TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 QUẢNG NINH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số 89/2025/HS-ST Ngày 02 - 12 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Phúc Định
Hội thẩm nhân dân: ông Đàm Chí Thân và ông Đinh Đức Thành
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Chung – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 - Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Quảng Ninh tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Mạnh Phong - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 12 năm 2025, tại phòng xử án Toà án nhân dân khu vực 2 - Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 70/2025/TLST-HS ngày 27 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 80/2025/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2025, đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm Văn Q, tên gọi khác: không có; sinh ngày 20 tháng 10 năm 1984 tại Quảng Ninh. Nơi thường trú: thôn E, xã E, tỉnh Đắk Lắk; nơi ở hiện tại: khu L, phường L, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn V và bà Nguyễn Thị B; có vợ là Nguyễn Thị Kim T, sinh năm 1984 (đã ly hôn); có 02 con, lớn sinh năm 2004, nhỏ sinh năm 2008; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: ngày 08/7/2015, bị Toà án nhân dân thị xã AyunPa, tỉnh Gia Lai xử phạt 36 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, ngày 05/6/2017 chấp hành xong bản án; ngày 02/7/2020, bị Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xử phạt 01 năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, ngày 23/5/2021 chấp hành xong bản án; bị bắt quả tang tạm giữ từ ngày 05/6/2025 đến ngày 11/6/2025, tạm giam từ ngày 11/6/2025, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q, có mặt tại phiên tòa.
Người chứng kiến:
- anh Lê Văn H, sinh năm 1976; nơi thường trú: khu L, phường L, tỉnh Quảng Ninh, có mặt tại phiên tòa.
- anh Vũ Quốc K, sinh năm 1991; nơi thường trú: khu L, phường L, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 07 giờ 30 phút ngày 05/6/2025 tại khu vực B, xã L, thị xã Q (nay là phường L), tỉnh Quảng Ninh, Tổ công tác thuộc Đoàn Đặc nhiệm phòng chống tội phạm ma túy số 1 - C phối hợp cùng Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Q, Công an xã L, thị xã Q và T1 Đội 1, Thủy Đ, Cục Cảnh sát giao thông bắt quả tang Phạm Văn Q có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý mục đích để sử dụng. Vật chứng thu giữ: thu trong túi quần bên phải phía trước Q đang mặc 05 gói giấy bạc màu trắng chứa khối lượng 0,94 gam ma tuý loại Heroine (Kết luận giám định số 353/KL-KTHS, ngày 05/6/2025 của Phòng K1 Công an thành phố H) và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu trắng kèm sim.
Quá trình điều tra, Phạm Văn Q khai nhận hành vi phạm tội như nội dung trên. Ngoài ra Q còn khai: nguồn gốc 05 gói ma tuý Heroine bị thu giữ là vào khoảng 06 giờ ngày 05/6/2025, Q đến khu vực sân bóng thuộc phường A, thành phố T (nay là phường T), thành phố Hải Phòng mua của một người không quen biết với giá 2.000.000 đồng; sau đó Q mang về khu vực B, phường L, tỉnh Quảng Ninh tìm nơi sử dụng thì bị lực lượng chức năng phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Cáo trạng số 04/CT-VKSKV2, ngày 24/10/2025, của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Quảng Ninh đã truy tố Phạm Văn Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Quảng Ninh giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị:
- Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Phạm Văn Q từ 18 tháng tù đến 24 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 05/6/2025. Hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với bị cáo;
- Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 1; điểm a khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy mẫu vật hoàn lại sau giám định trong 01 phong bì niêm phong số 353 của Phòng K1 Công an thành phố H;
- Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu trắng kèm sim;
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Phạm Văn Q khai nhận: Khoảng 06 giờ 00 phút, ngày 05/6/2025, do có nhu cầu sử dụng ma túy loại heroine nên một mình thuê xe ô tô taxi của một người đàn ông không quen biết chở đi đến khu vực sân bóng thuộc phường A, thành phố T (nay là phường T), thành phố Hải Phòng để tìm mua ma túy (do bị cáo Q nghe có người nói khu vực này có nhiều người bán ma túy, nếu muốn mua cứ đến hỏi sẽ có người bán, ai nói bị cáo Q không nhớ). Tại đây, bị cáo Q gặp và hỏi mua ma túy của một người đàn ông không quen biết, khoảng 60 tuổi, với giá: 2.000.000₫ (Hai triệu đồng) được 05 gói ma túy Heroine, bị cáo Q nhận ma túy cất giấu vào túi quần bên phải, phía trước đang mặc trên người rồi bảo người lái xe chở về. Đến 07 giờ 30 phút cùng ngày, khi đi đến khu vực bến L, xã L, thị xã Q (nay là phường L), tỉnh Quảng Ninh mục đích tìm nơi vắng người để sử dụng ma túy thì bị Tổ công tác của Đoàn đặc nhiệm phòng chống tội phạm ma túy số 1, C chủ trì phối hợp với Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy, Công an tỉnh Q, Công an xã L, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh và T1 đội 1, thuộc T1 đoàn 1, Cục C1, Bộ C2 phát hiện bắt quả tang bị cáo Q có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ 05 gói ma túy heroine của bị cáo Q; bị cáo không có ý kiến gì về nội dung Cáo trạng bị Viện kiểm sát đã truy tố và thấy bị đưa ra xét xử là đúng người đúng tội, bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát; nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử bị cáo mức hình phạt nhẹ nhất.
Người chứng kiến: anh Lê Văn H, anh Vũ Quốc K, có lời khai trong quá trình điều tra có trong hồ sơ thể hiện được Công an mời chứng kiến việc bắt quả tang bị cáo Q tàng trữ trái phép chất ma túy, phù hợp với nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của bị cáo Q trong quá trình điều tra và tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]Về các tài liệu, chứng cứ, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, của Điều tra viên, của Viện kiểm sát, của Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, không có ý kiến hoặc khiếu nại về các tài liệu, chứng cứ, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các tài liệu, chứng cứ, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về việc định tội đối với bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Phạm Văn Q thừa nhận hành vi đã thực hiện như nội dung Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo Phạm Văn Q tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai xác nhận của người chứng kiến và nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ của bị cáo, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 07 giờ 30 phút, ngày 05/6/2025 tại khu vực B, phường L, tỉnh Quảng Ninh, Phạm Văn Q đã có hành vi tàng trữ trái phép khối lượng 0,94 gam ma túy loại Heroine mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng. Bị cáo là người thành niên, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, tuy biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì hành vi đó đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý chất ma tuý của Nhà nước. Do đó, hành vi của bị cáo Phạm Văn Q đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do bị cáo thực hiện hành vi phạm tội trước ngày Bộ luật Hình sự 2025 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2025) quy định về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” nặng hơn Bộ luật Hình sự 2015. Nên áp dụng Bộ luật Hình sự 2015 có lợi cho bị cáo, xét xử bị cáo Phạm Văn Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Quảng Ninh truy tố bị cáo và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[3] Về hình phạt:
[3.1]Hình phạt chính:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
- Về tính chất, mức độ phạm tội bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an xã hội, bị cáo có nhân thân xấu: Ngày 08/7/2015, bị Toà án nhân dân thị xã AyunPa, tỉnh Gia Lai xử phạt 36 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, ngày 05/6/2017 chấp hành xong bản án. Ngày 02/7/2020, bị Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xử phạt 01 năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, ngày 23/5/2021 chấp hành xong bản án. Vì vậy phải có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới đảm bảo tính giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung tội phạm.
Để tăng cường biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm nói chung cũng như để giáo dục, cải tạo riêng đối với bị cáo, cần có một hình phạt nghiêm, xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để rèn luyện, giáo dục bị cáo sửa chữa lỗi lầm của bản thân để trở thành công dân tốt.
[3.2] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy hiện nay bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[4] Về xử lý vật chứng:
- Đối với mẫu vật hoàn lại sau giám định trong 01 phong bì niêm phong số 353 của Phòng K1 Công an thành phố H và phong bì niêm phong, đây là chất Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và không còn giá trị sử dụng, nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu trắng kèm sim thu giữ của bị cáo, bị cáo không dùng vào việc phạm tội, nên trả lại cho bị cáo;
[5] Về các tình tiết khác trong vụ án:
- Đối với đối tượng theo bị cáo khai đã bán ma túy cho bị cáo tại thành phố Hải Phòng, quá trình điều tra không xác định được con người cụ thể nên không có căn cứ xử lý.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[7] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Tuyên bố: bị cáo Phạm Văn Q phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- - Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
- - Xử phạt bị cáo Phạm Văn Q 18 (Mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 05/6/2025.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - Tịch thu tiêu hủy: mẫu vật hoàn lại sau giám định trong 01 (Một) phong bì niêm phong số 353 của Phòng K1 Công an thành phố H và phong bì niêm phong;
- - Trả lại cho bị cáo 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu trắng kèm sim thu giữ của bị cáo;
(Toàn bộ số vật chứng, tài sản trên có đặc điểm và tình trạng như Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 07/THADS-KV2, vào hồi 10 giờ, 30 phút, ngày 24 tháng 10 năm 2025 (Theo quyết định chuyển vật chứng số 03/QĐ-VKS-KV2, ngày 24/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Quảng Ninh) giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Q với Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2 - Quảng Ninh).
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 3; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBNTQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ: khoản 1 Điều 331; khoản 1, khoản 3 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Phúc Định |
Bản án số 89/2025/HS-ST ngày 02/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - QUẢNG NINH về tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 89/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn Quang phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”
