá nhân: 036098010929; địa chỉ thường trú: Xóm H, xã G, tỉnh Ninh Bình; "vắng mặt".
- - Người làm chứng: Bà Trần Thị S, sinh năm 1973; số định danh cá nhân: 036173006540; địa chỉ thường trú: Xóm H, xã G, tỉnh Ninh Bình; "vắng mặt".
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, lời khai tại Toà án, nguyên đơn chị Lê Thị H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Phạm Xuân H1 tự nguyện tìm hiểu, kết hôn, đã được Ủy ban nhân dân xã G, huyện G, tỉnh Nam Định (nay là UBND xã G) cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 09 tháng 01 năm 2019. Sau đó, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn do có lối sống khác biệt và có người khác bên ngoài; vợ chồng đã ly thân từ tháng 5 năm 2023. Từ khi ly thân vợ chồng không liên lạc quan tâm đến nhau. Nay chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Phạm Xuân H1
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Phạm Lê Minh K, sinh ngày 09 tháng 01 năm 2019. Khi ly hôn chị nhận nuôi con chung, không yêu cầu anh H1 cấp dưỡng nuôi con cho chị.
Về tài sản: Chị không đề nghị giải quyết.
Đối với anh Phạm Xuân H1:
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã giao, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh H1 nhưng anh H1 không trình bày quan điểm và không đến Tòa án để làm việc.
Theo lời khai của người làm chứng bà Trần Thị S là mẹ của bị đơn trình bày:
Anh Phạm Xuân H1 và Lê Thị H kết hôn vào ngày 09 thánh 1 năm 2019, anh H1 và chị H phát sinh mâu thuẫn và đã ly thân từ năm 2023 đến nay, về nguyên nhân mâu thuẫn, bà không nắm rõ. Anh H1 và chị H có con chung là Phạm Lê Minh K, sinh ngày 09 tháng 01 năm 2019, cháu đang được bà đón về nuôi giúp con bà từ ngày 8-9-2025 từ nhà chị H
Kết quả xác minh, thu thập chứng cứ tại xã G, tỉnh ninh Bình: Việc kết hôn, chung sống vợ chồng, nuôi con chung phù hợp với lời trình bày của các đương sự.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán và những người tiến hành tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, nguyên đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa nên Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp.
Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, cho ly hôn giữa chị Lê Thị H và anh Phạm Xuân H1; căn cứ các Điều 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình giao cho chị Lê Thị H trực tiếp nuôi con chung Phạm Lê Minh K, sinh ngày 09 tháng 01 năm 2019.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn chị Lê Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn anh Phạm Xuân H1 được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Vì vậy, căn cứ vào khoản 1 Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt các đương sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị H và anh Phạm Xuân H1 kết hôn hợp pháp. Cuộc sống vợ chồng của chị H và anh H1 không có hạnh phúc, vợ chồng đã sống ly thân trong nhiều năm, anh H1 không đến Tòa án để làm việc. Như vậy, mâu thuẫn trong quan hệ hôn nhân giữa chị Lê Thị H và anh Phạm Xuân H1 đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lê Thị H và anh Phạm Xuân H1 là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân gia đình.
[3] Về việc nuôi con: Xác định chị Lê Thị H và anh Phạm Xuân H1 có 01 con chung là Phạm Lê Minh K, sinh ngày 09 tháng 01 năm 2019, hiện con đang được anh Phạm Xuân H1 gửi cho mẹ đẻ là bà Trần Thị S trực tiếp nuôi dưỡng. Căn cứ vào điều kiện nuôi con và nguyện vọng của đương sự, kết quả thu thập chứng cứ, thấy có đủ cơ sở giao cho chị Lê Thị H trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Chị Lê Thị H không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét. Anh Phạm Xuân H1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở là phù hợp.
[4] Về án phí: Chị Lê Thị H là nguyên đơn nên phải nộp án phí ly hôn theo quy định pháp luật.
[5] Các đương sự đều vắng mặt nên có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; xử: Cho ly hôn giữa chị Lê Thị H và anh Phạm Xuân H1.
- Về việc nuôi con: Căn cứ các Điều 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; giao cho chị Lê Thị H trực tiếp nuôi con chung là Phạm Lê Minh K, sinh ngày 09 tháng 01 năm 2019. Anh Phạm Xuân H1 có trách nhiệm giao cháu Phạm Lê Minh K cho chị Lê Thị H trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Phạm Xuân H1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; buộc chị Lê Thị H phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo Biên lai thu số 0001836 ngày 16- 10- 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình. Chị Lê Thị H đã nộp đủ án phí.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
- Trong trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án và người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Ngọc Duyên |
4
Bản án số 91/2025/HNGĐ-ST ngày 10/12/2025 của Toà án nhân dân khu vực 10 – Ninh Bình về ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 91/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Toà án nhân dân khu vực 10 – Ninh Bình
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cho ly hôn
