TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - LÀO CAI TỈNH LÀO CAI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 87/2025/HS-ST. Ngày 16/12/2025. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Ngọc Thanh.
- - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Tuấn Thịnh.
- Bà Hoàng Thị Bích Phượng.
- - Thư ký phiên toà: Bà Lê Phương Thảo – Thư ký, Tòa án nhân dân khu vực 6 - Lào Cai, tỉnh Lào Cai.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Lào Cai, tỉnh Lào Cai, tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phương T - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 - Lào Cai, tỉnh Lào Cai, mở phiên toà công khai, xét xử sơ thẩm, vụ án hình sự thụ lý số: 50/2025/TLHS-ST ngày 13 tháng 10 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Lê Ngọc M - Sinh ngày 12/12/1990 tại tỉnh Yên Bái (nay là tỉnh Lào Cai); giới tính: Nam. Nơi đăng ký thường trú: Thôn A M, xã T, tỉnh Lào Cai. Nơi ở: Thôn L, xã C, tỉnh Lào Cai. Nghề nghiệp: Kinh doanh; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Lê Văn Y - Sinh năm 1956 và bà: Đào Thị T1 - Sinh năm 1952. Bị cáo có vợ là: Trần Thị T2 - Sinh năm 1993 (Đã ly hôn tháng 10/2023). Bị cáo có 01 người con sinh năm 2020. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Tốt. Bị cáo Lê Ngọc M bị áp dụng biện pháp ngăn chặn "Cấm đi khỏi nơi cư trú". Hiện đang được tại ngoại tại thôn L, xã C, tỉnh Lào Cai, (Có mặt).
2. Họ và tên: Lại Xuân Đ1 - Sinh ngày 28/6/1993 tại tỉnh Phú Thọ; giới tính: Nam. Nơi đăng ký thường trú và nơi ở: Khu E, xã P, tỉnh Phú Thọ. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Lại Hồng Đ - Sinh năm 1968 và bà: Nguyên Thị T3 - Sinh năm 1976. Bị cáo có vợ là Phạm Thu T4 - Sinh năm 1999. Bị cáo có 02 người con, con lớn sinh năm 2021, con nhỏ sinh năm 2022. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Tại bản án số: 39/2014/HSST ngày 15/5/2014 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ xử phạt Lại Xuân Đ1 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm về tội “Chứa mại dâm”. Lại Xuân Đ1 đã chấp hành xong bản án, đến nay đã được xóa án tích. Bị cáo Lại Xuân Đ1 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn "Cấm đi khỏi nơi cư trú". Hiện đang được tại ngoại tại khu E, xã P, tỉnh Phú Thọ, (Có mặt).
2
Người bào chữa cho bị cáo Lại Xuân Đ1 là ông Hà Tiến D – Luật sư, Công ty L1, thuộc đoàn Luật sư tỉnh Lào Cai. Địa chỉ: Số D, đường T, phường L, tỉnh Lào Cai (Có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Ông Đặng Văn T5 – Sinh năm: 1982. Chức danh: Giám đốc - Công ty TNHH một thành viên T9. Địa chỉ: Tổ H B, phường C, tỉnh Lào Cai, (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Ngày 11/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L tiếp nhận tin báo về tội phạm từ Chi cục thuế khu vực L2 (Nay là đội thuế liên huyện L - M thuộc Chi cục thuế khu vực V) về việc Công ty TNHH T10, mã số doanh nghiệp: 5300811689, do ông Lê Ngọc M là giám đốc, từ tháng 01/2023 đến tháng 12/2024 có dấu hiệu mua bán trái phép hoá đơn.
Quá trình điều tra xác định: Ngày 18/01/2023, Lê Ngọc Minh L thủ tục đăng ký thành lập Công ty TNHH T10 theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp do Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Lào Cai cấp, mã số doanh nghiệp: 5300811689, ngành nghề kinh doanh của công ty là kinh doanh các mặt hàng vật liệu xây dựng như cát, xi măng, đá, vận chuyển vật liệu xây dựng. Do Lê Ngọc M không có hộ khẩu thường trú tại tỉnh Lào Cai nên Lê Ngọc Minh đăng K tên giám đốc là người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH T10 là chị Trần Thị T2 (Vợ của Lê Ngọc M, đã ly hôn tháng 10/2023). Toàn bộ việc quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh của Công ty TNHH T10 đều do Lê Ngọc M thực hiện. Ngày 24/6/2024, Lê Ngọc M đã làm thủ tục đăng ký thay đổi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, thay đổi chức danh giám đốc và người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH T10 từ chị Trần Thị T2 sang tên Lê Ngọc M. Quá trình kinh doanh mặt hàng cát xây dựng, thông qua các lái xe vận tải, Lê Ngọc M đã mua trôi nổi mặt hàng cát tại các mỏ, bãi cát ở các tỉnh Yên Bái, Phú Thọ nhưng không lập hợp đồng mua bán, không có chứng từ liên quan. Sau đó, chở cát về tập kết tại kho của Công ty TNHH T10 thuê tại thôn L, xã C, tỉnh Lào Cai để bán lại cho các cá nhân, tổ chức có nhu cầu. Để hợp thức hoá khối lượng cát mua vào của Công ty TNHH T10, Lê Ngọc M đã nảy sinh ý định mua hoá đơn giá trị gia tăng (Hóa đơn GTGT) đầu vào để lập chứng từ kê khai thuế nhằm mục đích trốn thuế. Vào tháng 4/2023, thông qua các lái xe chở cát giới thiệu, Lê Ngọc M đã liên hệ với Lại Xuân Đường đặt vấn đề mua hóa đơn đầu vào mặt hàng cát. Sau khi trao đổi Lê Ngọc M và Lại Xuân Đ1 đã thống nhất về giá tiền mua bán hoá đơn là 15% giá trị hàng hoá ghi trên hoá đơn chưa có thuế VAT. Lê Ngọc M đã nhiều lần gọi điện thoại hoặc nhắn tin qua ứng dụng Zalo để mua của Lại Xuân Đ1 tổng số 09 hoá đơn GTGT mặt hàng cát mà không có hàng hoá thực tế kèm theo. Khối lượng cát ghi trên 09 hoá đơn GTGT là 27.000m³, giá trị hàng hoá trên hoá đơn (chưa có thuế VAT) là 4.020.000.000VNĐ, số tiền hàng hoá (đã có thuế VAT) là 4.422.000.000VNĐ, thuế GTGT là 402.000.000VNĐ.
3
Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành làm việc với Lại Xuân Đường, đã xác định được Lại Xuân Đ1 thông qua 04 Công ty gồm: Công ty Trách nhiệm hữu hạn T11; Công ty Trách nhiệm hữu hạn T12; Công ty Trách nhiệm hữu hạn T13; Công ty Trách nhiệm hữu hạn T14, bán trái phép 09 hóa đơn GTGT cho Lê Ngọc M mà không có hàng hoá thực tế, thu lợi bất chính số tiền 651.000.000VNĐ. Khi có nhu cầu mua hóa đơn GTGT, Lê Ngọc M trao đổi với Lại Xuân Đường về số lượng hóa đơn GTGT cần mua, khối lượng cát và đơn giá ghi trên hóa đơn. Sau đó, lại Xuân Đ1 tính số tiền chi phí mua hoá đơn rồi báo lại cho Lê Ngọc M. Để tránh cơ quan chức năng phát hiện, Lê Ngọc M và Lại Xuân Đ1 thống nhất, Lê Ngọc M sử dụng tài khoản của Công ty TNHH T10 chuyển khoản số tiền hàng hoá đã bao gồm thuế GTGT được ghi trên hóa đơn GTGT vào tài khoản do Lại Xuân Đ1 chỉ định là tài khoản của công ty M1 sẽ xuất hoá đơn cho Lê Ngọc M. Sau khi nhận được tiền, Lại Xuân Đ1 sẽ xuất hóa đơn điện tử rồi gửi cho Lê Ngọc Minh qua Z, đồng thời Lại Xuân Đ1 gửi cho Lê Ngọc Minh B hợp đồng mua bán, biên bản giao nhận hàng hóa qua đường chuyển phát nhanh để hợp thức hóa cho việc không có mua bán hàng hóa thực tế. Sau khi nhận được giấy tờ, Lê Ngọc M hoàn thiện các chứng từ, đóng dấu Công ty TNHH T10 rồi gửi lại cho Lại Xuân Đ1. Đối với số tiền Lê Ngọc M chuyển khoản, cả hai thống nhất số tiền còn lại, sau khi trừ đi số tiền mua bán hóa đơn thì vẫn để cho Lại Xuân Đ1 giữ lại để thực hiện việc mua bán các lần tiếp sau. Số tiền bán hóa đơn cho Lê Ngọc M, Lại Xuân Đ1 chuyển từ tài khoản của các công ty vào tài khoản cá nhân của Lại Xuân Đ1 để chi tiêu cá nhân.
Cụ thể các lần chuyển tiền mua bán hóa đơn: Từ ngày 28/4/2023 đến ngày 09/5/2023, Lê Ngọc M đã thực hiện 04 giao dịch chuyển khoản cho Lại Xuân Đ1 từ tài khoản của Công ty T10 vào tài khoản của Công ty T11 với tổng số tiền là 176.000.000VNĐ. Lại Xuân Đ1 đã bán cho Lê Ngọc M 01 hoá đơn GTGT đã ghi nội dung là Hoá đơn số: 24 ngày 30/4/2023 của Công ty T11 xuất cho Công ty T10, khối lượng cát trên hoá đơn là 1.000 m³ cát xây dựng, tổng giá trị hàng hoá trên hoá đơn (chưa có thuế GTGT) 160.000.000VNĐ, tổng giá trị hàng hoá trên hoá đơn (đã bao gồm thuế GTGT) là 176.000.000VNĐ. Số tiền mà Lê Ngọc M chi phí để mua 01 hoá đơn trên là 160.000.000VNĐ x 15% = 24.000.000VNĐ.
Từ ngày 01/12/2023 đến ngày 05/12/2023, Lê Ngọc M đã mua của Lại Xuân Đ1 07 hoá đơn GTGT mặt hàng cát, tổng khối lượng cát trên hoá đơn là 21.000 m³, đơn giá là 160.000VNĐ/01m³. Lê Ngọc M đã thực hiện 03 giao dịch chuyển khoản cho Lại Xuân Đ1 từ tài khoản của Công ty T10 vào tài khoản của Công ty T12 với tổng số tiền là 500.000.000VNĐ và 03 giao dịch chuyển khoản cho Lại Xuân Đ1 vào tài khoản của Công ty T13 với tổng số tiền là 500.000.000VNĐ. Tổng số tiền Lê Ngọc M chuyển khoản cho Lại Xuân Đ1 là 1.000.000.000VNĐ nhưng Lê Ngọc Minh C bỏ ra số tiền là 400.000.000VNĐ, còn lại 600.000.000VNĐ Lê Ngọc M được Lại Xuân Đ1 cho mượn tiền để Lê Ngọc M chuyển khoản vào 02 tài khoản của 02 công ty trên với mục đích để phù hợp với hàng hoá đầu vào. 07 hoá đơn GTGT đã ghi nội dung cụ thể là: 04 hoá đơn GTGT đã ghi nội dung của người bán là Công ty T12 (Hoá đơn số 309, ký
4
hiệu C23TDT, ngày 01/12/2023; hoá đơn số 313, ký hiệu C23TDT, ngày 04/12/2023; hoá đơn số 318, ký hiệu C23TDT, ngày 05/12/2023; hoá đơn số 331, ký hiệu C23TDT, ngày 09/12/2023). 04 hoá đơn GTGT đều thể hiện các nội dung là mặt hàng cát xây dựng, khối lượng cát trên mỗi hoá đơn là 3.000m³, giá trị hàng hoá trước thuế là 480.000.000VNĐ, giá trị hàng hoá sau thuế là 528.000.000VNĐ. 03 hoá đơn GTGT đã ghi nội dung của người bán là Công ty T13 (Hoá đơn số 328, ký hiệu C23TMD, ngày 01/12/2023; hoá đơn số 331, ký hiệu C23TMD, ngày 05/12/2023; hoá đơn số 342, ký hiệu C23TMD, ngày 09/12/2023). 03 hoá đơn GTGT đều thể hiện các nội dung là mặt hàng cát xây dựng, khối lượng cát trên mỗi hoá đơn là 3.000m³, giá trị hàng hoá trước thuế là 480.000.000VNĐ, giá trị hàng hoá sau thuế là 528.000.000VNĐ. Tổng khối lượng cát trên 07 hoá đơn GTGT trên là 21.000 m³, tổng giá trị hàng hoá trên hoá đơn (chưa bao gồm thuế VAT) là 3.360.000.000VNĐ, tổng giá trị hàng hoá trên hoá đơn (sau thuế VAT) là 3.720.000.000VNĐ. Số tiền mà Lê Ngọc M chi phí để mua 07 hoá đơn trên là 3.360.000.000VNĐ x 15% = 504.000.000VNĐ.
Tháng 4/2024, Lê Ngọc M mua 01 hoá đơn của Lại Xuân Đ1, khối lượng cát trên hoá đơn là 5.000m³, đơn giá là 100.000VNĐ/01m³. Ngày 27/4/2024, Lê Ngọc M đã có chuyển khoản số tiền là 75.000.000VNĐ từ tài khoản cá nhân của Lê Ngọc M vào tài khoản cá nhân của Lại Xuân Đ1 để mua 01 hoá đơn GTGT số: 67, ký hiệu hoá đơn là 1C24TCT, ngày 27/4/2024, khối lượng cát hoá đơn là 5.000 m³ cát đen, đơn vị bán hàng là Công ty T14, tổng giá trị hàng hoá trên hoá đơn (chưa bao gồm thuế VAT) 500.000.000VNĐ, tổng giá trị hàng hoá trên hoá đơn (Đã có thuế VAT) là 550.000.000VNĐ. Số tiền mà Lê Ngọc M chi phí để mua 01 hoá đơn trên là 500.000.000VNĐ x 15% = 75.000.000VNĐ.
Từ tháng 04/2023 đến tháng 04/2024, Lê Ngọc M đã mua trái phép hoá đơn GTGT đầu vào của Lại Xuân Đ1 đã ghi nội dung do các Công ty T11, Công ty T12, Công ty T13 và Công ty T14 xuất ra tổng số 09 hoá đơn, tổng giá trị tiền hàng hoá (chưa thuế VAT) ghi trên hoá đơn là số tiền là 4.020.000.000VNĐ với giá 15% giá trị tiền hàng ghi trên hoá đơn. Số tiền mua 09 hoá đơn khống mà Lê Ngọc M phải trả cho Lại Xuân Đ1 là 4.020.000.000VNĐ x 15% = 603.000.000VNĐ. Ngoài ra, tháng 01/2024, Lê Ngọc M đã thống nhất với Lại Xuân Đ1 mua thêm 01 hoá đơn GTGT để khớp với số tiền mà Lại Xuân Đ1 còn giữ lại của Lê Ngọc M là 48.000.000VNĐ. Nhưng Lại Xuân Đ1 chưa xuất hoá đơn cho Lê Ngọc M. Tổng số tiền mà Lại Xuân Đ1 đã thu lời bất chính từ việc bán trái phép hóa đơn GTGT cho Lê Ngọc M là: 603.000.000 VNĐ + 48.000.000VNĐ = 651.000.000VNĐ.
Quá trình điều tra, xác định Lê Ngọc M đã bán trái phép 01 hoá đơn GTGT đã ghi nội dung cho Công ty TNHH một thành viên T9, hoá đơn GTGT số: 68 ngày 16/9/2023, khối lượng cát ghi trên hoá đơn là 30m³, nhưng không có hàng hoá thực tế kèm theo, với đơn giá là 47.000VNĐ/01m³. Số tiền Lê Ngọc Minh B1 hoá đơn thu lợi bất chính số tiền là 1.400.000VNĐ.
Sau khi mua 09 hoá đơn GTGT khống của Lại Xuân Đ1, Lê Ngọc M đã sử dụng tokken (Chữ ký số) của Giám đốc Công ty TNHH T10, đăng nhập vào tài khoản của Công ty TNHH T10 trên trang Web “Hệ thống Thuế điện tử” của
5
Cơ quan thuế để báo cáo doanh thu, kê khai thuế GTGT để được khấu trừ thuế GTGT và kê khai 08 hoá đơn GTGT đầu vào để quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2023 với mục đích làm tăng chi phí đầu vào, làm giảm doanh thu. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L đã trưng cầu Chi cục Thuế khu vực VIII tiến hành giám định về số tiền trốn thuế của Công ty TNHH T10 và 04 Công ty do Lại Xuân Đ1 thành lập gồm (Công ty T11, Công ty T12, Công ty T13, Công ty T14).
Kết luận giám định ngày 22/5/2025 của Chi cục Thuế khu vực V đã kết luận: Công ty TNHH T10 đã mua trái phép 09 hoá đơn đầu vào mặt hàng cát xây dựng các loại không có hàng hoá thực tế kèm theo. Công ty TNHH T10 là: 402.000.000VNĐ. Công ty TNHH T10 kê khai 08 hóa đơn vào kỳ kê khai thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2023 trốn thuế thu nhập doanh nghiệp là 704.000.000VNĐ. Tổng số tiền Công ty TNHH T10 trốn thuế là: 1.106.000.000VNĐ (Một tỷ, một trăm linh sáu triệu đồng). Các doanh nghiệp: Công ty TNHH T11; Công ty TNHH T12; Công ty TNHH T13 và Công ty TNHH T14, không xác định được số tiền thuế trốn của 04 công ty này, do 09 hóa đơn giám định là hóa đơn bán ra. Tờ khai thuế giá trị gia tăng không có bảng kê chi tiết thông tin của hóa đơn mua vào, bán ra. Báo cáo tài chính, tờ khai quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp không có chi tiết doanh thu và hóa đơn bán ra.
Cơ quan điều tra đã thu giữ của Lê Ngọc M: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi, màu đen, đã qua sử dụng; 11 quyển sổ có bìa màu xanh, khổ giấy A4; 05 quyển sổ có bìa màu đen, có kích thước 21 x16 cm; 01 hộp dấu màu đỏ của “CÔNG TY TNHH T10”, M.S.D.N: 5300811689 – C.T.T.N.H.H; 01 dấu chức danh “PHÓ GIÁM ĐỐC” mang tên Lê Ngọc M; 01 dấu chức danh “GIÁM ĐỐC” mang tên Trần Thị T2; 01 dấu chức danh “GIÁM ĐỐC” mang tên Lê Ngọc M; 01 USB token nhãn hiệu One-ca; 01 Case máy tính màu đen, nhãn hiệu GLOWY đã qua sử dụng. Thu giữ của Lại Xuân Đ1 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu IPHONE 13 Pro, đã qua sử dụng.
Bản cáo trạng số: 09/CT-VKS ngày 28/7/2025, của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - tỉnh Lào Cai, truy tố bị cáo Lê Ngọc M về tội “In, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước” theo quy định tại khoản 1, Điều 203 Bộ luật hình sự và tội “Trốn thuế” theo quy định tại khoản 3, Điều 200 Bộ luật hình sự. Truy tố bị cáo Lại Xuân Đ1 về tội “In, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước” theo quy định tại điểm đ, khoản 2, Điều 203 Bộ luật hình sự.
Lời khai nhận tội của các bị cáo Lê Ngọc M và Lại Xuân Đ1 tại phiên toà phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Lào Cai, tỉnh Lào Cai đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Ngọc M phạm tội “In, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước” và tội
6
“Trốn thuế”. Đề nghị tuyên bố bị cáo Lại Xuân Đ1 phạm tội “In, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước”.
Đề nghị áp dụng khoản 3, 4 Điều 200; khoản 1, 3 Điều 203; Điều 38; điểm s, khoản 1, Điều 51; Điều 55 Bộ luật hình sự.
Hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Lê Ngọc M từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Trốn thuế”.
Xử phạt bị cáo Lê Ngọc M từ 06 tháng đến 09 tháng tù về tội “In, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước”.
Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Lê Ngọc M phải chấp hành hình phạt chung cho cả 2 tội từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm 03 tháng tù.
Hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo Lê Ngọc M số tiền từ 30.000.000VNĐ đến 40.000.000VNĐ sung vào ngân sách nhà nước.
Đề nghị áp dụng điểm đ, khoản 2, Điều 203; Điểm s, khoản 1, 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật hình sự.
Đề nghị xử phạt bị cáo Lại Xuân Đ1 hình phạt chính là phạt tiền với số tiền từ 300.000.000VNĐ đến 350.000.000VNĐ nộp vào ngân sách nhà nước.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Lại Xuân Đ1.
Ngoài ra đề nghị Hội đồng xét xử, truy thu khoản tiền bị cáo Lê Ngọc M và bị cáo Lại Xuân Đ1 thu lợi bất chính, xử lý vật chứng và tuyên án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo cho các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án theo quy định của pháp luật.
Ý kiến luật sư bào chữa cho bị cáo Lại Xuân Đ1 tại phiên toà trình bầy: Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Lào Cai, tỉnh Lào Cai truy tố bị cáo Lại Xuân Đ1 về tội “In, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước” là đúng. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo Lại Xuân Đ1 đã thật thà khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải. Bị cáo phạm tội trong lĩnh vực quản lý kinh tế, bị cáo đã tự nguyện nộp số tiền 250.000.000VNĐ để đảm bảo thi hành án. Ngoài ra bị cáo Lại Xuân Đ1 có ông nội là Lại Văn K1 được nhà nước tặng thưởng Huy chương chiến sĩ vẻ vang. Hiện nay Lại Xuân Đ1 là lao động duy nhất trong gia đình nuôi vợ và hai con chưa đến tuổi lao động. Từ năm 2022 đến nay bị cáo Lại Xuân Đ1 đang nhận chu cấp học phí và các khoản tiền phục vụ nhu cầu học tập cho 02 cháu học sinh mầm non hoàn cảnh đặc biệt khó khăn tại Trường mầm non P1. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến tính chất mức độ hành vi phạm tội và điều kiện của bị cáo Lại Xuân Đ1, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm s, khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 35 Bộ luật hình sự, áp dụng hình phạt chính là phạt bị cáo Lại Xuân Đ1 một khoản tiền phù hợp sung vào ngân sách nhà nước.
Tại phiên tòa các bị cáo Lê Ngọc M và bị cáo Lại Xuân Đ1 không có ý kiến tranh luận với nội dung bản luận tội của Kiểm sát viên. Bị cáo Lê Ngọc M đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo, bị cáo Lại Xuân Đ1 đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
7
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh L, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Lào Cai, tỉnh Lào Cai, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Hội đồng xét xử; Kiểm sát viên thực hiện quyền công tố; Thư ký phiên tòa, đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng; người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Quá trình tranh tụng tại phiên tòa, đã có đủ cơ sở để kết luận: Đối với bị cáo Lê Ngọc M, trong khoảng thời gian từ tháng 4/2023 đến tháng 4/2024 bị cáo Lê Ngọc M đã có hành vi mua 09 hóa đơn giá trị gia tăng từ 04 công ty (Công ty T11, Công ty T12, Công ty T13, Công ty T14) do bị cáo Lại Xuân Đ1 thành lập (Không có hàng hóa thực tế) với tổng giá trị tiền hàng ghi trên các hoá đơn là: 4.020.000.000VNĐ, tiền thuế 10% là: 402.000.000VNĐ để hợp thức hóa mặt hàng cát xây dựng đầu vào của Công ty TNHH T10 với mục đích trốn số tiền thuế giá trị gia tăng là: 402.000.000VNĐ và thuế thu nhập doanh nghiệp là : 704.000.000 VNĐ. Tổng số tiền bị cáo Lê Ngọc M trốn thuế là: 1.106.000.000VNĐ. Ngoài ra, Lê Ngọc M đã bán trái phép 01 hoá đơn GTGT cho Công ty TNHH một thành viên T9 khối lượng hàng ghi trên hoá đơn là 30 m³ cát (Không có hàng hoá thực tế), đơn giá là 47.000VNĐ/01 m³, thu lợi bất chính số tiền là 1.400.000VNĐ. Hành vi của bị cáo Lê Ngọc M đã phạm vào tội “In, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước” và tội “Trốn thuế”. Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Lào Cai, tỉnh Lào Cai truy tố bị cáo Lê Ngọc M theo quy định tại khoản 1, Điều 203 và khoản 3, Điều 200 Bộ luật hình sự, là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Đối với bị cáo Lại Xuân Đ1 đã thuê người đứng tên thành lập 04 công ty gồm: Công ty TNHH T11, Công ty TNHH T12, Công ty TNHH T13, Công ty TNHH T15 T5 để thực hiện hoạt động kinh doanh vật liệu xây dựng. Lại Xuân Đ1 là người quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh của các công ty từ khi thành lập. Trong khoảng thời gian từ tháng 04/2023 đến tháng 04/2024, bị cáo Lại Xuân Đ1 đã có hành vi bán trái phép 09 hoá đơn GTGT (Không có hàng hóa thực tế) cho bị cáo Lê Ngọc M, với số tiền bán hóa đơn là 15% giá trị tiền hàng ghi trên hoá đơn. Tổng số tiền bị cáo Lại Xuân Đ1 đã thu lợi bất chính từ việc bán trái phép hóa đơn cho bị cáo Lê Ngọc M là 651.000.000VNĐ. Hành vi của bị cáo Lại Xuân Đ1 đã phạm vào tội “In, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước”. Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Lào Cai, tỉnh Lào Cai truy tố bị cáo Lại Xuân Đ1 theo quy định tại điểm đ, khoản 2, Điều 203 Bộ luật hình sự, là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm
8
thuế, tài chính của nhà nước, gây mất ổn định trong việc quản lý kinh tế trên địa bàn tỉnh Lào Cai. Bản thân các bị cáo là những người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rất rõ việc mua bán hóa đơn không có hàng hóa, dịch vụ để hạch toán, kê khai trốn thuế là vi phạm pháp luật. Nhưng các bị cáo Lê Ngọc M và bị cáo Lại Xuân Đ1 do muốn hưởng lợi đã không có ý thức chấp hành pháp luật, nên việc đưa các bị cáo ra xét xử trước pháp luật là cần thiết và phải xử phạt các bị cáo với mức án phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo, để góp phần phòng ngừa chung.
Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay các bị cáo đều đã thật thà khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải. Ngoài ra bị cáo Lại Xuân Đ1 có ông nội là Lại Văn K1 được nhà nước tặng thưởng Huy chương chiến sĩ vẻ vang. Vì vậy, cũng cần coi đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để xem xét khi lượng hình đối với các bị cáo theo quy định tại điểm s, khoản 1, 2 điều 51 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà bị cáo Lê Ngọc M đề nghị xem xét cho bị cáo được hưởng án treo. Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo Lê Ngọc Minh P 02 tội, trong đó có tội “Trốn thuế” bị truy tố theo quy định tại khoản 3, Điều 200 Bộ luật hình sự là tội phạm nghiêm trọng. Bản thân bị cáo Lê Ngọc M không có đủ các điều kiện (Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự) để được hưởng án treo. Do đó, đề nghị của bị cáo Lê Ngọc M không có cơ sở để được chấp nhận.
Hội đồng xét xử xét thấy: Đối với bị cáo Lại Xuân Đ1 phạm tội trong lĩnh vực quản lý kinh tế. Hiện là lao động chính trong gia đình nuôi vợ và hai con chưa thành niên. Lại Xuân Đ1 có khả năng kinh tế, từ năm 2022 đến nay bị cáo Lại Xuân Đ1 đang nhận chu cấp học phí cùng các khoản tiền phục vụ nhu cầu học cho 02 cháu học sinh mầm non có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn tại Trường mầm non P1. Ngoài ra bị cáo đã tự nguyện nộp số tiền 250.000.000VNĐ để đảm bảo thi hành án. Vì vậy, đối với bị cáo Lại Xuân Đ1 không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cần căn cứ vào tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, áp dụng hình phạt chính là phạt một khoản tiền phù hợp sung vào ngân sách nhà nước theo quy định tại điều 35 Bộ luật hình sự, cũng đủ điều kiện để răn đe, giáo dục đối với bị cáo, thể hiện tính nhân văn của pháp luật hiện hành.
[3] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy, đối với bị cáo Lê Ngọc M, cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt một khoản tiền sung vào ngân sách nhà nước, theo quy định tại khoản 4, Điều 200 và khoản 3, Điều 203 Bộ luật hình sự.
Trong vụ án này còn có một số tổ chức và cá nhân có liên quan: Đối với chị Trần Thị T2 (Là vợ của bị cáo Lê Ngọc M, hiện đã ly hôn). Quá trình điều tra xác định, chị Trần Thị T2 giữ chức danh giám đốc, người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH T10 từ ngày 18/01/2023 đến ngày 23/6/2024, nhưng trên thực tế việc điều hành, quản lý hoạt động kinh doanh, sử dụng con dấu, chữ ký số, sử dụng tài khoản ngân hàng của Công ty TNHH T10 đều do Lê Ngọc M thực hiện. Chị Trần Thị T2 không biết và không liên quan đến việc mua bán hóa
9
đơn của bị cáo Lê Ngọc M với bị cáo Lại Xuân Đ1, nên cơ quan Cảnh sát điều tra không đề cập xử lý.
Đối với chị Phạm Thị Thu T6 là kế toán của Công ty cổ phần Đ2, là người được Lê Ngọc Minh N giúp làm công việc kiểm tra, thống kê số liệu về khối lượng hàng hoá, hoá đơn đầu vào, đầu ra mặt hàng cát để Lê Ngọc M làm báo cáo giải trình với cơ quan thuế. Chị Phạm Thị Thu T6 không tham gia vào hoạt động kinh doanh của Công ty TNHH T10 và cũng không biết, không liên quan đến việc Lê Ngọc M mua bán trái phép hóa đơn GTGT, nên cơ quan Cảnh sát điều tra không đề cập xử lý.
Đối với 83 doanh nghiệp, cá nhân Công ty TNHH T10 đã xuất hoá đơn đầu ra mặt hàng vật liệu xây dựng. Cơ quan điều tra đã làm việc với tất cả các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp, kết quả xác định: Đối với Công ty TNHH một thành viên T9 do ông Đặng Văn T5 là Giám đốc đã có hành vi mua bán trái phép 01 hoá đơn GTGT của Công ty TNHH T10 với giá tiền là 1.400.000VNĐ, khối lượng cát xây dựng ghi trên hóa đơn là 30m³, giá trị hàng hoá trước thuế là 6.818.190VNĐ, cả thuế là 7.500.009VNĐ, thuế GTGT là 681.819VNĐ. Hành vi của ông Đặng Văn T5 chưa đủ yếu tố cấu thành tội mua bán trái phép hóa đơn, Cơ quan điều tra chuyển hồ sơ vi phạm đến cơ quan thuế để xử lý vi phạm hành chính đối với ông Đặng Văn T5 - Giám đốc Công ty T9. Đối với các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp còn lại, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành điều tra, xác minh thu thập tài liệu chứng cứ, xác định Công ty TNHH T10 đã xuất hóa đơn kèm theo việc bán hàng hóa thực tế đúng với nội dung trên hoá đơn, hồ sơ chứng từ kế toán được quyết toán đầy đủ đúng quy định, nên cơ quan Cảnh sát điều tra không đề cập xử lý.
Đối với 04 Công ty do bị cáo Lại Xuân Đ1 thành lập, quản lý, điều hành gồm: Công ty TNHH T12, Công ty TNHH T13, Công ty TNHH T14 và Công ty TNHH T11 để kinh doanh mua bán vật liệu xây dựng và hưởng các chính sách ưu đãi của nhà nước cho doanh nghiệp mới thành lập. Quá trình kinh doanh, bị cáo Lại Xuân Đ1 đã bán cát xây dựng cho nhiều cá nhân khác nhau với hình thức nhỏ lẻ. Do những cá nhân mua cát xây dựng của bị cáo Lại Xuân Đ1 không cần xuất hoá đơn, nên bị cáo Lại Xuân Đ1 đã sử dụng số lượng mặt hàng cát xây dựng đó để ghi vào 09 hoá đơn GTGT (Không có hàng hóa thực tế) bán cho bị cáo Lê Ngọc M. Đối với 09 hoá đơn GTGT này, bị cáo Lại Xuân Đ1 đã thực hiện kê khai thuế GTGT theo quy định. Chi cục Thuế khu vực V cũng đã có kết luận giám định không xác định được số tiền trốn thuế của 04 công ty này, do đó không có đủ cơ sở để xử lý về hành vi trốn thuế.
Đối với những người do bị cáo Lại Xuân Đ1 thuê đứng tên là Giám đốc, người đại diện theo pháp luật của 04 Công ty, gồm: Anh Phạm Đức T7; anh Lê C1; anh Lê Ngọc Á và anh Lã Xuân D1. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành xác minh, đến nay các công ty đều đã dừng hoạt động kinh doanh. Anh Phạm Đức T7, anh Lê Công B2 và anh Lê Ngọc Á vắng mặt tại địa phương, không biết đi đâu, làm gì. Anh Lã Xuân Đ1 đã chết từ ngày 27/6/2014. Những người này do bị cáo Lại Xuân Đ1 lấy tên thành lập các công ty. Việc quản lý, điều hành, soạn thảo hợp đồng, các biên bản giao nhận, phát hành hoá đơn đều do bị
10
cáo Lại Xuân Đ1 thực hiện, anh Phạm Đức T7, anh Lê Công B2, anh Lê Ngọc Á đều không liên quan đến việc Lại Xuân Đ1 mua bán trái phép hóa đơn giá trị gia tăng với Lê Ngọc M, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không đề cập xử lý.
Hội đồng xét xử xét thấy là đúng quy định của pháp luật, nên không đề cập xử lý trong vụ án này.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Hành vi của bị cáo Lê Ngọc M đã bán trái phép 01 hoá đơn GTGT cho Công ty TNHH một thành viên T9 thu lợi bất chính số tiền là 1.400.000VNĐ và mua bán trái phép 09 hóa đơn của bị cáo Lê Ngọc Minh T8 số tiền thuế là 1.106.000.000VNĐ. Số tiền này phải truy thu sung vào ngân sách nhà nước.
Hành vi của bị cáo Lại Xuân Đ1 bán trái phép 09 hoá đơn GTGT cho bị cáo Lê Ngọc M, thu lợi bất chính số tiền là 651.000.000VNĐ. Số tiền này phải truy thu sung vào ngân sách nhà nước.
[5] Về vật chứng của vụ án: Cơ quan điều tra đã thu giữ của bị cáo Lê Ngọc M 11 quyển sổ có bìa màu xanh, khổ giấy A4 và 05 quyển sổ có bìa màu đen, có kích thước 21 x16 cm; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi, màu đen, đã qua sử dụng; 01 hộp dấu màu đỏ của Công ty TNHH T10 M.S.D.N: 5300811689 – C.T.T.N.H.H; 01 dấu chức danh “PHÓ GIÁM ĐỐC” mang tên Lê Ngọc M; 01 dấu chức danh “GIÁM ĐỐC” mang tên Trần Thị T2; 01 dấu chức danh “GIÁM ĐỐC” mang tên Lê Ngọc M; 01 Case máy tính màu đen, nhãn hiệu GLOWY đã qua sử dụng và 01 USB token nhãn hiệu One – ca.
Thu giữ của bị cáo Lại Xuân Đ1 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu IPHONE 13 Pro, đã qua sử dụng, bên trong gắn thẻ sim.
Đối với 11 quyển sổ có bìa màu xanh, khổ giấy A4 và 05 quyển sổ có bìa màu đen, có kích thước 21 x16 cm. Quá trình điều tra xác định số đồ vật, tài sản này không liên quan đến hành vi mua bán trái phép hoá đơn và trốn thuế của Lê Ngọc M. Cơ quan điều tra đã xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu trả lại cho bị cáo Lê Ngọc M.
Đối với 01 hộp dấu màu đỏ của Công ty TNHH T10 M.S.D.N: 5300811689 – C.T.T.N.H.H; 01 dấu chức danh “PHÓ GIÁM ĐỐC” mang tên Lê Ngọc M; 01 dấu chức danh “GIÁM ĐỐC” mang tên Trần Thị T2; 01 dấu chức danh “GIÁM ĐỐC” mang tên Lê Ngọc M và 01 USB token nhãn hiệu One (Chữ ký số). Đây là tài sản của Công ty TNHH T10, nên trả lại cho Công ty TNHH T10.
Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi, màu đen, đã qua sử dụng, gắn thẻ sim và 01 Case máy tính màu đen, nhãn hiệu GLOWY đã qua sử dụng. Đây là công cụ, phương tiện phạm tội, nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
Đối với 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu IPHONE 13 Pro, đã qua sử dụng, bên trong gắn thẻ sim. Đây là tài sản của bị cáo Lại Xuân Đ1, không liên quan đến hành vi phạm tội. Tuy nhiên cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án các khoản thu nộp ngân sách nhà nước.
[6] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
11
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3, 4 Điều 200; khoản 1, 3 Điều 203 điểm s, khoản 1, Điều 51; Điều 38; Điều 55 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Lê Ngọc M phạm tội “Trốn thuế” và tội “In, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước”.
Hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Lê Ngọc M 02 (Hai) năm tù về tội “Trốn thuế”. Xử phạt bị cáo Lê Ngọc M 06 (Sáu) tháng tù về tội “In, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước”.
Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Lê Ngọc M phải chấp hành hình phạt chung của 02 tội là 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
Hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo Lê Ngọc M số tiền 30.000.000VNĐ (Ba mươi triệu đồng) sung vào ngân sách nhà nước.
Căn cứ vào điểm đ, khoản 2, Điều 203; điểm s, khoản 1, 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Lại Xuân Đ1 phạm tội “In, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước”.
Xử phạt bị cáo Lại Xuân Đ1 số tiền 300.000.000VNĐ (Ba trăm triệu đồng) nộp vào ngân sách nhà nước. (Xác nhận bị cáo Lại Xuân Đ1 đã nộp số tiền 250.000.000VNĐ theo biên lai thu tiền số 0000364 ngày 27/11/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Lào Cai). Số tiền còn lại bị cáo Lại Xuân Đ1 phải tiếp tục nộp vào ngân sách nhà nước là: 50.000.000VNĐ (Năm mươi triệu đồng).
Về trách nhiệm dân sự: Truy thu của bị cáo Lê Ngọc M số tiền 1.400.000VNĐ và 1.106.000.000VNĐ. Tổng cộng là: 1.107.400.000VNĐ (Một tỷ một trăm linh bẩy triệu bốn trăm nghìn đồng) sung vào ngân sách nhà nước.
Truy thu của bị cáo Lại Xuân Đ1 số tiền 651.000.000VNĐ (Sáu trăm năm mươi một triệu đồng) sung vào ngân sách nhà nước.
Về vật chứng của vụ án: Căn cứ vào điểm a, khoản 1, Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a, khoản 2, điểm b, khoản 3, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Trả lại cho Công ty TNHH T10 01 hộp dấu màu đỏ của Công ty TNHH T10 M.S.D.N: 5300811689 - C.T.T.N.H.H; 01 dấu chức danh “PHÓ GIÁM ĐỐC” mang tên Lê Ngọc M; 01 dấu chức danh “GIÁM ĐỐC” mang tên Trần Thị T2; 01 dấu chức danh “GIÁM ĐỐC” mang tên Lê Ngọc M và 01 USB token (Chữ ký số) nhãn hiệu One – ca.
Tịch thu của bị cáo Lê Ngọc M 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi MIUI 12.5.14, màu đen, đã qua sử dụng, gắn 01 thẻ sim; số IMEI 1: 863715062090609, số IMEI 2: 863715062090617 và 01 Case máy tính màu đen, nhãn hiệu GLOWY đã qua sử dụng, sung vào ngân sách nhà nước.
Tiếp tục tạm giữ của bị cáo Lại Xuân Đ1 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu IPHONE 13 Pro, số máy: MLVD3KH/A; số sê-ri: C42M2YKW6L; số IMEI: 356649158061949, đã qua sử dụng, bên trong gắn thẻ sim, để đảm bảo thi hành
12
án các khoản tiền thu nộp vào ngân sách nhà nước. (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/8/2025 của cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh L).
Về án phí: Buộc các bị cáo Lê Ngọc M và Lại Xuân Đ1, mỗi bị cáo phải chịu 200.000VNĐ (Hai trăm nghìn đồng) khoản tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Bùi Ngọc Thanh |
Bản án số 87/2025/HS-ST ngày 16/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI về vụ án hình sự về tội "in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước" và tội "trốn thuế"
- Số bản án: 87/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội "In, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước" và tội "Trốn thuế"
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: LE NGOC M LẠI XUAN Đ
