|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - HẢI PHÒNG Bản án số: 86/2025/HS-ST Ngày 05-12-2025 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Nam Ninh
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Trần Thị Trúc Hoa
Nghề nghiệp: Phó bí thư đoàn phường Phù Liễn, thành phố Hải Phòng
Bà Hà Thị Nga.
Nghề nghiệp: Giáo viên nghỉ hưu
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Đức - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 5 - Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Lan Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 11 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 59/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 11 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 13/2025/HSST-QĐ ngày 20 tháng 11 năm 2025 đối với các bị cáo:
- Dương Ngọc L, sinh ngày 01 tháng 6 năm 2007 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Số I Đ, phường Đ, quận K, thành phố Hải Phòng (nay là số I Đ, phường K, thành phố Hải Phòng); nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Quốc V và bà Nguyễn Thị Đ; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp ngày 19/6/2025; tạm giam ngày 21/6/2025; bảo lĩnh ngày 30/7/2025; có mặt.
- Phạm Thế N, sinh ngày 29 tháng 5 năm 2008 tại Hải Phòng (khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 17 tuổi, 0 tháng, 16 ngày). Nơi đăng ký thường trú: Thôn X, xã N, huyện K, thành phố Hải Phòng (nay là thôn X, xã N, thành phố Hải Phòng); nơi ở hiện tại: Số A Đ, phường Đ, quận K, thành phố Hải Phòng (nay là số A Đ, phường K, thành phố Hải Phòng); nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Đức T và bà Nguyễn Thị O; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ ngày 16/6/2025; tạm giam ngày 21/6/2025; bảo lĩnh ngày 30/7/2025; có mặt.
- Nguyễn Xuân T1, sinh ngày 06 tháng 7 năm 2005 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Khu C, thị trấn T, huyện T, thành phố Hải Phòng (nay là thôn T, xã T, thành phố Hải Phòng); nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân V1 và bà Nguyễn Thị X; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tại Bản án số 04/2024/HS-ST ngày 22/01/2024, Tòa án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng xử phạt 21 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 42 tháng về tội Gây rối trật tự công cộng (khi phạm tội 17 tuổi 07 tháng 12 ngày); bị bắt tạm giữ ngày 26/6/2025; tạm giam ngày 27/6/2025; có mặt.
- Vũ Khánh H, sinh ngày 02 tháng 02 năm 2007 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn N, xã K, huyện T, thành phố Hải Phòng (nay là thôn N, xã T, thành phố Hải Phòng); nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Huy H1 và bà Nguyễn Thị T2; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tại Bản án số 108/2023/HS-ST ngày 27/9/2023, Tòa án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng xử phạt 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 tháng về tội Cướp tài sản (khi phạm tội 15 tuổi 11 tháng 02 ngày); bị bắt tạm giữ ngày 16/6/2025; tạm giam ngày 21/6/2025; có mặt.
- Phạm Tuấn H2, sinh ngày 13 tháng 7 năm 2007 tại Hải Phòng (khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 17 tuổi, 11 tháng, 02 ngày). Nơi cư trú: Thôn T, xã C, huyện A, thành phố Hải Phòng (nay là thôn T, xã A, thành phố Hải Phòng); nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn C và bà Hoàng Thị X1; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ ngày 16/6/2025; tạm giam ngày 21/6/2025; bảo lĩnh ngày 30/8/2025; có mặt.
- Nguyễn Xuân G, sinh ngày 01 tháng 5 năm 2008 tại Hải Phòng (khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 17 tuổi, 01 tháng, 14 ngày). Nơi cư trú: Thôn T, xã T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân B và bà Trần Thị T3; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ ngày 27/8/2025; tạm giam ngày 30/8/2025; có mặt.
- Lương Đức G1, sinh ngày 30 tháng 3 năm 2007 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Đ, thôn P, xã C, huyện T, thành phố Hải Phòng (nay là đội G, thôn P, xã T, thành phố Hải Phòng); nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Văn L1 và bà Hoàng Thị H3; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ ngày 16/6/2025; tạm giam ngày 21/6/2025; bảo lĩnh ngày 30/7/2025; có mặt.
- Phạm Ngọc T4, sinh ngày 12 tháng 6 năm 2008 tại Hải Phòng (khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 17 tuổi, 0 tháng, 03 ngày). Nơi cư trú: Thôn C, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng (nay là đội G, thôn C, xã Q, thành phố Hải Phòng); nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn V2 và bà Nguyễn Thị G2; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ ngày 17/6/2025; tạm giam ngày 21/6/2025; có mặt.
- Đỗ Hoàng A, sinh ngày 25 tháng 11 năm 2006 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Khu C, thị trấn T, huyện T, thành phố Hải Phòng (nay là thôn T, xã T, thành phố Hải Phòng); nghề nghiệp: Sinh viên; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Ngọc T5 và bà Nguyễn Thị Thu P; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ ngày 17/6/2025; tạm giam ngày 21/6/2025; bảo lĩnh ngày 30/8/2025; có mặt.
- Vũ Hoàng A1, sinh ngày 26 tháng 01 năm 2008 tại Hải Phòng (khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 17 tuổi, 04 tháng, 19 ngày). Nơi cư trú: Thôn T, xa K, huyện T, thành phố Hải Phòng (nay là thôn T, xã T, thành phố Hải Phòng); nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn V3 và bà Trần Thị N1; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ ngày 24/6/2025; tạm giam ngày 27/6/2025; có mặt.
- Trịnh Mạnh C1, sinh ngày 03 tháng 02 năm 2005 tại Thái Nguyên. Nơi cư trú: Khu H, thị trấn T, huyện T, thành phố Hải Phòng (nay là thôn H, xã T, thành phố Hải Phòng); nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trịnh Văn C2 và bà Trịnh Thị H4; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ ngày 17/6/2025; tạm giam ngày 21/6/2025; có mặt.
- Nguyễn Đức P1, sinh ngày 14 tháng 10 năm 2008 tại Hải Phòng (khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 16 tuổi, 08 tháng, 01 ngày). Nơi cư trú: Khu D, thị trấn T, huyện T, thành phố Hải Phòng (nay là thôn T, xã T, thành phố Hải Phòng); nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thanh T6 và bà Lê Thị Thanh M; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ ngày 18/6/2025; tạm giam ngày 21/6/2025; bảo lĩnh ngày 30/7/2025; có mặt.
- Vũ Ngọc L2, sinh ngày 31 tháng 5 năm 2007 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn N, xã K, huyện T, thành phố Hải Phòng (nay là thôn N, xã T, thành phố Hải Phòng); nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Mạnh H5 và bà Nguyễn Thị C3; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tại Bản án số 170/2024/HS-ST ngày 27/8/2024, Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xử phạt 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 48 tháng về tội Gây rối trật tự công cộng (khi phạm tội 16 tuổi 03 tháng 17 ngày); bị bắt tạm giữ ngày 24/6/2025; tạm giam ngày 27/6/2025; có mặt.
- Nguyễn Ngọc Đ1, sinh ngày 21 tháng 02 năm 2007 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn K và bà Phan Thị B1; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ ngày 27/8/2025; cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 30/8/2025; có mặt.
- Bùi Đức Q, sinh ngày 28 tháng 01 năm 2007 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn T, xã T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Đặng K1 và bà Nguyễn Thị H6; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 15/9/2025; có mặt.
- Trần Minh L3, sinh ngày 25 tháng 10 năm 2006 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn T, xã T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Đình Q1 và bà Đỗ Thị T7; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 15/9/2025; có mặt.
- Nguyễn Mạnh C4, sinh ngày 06 tháng 8 năm 2007 tại Hải Phòng (khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 17 tuổi, 10 tháng, 09 ngày). Nơi cư trú: Thôn T, xã T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L4 và bà Vũ Thị H7; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 15/9/2025; có mặt.
- Đỗ Lê Minh T8, sinh ngày 10 tháng 8 năm 2007 tại Hải Phòng (khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 17 tuổi, 10 tháng, 05 ngày). Nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Quốc T9 và bà Lê Thị Minh T10; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; tạm giam ngày 15/9/2025; có mặt.
- Đặng Văn H8, sinh ngày 16 tháng 4 năm 2008 tại Hải Phòng (khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 17 tuổi, 01 tháng, 29 ngày). Nơi cư trú: Tổ dân phố D, phường L, quận A, thành phố Hải Phòng (nay là tổ dân phố D, phường A, thành phố Hải Phòng); nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn P2 và bà Vũ Thị V4; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ ngày 18/6/2025; tạm giam ngày 21/6/2025; có mặt.
- Đỗ Hoàng Đức P3, sinh ngày 25 tháng 9 năm 2008 tại Đắk Lắk (khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 16 tuổi, 08 tháng, 20 ngày). Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố số A, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (nay là tổ dân phố A, xã E, tỉnh Đắk Lắk); nơi ở hiện nay: Tổ dân phố A D, phường T, quận A, thành phố Hải Phòng (nay là tổ dân phố A D, phường A, thành phố Hải Phòng); nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Sơn H9 và bà Lê Thị Kim L5; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ ngày 18/6/2025; tạm giam ngày 21/6/2025; có mặt.
- Nguyễn Cao M1, sinh ngày 10 tháng 10 năm 2008 tại Hải Phòng (khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 16 tuổi, 08 tháng, 05 ngày). Nơi cư trú: Tổ dân phố D, phường A, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu K2 và bà Nguyễn Thị Thu T11; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tại Bản án số 43/2025/HS-ST ngày 25/9/2025, Tòa án nhân dân khu vực 2 - Hải Phòng xử phạt 21 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng (khi phạm tội 16 tuổi 01 tháng 27 ngày); tạm giam ngày 01/8/2025 theo Lệnh tạm giam của Tòa án nhân dân khu vực 2 – Hải Phòng; có mặt.
- Lê Quốc T12, sinh ngày 16 tháng 12 năm 2007 tại Hải Phòng (khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 17 tuổi, 05 tháng, 29 ngày). Nơi cư trú: Tổ dân phố A, phường A, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Quốc Đ2 và bà Vũ Thị T13; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 12/11/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L ra Quyết định khởi tố vụ án số 309; Quyết định khởi tố bị can số 398 về tội Gây rối trật tự công cộng theo quy định tại khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sư; tạm giam theo Lệnh tạm giam của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Hải Phòng; có mặt.
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Phạm Thế N: Ông Phạm Đức T và bà Nguyễn Thị O (bố mẹ đẻ); cùng nơi đăng ký thường trú: Thôn X, xã N, huyện K, thành phố Hải Phòng (nay là Thôn X, xã N, thành phố Hải Phòng); cùng nơi ở hiện tại: Số A Đ, phường Đ, quận K, thành phố Hải Phòng (nay là số A Đ, phường K, thành phố Hải Phòng); có mặt.
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyên Xuân G3: Ông Nguyễn Xuân B và bà Trần Thị T3 (bố mẹ đẻ); cùng địa chỉ: Thôn K, xã T, thành phố Hải Phòng; có mặt.
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Phạm Ngọc T4: Ông Phạm Văn V2 và bà Nguyễn Thị G2 (bố mẹ đẻ); cùng địa chỉ: Thôn C, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng (nay là thôn C, xã Q, thành phố Hải Phòng); vắng mặt.
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Vũ Hoàng A1: Ông Vũ Văn V3 và bà Trần Thị N1 (bố mẹ đẻ); cùng địa chỉ: Thôn T, xã K, huyện T, thành phố Hải Phòng (nay là thôn T, xã T, thành phố Hải Phòng); có mặt.
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Đức P1: Ông Nguyễn Thanh T6 và bà Lê Thị Thanh M (bố mẹ đẻ); cùng địa chỉ: Khu D, thị trấn T, huyện T, thành phố Hải Phòng (nay là thôn T, xã T, thành phố Hải Phòng); có mặt.
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Đặng Văn H8: Ông Đặng Văn P2 (bố đẻ); địa chỉ: Tổ dân phố D, phường L, quận A, thành phố Hải Phòng (nay là tổ dân phố D, phường A, thành phố Hải Phòng) và bà Vũ Thị V4 (mẹ đẻ); địa chỉ: Phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng (nay là phường A, thành phố Hải Phòng); có mặt.
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Đỗ Hoàng Đức P3: Ông Đỗ Sơn H9 và bà Lê Thị Kim L5 (bố mẹ đẻ); cùng địa chỉ: Tổ dân phố A D, phường T, quận A, thành phố Hải Phòng (nay là tổ dân phố A, D, phường A, thành phố Hải Phòng); có mặt.
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Cao M1: Ông Nguyễn Hữu K2 và bà Nguyễn Thị Thu T11 (bố mẹ đẻ); cùng địa chỉ: Tổ dân phố D, phường A, thành phố Hải Phòng; có mặt.
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Lê Quốc T12: Ông Lê Quốc Đ2 (bố đẻ); địa chỉ: Không rõ địa chỉ và bà Vũ Thị T13 (mẹ đẻ); địa chỉ: Tổ dân phố A, phường A, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
- Người bào chữa cho các bị cáo Phạm Ngọc T4, Phạm Thế N, Lê Quốc T12: Ông Trần Minh N2 – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố H; có mặt.
- Người bào chữa cho các bị cáo Phạm Tuấn H2, Đỗ Hoàng Đức P3, Vũ Hoàng A1: Bà Vũ Thị Minh H10 – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố H; có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Đặng Văn H8, Nguyễn Đức P1: Bà Nguyễn Thị Hồng T14 – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố H; có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Xuân G, Nguyễn Cao M1: Bà Đoàn Thị H11 – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố H; vắng mặt có đơn xin vắng mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Đỗ Lê Minh T8: Ông Bùi Quốc T15, Luật sư – Công ty L8 thuộc đoàn Luật sư thành phố H; có mặt
- Đại diện Trường trung học Phổ thông Đ4 (nơi bị cáo Phạm Thế N đang học); địa chỉ: Số A đường Đ, phường K, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
- Đại diện Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh phường Đ, quận K, thành phố Hải Phòng (nay là phường K, thành phố Hải Phòng) (nơi bị cáo Phạm Thế N sinh hoạt); vắng mặt.
- Đại diện Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh xã T, thành phố Hải Phòng (nơi bị cáo Nguyễn Xuân G, Nguyễn Đức P1 sinh hoạt); vắng mặt.
- Đại diện Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng (nay là xã Q, thành phố Hải Phòng) (nơi bị cáo Phạm Ngọc T4 sinh hoạt); vắng mặt.
- Đại diện Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh xã K, huyện T, thành phố Hải Phòng (nay là xã T, thành phố Hải Phòng) (nơi bị cáo Vũ Hoàng Al sinh hoạt); vắng mặt.
- Đại diện Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh Phường A, thành phố Hải Phòng (nơi bị cáo Đặng Văn H8, Nguyễn Cao M1 sinh hoạt); vắng mặt.
- Đại diện Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh phường A, thành phố Hải Phòng (nơi bị cáo Đỗ Hoàng Đức P3, Lê Quốc T12 sinh hoạt); vắng mặt có đơn xin vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 04 giờ ngày 15/6/2025, tổ công tác HP22 Công an thành phố H làm nhiệm vụ tuần tra tại tuyến đường H, phát hiện Dương Ngọc L đang đứng tại đầu ngõ A Hồ S, phường D, quận L (nay là phường L), Hải Phòng, bên cạnh có 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade màu xám, không mang biển kiểm soát có nhiều biểu hiện nghi vấn. Tổ công tác tiến hành kiểm tra, phát hiện trong cốp xe mô tô của Dương Ngọc L có 04 bình xịt hơi cay. Dương Ngọc L khai nhận vừa điều khiển xe mô tô với tốc độ cao lạng lách, đánh võng, đuổi nhau trên tuyến đường H và một số tuyến đường khác trên địa bàn nội thành Hải Phòng. Tổ công tác đưa Dương Ngọc L cùng vật chứng về trụ sở Công an phường D (nay là phường L) để điều tra làm rõ vụ việc.
Quá trình điều tra xác định:
Rạng sáng ngày 15/6/2025, có một số nhóm đối tượng nam thanh niên tụ tập, mang theo hung khí, vũ khí, sử dụng xe mô tô điều khiển xe với tốc độ cao, lạng lách, đánh võng, đuổi nhau trên tuyến đường H gây náo loạn làm mất trật tự trị an, ảnh hưởng đến sự yên tĩnh, an toàn của khu dân cư và tiềm ẩn nguy cơ gây tai nạn giao thông cho người tham gia trên tuyến đường này. Cụ thể hành vi của các nhóm đối đượng như sau:
- Nhóm của Phạm Thế N (gồm Phạm Thế N, Dương Ngọc L)
- Nhóm của Nguyễn Xuân T1 (gồm Nguyễn Xuân T1, Vũ Khánh H, Phạm Tuấn H2, Nguyễn Xuân G)
- Nhóm của Nguyễn Đức P1 (gồm Nguyễn Đức P1, Phạm Ngọc T4, Đỗ Chí T16, Nguyễn Đăng K3, Bùi Đình N3)
- Nhóm của Lương Đức G1 (gồm Lương Đức G1, Trịnh Mạnh C1, Đỗ Hoàng A, Vũ Hoàng A1, Vũ Ngọc L2, Trần Minh L3, Nguyễn Mạnh C4, Nguyễn Ngọc Đ1, Đỗ Lê Minh T8, Bùi Đức Q)
- Nhóm của Đặng Văn H8 (gồm Đặng Văn H8, Đỗ Hoàng Đức P3, Nguyễn Cao M1, Nguyễn Văn M2, Nguyễn Hữu H12)
- Nhóm của Lê Quốc T12
Khoảng 21 giờ 40 phút ngày 14/6/2025, Phạm Thế N rủ Dương Ngọc L điều khiển xe mô tô lạng lách, đánh võng, chạy quá tốc độ ở tuyến đường H, Hải Phòng. Đến khoảng hơn 00 giờ ngày 15/6/2025, L điều khiển xe mô tô Airblade màu xám ghi, đã tháo biển kiểm soát chở N xuất phát đi từ quán G4, địa chỉ: C T, phường K, Hải Phòng đến đường H. Trong cốp xe có 03 bình xịt hơi cay của N và 01 bình xịt hơi cay của L để sẵn từ trước. Mục đích mang bình xịt hơi cay để khi tham gia chạy xe tốc độ cao với các xe khác trên đường H sẽ xịt vào nhóm đi sau để xe của mình được tóp đầu. Trên đường đi, N lấy 02 bình xịt hơi cay trong cốp xe ra và cất vào túi quần. L chở N đi tiếp ra đường B thì gặp nhóm Nguyễn Xuân T1 gồm 05 - 06 người đi trên 03 xe mô tô về hướng đường V. Do quen biết T1 nên L điều khiển xe nhập nhóm, cả nhóm điều khiển xe đến vòng xuyến đường V - Bùi Viện quay đầu đua về cầu L rẽ trái về ngã 5 K rồi đi ra đường L, hướng về cầu L. Trên đường L, nhóm L gặp nhóm của Nguyễn Đức P1 đi 03 - 04 xe mô tô về phía cầu K. Nhóm L và T1 quay đầu đuổi theo nhưng T1 nhận ra Nguyễn Đăng K3 trong nhóm của P1 nên không đuổi nữa mà quay đầu đi về đường B. Khi cả nhóm L đi đến đường B, đoạn cầu L thì bị 01 nhóm khoảng 03 - 04 xe mô tô (đi từ hướng phường A sang trung tâm T) đuổi đánh. N dùng bình xịt hơi cay xịt liên tục về phía nhóm đang đuổi phía sau nên không bị đuổi nữa. L chở Ngọc Đ3 về quán G4 cất xe mô tô rồi chở nhau bằng xe đạp điện đến đường H xem có lực lượng Công an làm nhiệm vụ không và có nhóm nào không. Đến khoảng 03 giờ cùng ngày, trên đường H tụ tập nhiều xe, mang theo nhiều hung khí như giáo, ba chia, kiếm, súng ná, bình xịt hơi cay bắt đầu điều khiển xe với tốc độ cao đuổi nhau trên đường H. L chở N quay lại quán G4 lấy xe mô tô rồi quay lại nhập với nhóm Nguyễn Xuân T1 và nhiều xe mô tô khác đang đi với tốc độ cao, hò hét, gây náo loạn đường H.
Cung đường các đối tượng điều khiển xe chạy với tốc độ cao đuổi nhau là tuyến đường H, đến ngã tư Hồ S - T thì quay đầu đi về vòng xuyến Nguyễn Văn L6 - Hồ S rồi vòng lại. Quá trình đua xe, L điều khiển xe với tốc độ cao khoảng 90km/giờ, không đội mũ bảo hiểm, bấm còi, hò hét, “đá” pha đèn liên tục, lạng lách đánh võng gây náo loạn đường phố. Khi có xe khác đi đến gần áp sát phía sau xe của L thì N xịt hơi cay. Khi đang đua xe thì xe của L bị 01 nhóm cầm hung khí đuổi đánh, N dùng bình xịt hơi cay xịt lại rồi cả hai bỏ chạy về cửa quán B2 trên đường H dựng xe rồi đứng xem người khác đua xe. N để lại 02 bình xịt hơi cay vào trong cốp xe mô tô của L. Một lúc sau, tổ công tác HP22 Công an thành phố đi đến kiểm tra đối với L thì N bỏ chạy. Tổ công tác kiểm tra cốp xe của L phát hiện, thu giữ 04 bình xịt hơi cay nêu trên.
Khoảng 21 giờ ngày 14/06/2025, Nguyễn Xuân T1 rủ Phạm Tuấn H2, Vũ Khánh H và Nguyễn Xuân G ra đường H để chạy xe tốc độ cao, điều khiển xe lạng lách, đánh võng. Khoảng 23 giờ cùng ngày, T1 điều khiển xe mô tô SH 160 màu trắng đen (không gắn biển kiểm soát) chở Khánh H, G điều khiển xe Airblade 160 (không gắn biển kiểm soát) chở Tuấn H2 xuất phát từ quán nước gần tượng đài P, xã T, thành phố Hải Phòng. Nhóm Nguyễn Xuân T1 đi từ T đến Ngã 5 K, đường T, đường T, rẽ vào đường B hướng về cầu B. Khi vào đường B thì gặp xe của Dương Ngọc L chở Phạm Thế N ngồi sau cầm 02 bình xịt hơi cay. Xe của L nhập vào cùng nhóm Nguyễn Xuân T1 và đi về hướng cầu B. Trên đường đi, nhóm của T1 gặp 01 xe mô tô biển kiểm soát của tỉnh Hải Dương (34), K bắt chuyện và thấy nhóm này mang theo bình xịt hơi cay nên mượn được 01 bình. Nhóm Nguyễn Xuân T1 đi đến vòng xuyến đường V - Bùi Viện thì quay về cầu vượt L và về tuyến đường L, ngã 5 K. Trên đường L (hướng về Quán T), nhóm Nguyễn Xuân T1 gặp nhóm Nguyễn Đức P1 đang đi theo chiều ngược lại có mang theo gậy ba chia dài. Do chưa nhận ra nhóm P1 nên nhóm T1 quay đầu xe đuổi đánh. Khi đuổi gần đến nhóm Nguyễn Đức P1 thì T1 nhận ra K3 nên không đuổi nữa. Nhóm T1 quay đầu đi tiếp về đường B - Hồ Sen với tốc độ cao (khoảng 90 đến hơn 100km/giờ) và đi lượn nhiều vòng đường B, Hồ S. Sau đó, Phạm Thế N và Dương Ngọc L tách khỏi nhóm của T1. Nhóm của T1 đi tiếp về đường B thì gặp lại nhóm của Nguyễn Đức P1 (lúc này đã có thêm nhóm Lương Đức G1 đi cùng) và nhập cùng nhau đi về đường H lạng lách đánh võng khoảng 02-03 vòng thì T1 thấy L và N xuất hiện tham gia cùng nhóm, N vẫn cầm bình xịt hơi cay. Trên đường H, các xe đi với tốc độ cao (khoảng 90 đến hơn 100km/giờ) thành đoàn, lạng lách đánh võng, nẹt bô cấm còi gây náo loạn đường phố. Xe của T1 bị 01 xe mô tô chở 02 người mang theo kiếm đuổi đánh nên T1 chở Vũ Khánh H vượt lên trước bỏ chạy tách đoàn đi về.
Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 14/6/2025, tại quán B3, địa chỉ: khu H, xã T, thành phố Hải Phòng, Nguyễn Đăng K3 rủ Nguyễn Đức P1, Phạm Ngọc T4, Bùi Đình N3 và 02 nam thanh niên (chưa xác định được căn cước, lai lịch) đi ra đường H để chạy xe tốc độ cao, điều khiển xe lạng lách, đánh võng. Phạm Ngọc T4 rủ thêm Đỗ Chí T16 đi cùng. Khi đi, Nguyễn Đức P1 điều khiển xe mô tô Airblade màu đen bạc (lấy khẩu trang trắng che Biển kiểm soát) chở Nguyễn Đăng K3 ngồi sau cầm 01 ba chia dài khoảng 2,5m. Phạm Ngọc T4 điều khiển xe Click Vario màu đen đã tháo Biển kiểm soát chở Đỗ Chí T16 ngồi sau cầm 01 tuýp sắt dài 01m. Bùi Đình N3 cầm 01 đầu ba chia ngồi cùng xe mô tô Airblade màu đen với 02 nam thanh niên (chưa xác định được căn cước, lai lịch). Nhóm Nguyễn Đức P1 di chuyển từ xã T theo Quốc lộ C - ngã 5 K - đường T - Quán T - đường T - cầu vượt L - rẽ phải vào đường B và đi vào đường H tham gia điều khiển xe với tốc độ cao, lạng lách, đánh võng một vòng thì đi về T. Trên đường L, nhóm Nguyễn Đức P1 bị nhóm Nguyễn Xuân T1 (đi 04 xe mô tô theo chiều ngược lại) quay đầu đuổi theo và giơ bình xịt hơi cay lên xịt nhưng nhận ra K3 nên không đuổi nữa. Nhóm Nguyễn Xuân T1 quay lại đi về hướng Quán T. Nhóm Nguyễn Đức P1 đi về T đến gần cầu K thì gặp nhóm Lương Đức G1 (đi theo chiều ngược lại) quay đầu đuổi đánh. Do nhận ra K3 nên nhóm Lương Đức G1 không đánh mà rủ nhau đi ra đường H tiếp tục điều khiển xe với tốc độ cao gây mất trật tự đường phố. Xe của K3 và xe của T4 quay đầu theo nhóm Lương Đức G1 để đi ra trung tâm thành phố Hải Phòng. Bùi Đình N3 cùng 02 nam giới không rõ lai lịch tách nhóm đi về T.
Khoảng 01 giờ ngày 15/6/2025, nhóm Lương Đức G1 tập trung tại quán N4, khu H, thị trấn T, thành phố Hải Phòng và rủ nhau đi xe mô tô mang theo hung khí ra Trung tâm thành phố Hải Phòng để cùng các xe khác điều khiển xe với tốc độ cao, lạng lách, đánh võng. Khi đi, L3 điều khiển xe mô tô Airblade màu đen Biển kiểm soát: 15AG – 045.77 (đã che Biển kiểm soát) chở Nguyễn Mạnh C4 ngồi sau cầm 01 kiếm ống và 01 đèn lazze. Lương Đức G1 điều khiển xe mô tô Airbalade màu xám (không gắn biển kiểm soát) chở Trịnh Mạnh C1 ngồi sau. Vũ Ngọc L2 điều khiển xe mô tô Airblade BIỂN KIỂM SOÁT: 15 H1-44917 chở Đỗ Hoàng A ngồi sau cầm 01 súng ná V12; Vũ Hoàng A1 điều khiển xe Wave màu trắng (đã che Biển kiểm soát) chở Q ngồi sau cầm 01 súng ná V10; T8 điều khiển xe mô tô Wave màu đen chở Đ1 ngồi sau cầm 01 kiếm.
Nhóm Lương Đức G1 đi đến địa phận xã C, huyện A (nay là xã A), Hải Phòng đoạn qua cây xăng C5 thì gặp nhóm Nguyễn Đức P1 đang đi về hướng Tiên Lãng như đã nêu trên. Nhóm Đức G1 quay đầu đuổi đánh nhóm Nguyễn Đức P1 nhưng đuổi đến cầu K thì nhận ra K3 nên không xảy ra đánh nhau. Xe của P1 và Thế nhập cùng nhóm Lương Đức G1 để ra trung tâm thành phố Hải Phòng cùng nhau điều khiển xe với tốc độ cao tại đường H. Riêng N3 và 01 xe chở 02 người chưa rõ lai lịch (trong nhóm P1) không nhập nhóm mà đi về T.
Cả nhóm đi theo hướng ngã 5 K - T - Quán T - rẽ vào đường B đến đoạn cổng bến xe V thì gặp nhóm Nguyễn Xuân T1 đi khoảng 20 - 30 xe mô tô đang đi cùng chiều. Nhóm Lương Đức G1 nhập cùng nhóm Nguyễn Xuân T1 đến đường H (khoảng 2 giờ) thì tất cả các xe trong nhóm (tổng số khoảng 40 xe) bắt đầu đua xe với tốc độ khoảng 80 đến hơn 100km/giờ, lạng lách đánh võng, hò hét, nẹt bô, bấm còi, rú ga trên đường H (đi khoảng 02 -03 vòng). Trong quá trình đua xe, do một số đối tượng trong nhóm sử dụng bình xịt hơi cay để xịt xe phía sau nên một số xe đã tách nhóm đi về.
Khoảng 01 giờ 00 ngày 15/6/2025, Nguyễn Cao M1 đi xe mô tô hiệu Wave màu trắng đen đón Nguyễn Hữu H12, về quán B4 tại phường A, Hải Phòng. Tại đây, H12 gặp Đặng Văn H8 và Đỗ Hoàng Đức P3. Cả nhóm rủ nhau đi sang trung tâm thành phồ Hải Phòng để tham gia điều khiển xe với tốc độ cao cùng các xe khác. Xuất phát đi gồm các xe: M1 điều khiển xe mô tô Wave đi một mình; H12 điều khiển xe mô tô Airblade màu đỏ đen Biển kiểm soát: 15AB - 15141 chở P3 ngồi sau, trong cốp xe có 01 bình xịt hơi cay; H8 điều khiển xe mô tô Airblade màu trắng đen Biển kiểm soát: 15AB-079.81 đi một mình.
Nhóm H8 đi đến trạm thu phí Quốc lộ E thì gặp Nguyễn Văn M2 đi xe mô tô Airblade màu xám một mình. M1 rủ M2 đi đua xe cùng thì M2 đồng ý. M1 và M2 đi về nhà M1 cất xe Wave, những người còn lại đứng chờ ở trạm thu phí. Sau đó, M1 điều khiển xe Airblade của M2 (đã che Biển kiểm soát) chở M2 quay lại rồi cả nhóm cùng đi sang trung tâm thành phố Hải Phòng theo các cung đường: Ngã 4 L - thị trấn A - đường B rẽ về hướng trung tâm thành phố. Đến cầu L, cả nhóm gặp nhóm của Lê Quốc T12 đi cùng nhóm H13 (chưa rõ thông tin lai lịch), trong đó có người cầm theo kiếm dài khoảng 80cm và 01 người cầm 02 bình xịt hơi cay. Nhóm H12 nhận ra T12 nên nhập nhóm cùng đi đến vòng xuyến đường V - B thì xe của M1, H12, H8 dừng lại, các xe khác trong nhóm tiếp tục di chuyển đi về phía đường H. Khi dừng xe, P3 lấy 01 bình xịt hơi cay từ trong cốp xe cầm trên tay với mục đích khi di chuyển vào đường H nếu bị xe khác đuổi đánh hoặc áp sát thì sẽ sử dụng bình xịt hơi cay để xịt lại. Xe của M1, H12, H8 tiếp tục di chuyển vào vòng xuyến đường V thì gặp Nguyễn Xuân T1 điều khiển xe mô tô SH160i màu trắng đen chở Vũ Khánh H ngồi sau cầm bình xịt hơi cay cũng đang rẽ về hướng Hồ S. Nhóm Đặng Văn H8 đi sau xe của Nguyễn Xuân T1 đến đường H thì bắt đầu đi với tốc độ cao, nẹt bô, lạng lách đánh võng, vỉa đầu xe nhau khoảng 04 - 05 vòng đường H. Thời điểm đó tuyến đường H cũng có nhiều nhóm đang đi xe với tốc độ cao, lạng lách đánh võng gây náo loạn đường H. Do đường H có nhiều nhóm náo loạn nên nhóm của H8 rẽ về đường T rồi đi về.
Khoảng 23 giờ 00 ngày 14/6/2025, T12 đến quán nước ở thị trấn A (nay là phường A), thành phố Hải Phòng chơi. Đến khoảng 01 giờ ngày 15/6/2025, nhóm nam thanh niên H đi khoảng 15 xe mô tô mang theo kiếm, vỏ chai thủy tinh qua quán nước nên gọi lại để đi cùng. Một nam giới trong nhóm cho T12 đi cùng xe và bảo T12 điều khiển xe mô tô Airblade màu xám chở người này về cầu Đ - đường N, rẽ trái đi về cầu B. Khi qua cầu L sang địa phận quận K thì gặp nhóm Đặng Văn H8. Nhóm H8 nhập cùng nhóm Hải D đi về phía Cầu B thì gặp và nhập nhóm Nguyễn Xuân T1 đi về đường H rồi bắt đầu thi tốc độ, lạng lách đánh võng, đi theo đoàn phóng nhanh, nẹt bô, bấm còi. T12 điều khiển xe mô tô Airblade của nam giới trong nhóm Hải Dương đi tốc độ cao, lạng lách đánh võng, đi theo đoàn phóng nhanh nẹt bô, bấm còi trên đường H được khoảng 03 - 04 vòng thì tách nhóm đi về quán nước tại trung tâm phường A rồi đi chơi ở quán Nét.
Ngày 16/6/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H ra lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Dương Ngọc L. Ngày 15/6/2025, ngày 16/6/2025, ngày 18/6/2025, ngày 24/6/2025, ngày 17/6/2025, ngày 26/6/2025, ngày 26/8/2025, các bị can Phạm Thế Ngọc, Vũ Khánh H, Phạm Tuấn H2, Phạm Ngọc T4, Nguyễn Đăng K3, Lương Đức G1, Trịnh Mạnh C1, Đỗ Hoàng A, Đỗ Hoàng Đức P3, Nguyễn Đức P1, Đỗ Chí T16, Đặng Văn H8, Bùi Đình N3, Vũ Hoàng A1, Vũ Ngọc L2, Nguyễn Xuân T1, Nguyễn Xuân G, Nguyễn Ngọc Đ1 lần lượt ra Cơ quan Công an đầu thú. Ngày 15/9/2025, Đỗ Lê Minh T8 bị bắt tạm giam. Tại Cơ quan điều tra, các bị can khai nhận hành vi phạm tội như nêu trên.
Quá trình kiểm tra đối với Dương Ngọc L, Tổ công tác HP22 thu giữ của L 01 xe mô tô Airblade màu đen, không mang Biển kiểm soát, số máy KF53E-0039909, số khung: RLHKF5309NZ218070; thu trong cốp xe 04 bình xịt hơi cay, gồm 2 bình xịt to, 2 bình xịt nhỏ. Quá trình điều tra, Phạm Ngọc T4 giao nộp 01 xe mô tô Honda Vario màu đen, không mang Biển kiểm soát, số máy: KF41E1640331, số khung: MH1KF4115KK639756. Đỗ Hoàng A giao nộp 01 xe mô tô Airblade màu đen Biển kiểm soát: 15H1- 449.17. Đỗ Hoàng Đức P3 giao nộp 01 xe mô tô Airblade màu đỏ đen Biển kiểm soát 15AB - 151.41. Đặng Văn H8 giao nộp 01 xe mô tô Airblade 125 màu trắng đen Biển kiểm soát 15AB - 079.81 và 01 bình xịt hơi cay. Vũ Hoàng Al giao nộp 01 súng ná
Tại bản kết luận giám định số 2578/KL-KTHS ngày 12/9/2025 của Phòng K4 Công an thành phố H kết luận: mẫu vật dạng nỏ (ná) do Vũ Hoàng A1 giao nộp gửi giám định là nỏ (ná), thuộc phụ lục “Danh mục vũ khí thô sơ” của Thông tư 75/2024/TT-BCA ngày 15/11/2024 của Bộ C6.
Tại cơ quan điều tra các bị cáo Dương Ngọc L, Nguyễn Đức P1, Đỗ Hoàng Đức P3, Đặng Văn H8, Phạm Thế N, Vũ Khánh H, Phạm Tuấn H2, Trịnh Mạnh C1, Lương Đức G1, Đỗ Hoàng A, Phạm Ngọc T4, Vũ Ngọc L2, Vũ Hoàng A1, Nguyễn Xuân T1, Nguyễn Xuân G, Nguyễn Ngọc Đ1, Nguyễn Cao M1, Nguyễn Mạnh C4, Trần Minh L3, Bùi Đức Q, Đỗ Lê Minh T8, Lê Quốc T12 khai nhận hành vi phạm tội như nội dung trên.
Về vật chứng trong vụ án: Chuyển Phòng thi hành án dân sự khu vực 5 - Hải Phòng: 05 bình xịt hơi cay (04 bình thu trong cốp xe của Dương Ngọc L; 01 bình do Đặng Văn H8 giao nộp); 01 súng ná (do Vũ Hoàng Al giao nộp).
Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda không mang Biển kiểm soát do Phạm Ngọc T4 giao nộp, qua tra cứu tại Phòng C7 Công an thành phố H biển số đăng ký là: 61G1 - 736.70, chủ xe: Phan Thị S, sinh năm 1979, địa chỉ: K, M, B, Bình Dương (nay là tổ E, khu phố B, phường B, thành phố Hồ Chí Minh). Phạm Ngọc T4 mua lại chiếc xe mô tô trên của người bán xe trên mạng xã hội (không rõ lai lịch) và đã làm thất lạc giấy tờ xe và biển số xe. Kết hợp cùng Công an phường B làm việc với bà Phan Thị S, tuy nhiên bà S không hợp tác, từ chối cung cấp thông tin về việc đăng ký, sở hữu, sử dụng chiếc xe mô tô nêu trên. Do vậy, Cơ quan điều tra tách ra, tiếp tục điều tra xử lý sau.
Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade không mang Biển kiểm soát thu giữ của Dương Ngọc L, qua tra cứu tại Phòng C7 Công an thành phố H, biển số đăng ký là: 15AN - 057.41. Chủ xe là ông Dương Quốc V, sinh năm 1974, trú tại: 9 Đ, phường K, thành phố Hải Phòng (bố của L). Trước ngày 15/6/2025, ông V đã giao xe cho L sử dụng để làm phương tiện đi lại. Hiện Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho ông V.
Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda mang Biển kiểm soát: 15H1 - 449.17 do Đỗ Hoàng A giao nộp, quá trình điều tra xác định là xe thuộc quyền sở hữu của bố mẹ Hoàng A, tuy nhiên khi mua làm thủ tục đứng tên đăng ký xe mang tên Đỗ Hoàng A. Tối ngày 14/6/2025, Hoàng A tự ý lấy xe mô tô nêu trên sử dụng, không được sự cho phép của bố mẹ. Hiện Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho bà Nguyễn Thị Thu P (mẹ của Hoàng A).
Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda, mang Biển kiểm soát: 15AB - 079.81 do Đặng Văn H8 giao nộp, quá trình điều tra xác định chủ sở hữu hợp pháp là bà Vũ Thị V4, sinh năm 1982, trú tại: tổ dân phố D, phường A, thành phố Hải Phòng (mẹ của H8). Lúc mua, bà V4 làm thủ tục đăng ký xe đứng tên Đặng Văn H8 để khi H8 đủ 18 tuổi sẽ có phương tiện đi lại. Thực tế, bà V4 là chủ sở hữu, là người quản lý, sử dụng chiếc xe. Hiện Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho bà V4.
Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda, mang Biển kiểm soát: 15AB - 151.41 Đỗ Hoàng Đức P3 giao nộp, quá trình điều tra xác định chủ sở hữu hợp pháp là ông Đỗ Sơn H9, sinh năm 1966, trú tại: TDP1 D, phường A, thành phố Hải Phòng (bố của P3). Khoảng cuối tháng 04/2025, ông H9 mua xe và làm thủ tục đăng ký đứng tên Đỗ Hoàng Đức P3 để khi P3 đủ 18 tuổi sẽ có phương tiện đi lại. Thực tế, ông H9 là chủ sở hữu, là người quản lý, sử dụng chiếc xe. Hiện Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho ông H9.
Đối với các đối tượng Đỗ Chí T16 (15 tuổi 7 tháng 22 ngày), Nguyễn Đăng K3 (13 tuổi 6 tháng 20 ngày), Bùi Đình N3 (15 tuổi 9 tháng 18 ngày), Nguyễn Hữu H12 (15 tuổi 11 tháng 09 ngày) thực hiện hành vi Gây rối trật tự công cộng. Tuy nhiên, tại thời điểm thực hiện hành vi, các đối tượng chưa đủ 16 tuổi nên chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự về tội Gây rối trật tự công cộng quy định tại khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã có công văn gửi chính quyền địa phương nơi các đối tượng cư trú lập hồ sơ xử lý và có biện pháp quản lý theo quy định.
Đối với đối tượng Nguyễn Văn M2 (16 tuổi 01 tháng 03 ngày), hiện đang theo dõi điều trị sau phẫu thuật chấn thương sọ não tại Bệnh viện S1, tâm thần Hải Phòng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H ra Quyết định tách hành vi Gây rối trật tự công cộng của Nguyễn Văn M2, tiếp tục xác minh điều tra làm rõ xử lý theo đúng quy định của pháp luật.
Đối với ông Dương Quốc V có hành vi giao xe cho Dương Ngọc L, mặc dù biết L chưa có giấy phép lái xe mô tô, xe gắn máy. Cơ quan Cảnh sát điều tra có công văn đề nghị Phòng C7, Công an thành phố H ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với ông Dương Quốc V về hành vi Giao xe cho người không đủ điều kiện theo khoản 10 Điều 32 Nghị định 168/2024/NĐ-CP ngày 26/12/2024 của Chính phủ.
Đối với xe mô tô mà Nguyễn Xuân T1, Nguyễn Xuân G, Nguyễn Đức P1, Lương Đức G1, Nguyễn Văn M2 điều khiển khi thực hiện hành vi gây rối trật tự công cộng, quá trình điều tra không thu giữ được. Do vậy, Cơ quan điều tra chưa có căn cứ để xử lý.
Tại bản Cáo trạng số 03/CT-VKSLC ngày 09/10/2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Hải Phòng đã truy tố các bị cáo Dương Ngọc L, Nguyễn Đức P1, Đỗ Hoàng Đức P3, Đặng Văn H8, Phạm Thế N, Vũ Khánh H, Phạm Tuấn H2, Trịnh Mạnh C1, Lương Đức G1, Đỗ Hoàng A, Phạm Ngọc T4, Vũ Ngọc L2, Vũ Hoàng A1, Nguyễn Xuân T1, Nguyễn Xuân G, Nguyễn Ngọc Đ1, Nguyễn Cao M1, Nguyễn Mạnh C4, Trần Minh L3, Bùi Đức Q, Đỗ Lê Minh T8, Lê Quốc T12 về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà:
Các bị cáo Dương Ngọc L, Nguyễn Đức P1, Đỗ Hoàng Đức P3, Đặng Văn H8, Phạm Thế N, Vũ Khánh H, Phạm Tuấn H2, Trịnh Mạnh C1, Lương Đức G1, Đỗ Hoàng A, Phạm Ngọc T4, Vũ Ngọc L2, Vũ Hoàng A1, Nguyễn Xuân T1, Nguyễn Xuân G, Nguyễn Ngọc Đ1, Nguyễn Cao M1, Nguyễn Mạnh C4, Trần Minh L3, Bùi Đức Q, Đỗ Lê Minh T8, Lê Quốc T12 đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng, bị cáo tỏ ra ăn năn, hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất vụ án, mức độ, tính nguy hiểm và hậu quả của hành vi phạm tội cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Trịnh Mạnh C1, Lương Đức G1, Vũ Khánh H, Nguyễn Xuân T1, Vũ Ngọc L2 áp dụng thêm khoản 2 Điều 56, khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Vũ Khánh H, Nguyễn Xuân T1, Vũ Ngọc L2
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Dương Ngọc L, Nguyễn Ngọc Đ1, Đỗ Hoàng A, Trần Minh L3, Bùi Đức Q
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58, Điều 90, Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự; khoản 1 Điều 119, khoản 2 Điều 179 Luật tư pháp người chưa thành niên đối với các bị cáo Đặng Văn H8, Phạm Ngọc T4, Nguyễn Xuân G, Đỗ Lê Minh T8, Lê Quốc T12, Nguyễn Cao M1; áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Đặng Văn H8, Phạm Ngọc T4, Nguyễn Xuân G, Đỗ Lê Minh T8; áp dụng thêm khoản 2 Điều 56, Điều 104 Bộ luật Hình sự, Điều 122 Luật tư pháp người chưa thành niên đối với bị cáo Nguyễn Cao M1.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65, Điều 90, Điều 91 Bộ luật Hình sự, Điều 124, khoản 2 Điều 179 Luật tư pháp người chưa thành niên đối với các bị cáo Nguyễn Đức P1, Đỗ Hoàng Đức P3, Phạm Tuấn H2, Nguyễn Mạnh C4, Vũ Hoàng A1, Phạm Thế N
Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân T1 từ 36 tháng đến 42 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Tổng hợp với hình phạt 21 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng theo Bản án số 04/2024/HSST ngày 22/01/2024 của Tòa án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng, buộc bị cáo phải chấp hành tổng cộng là từ 57 tháng đến 63 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/6/2025
Xử phạt bị cáo Vũ Ngọc L2 từ 33 tháng đến 36 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Tổng hợp với hình phạt 24 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng theo Bản án số 170/2024/HS-ST ngày 27/8/2024 của Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng, buộc bị cáo phải chấp hành tổng cộng là từ 57 tháng đến 60 tháng tù. Trừ cho bị cáo những ngày tạm giữ từ ngày 18/9/2023 đến ngày 27/9/2023. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/6/2025.
Xử phạt bị cáo Vũ Khánh H từ 27 tháng đến 30 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Tổng hợp với hình phạt 36 tháng tù về tội Cướp tài sản theo Bản án số 108/2023/HS-ST ngày 27/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng, buộc bị cáo phải chấp hành tổng cộng là từ 63 tháng đến 66 tháng tù. Trừ cho bị cáo những ngày tạm giam từ ngày 08/02/2023 đến ngày 27/9/2023. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/6/2025.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Cao M1 từ 18 đến 21 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Tổng hợp với hình phạt 21 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng theo Bản án số 43/2025/HS-ST ngày 25/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Hải Phòng, buộc bị cáo phải chấp hành tổng cộng là 36 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01/8/2025.
Xử phạt bị cáo Trịnh Mạnh C1 từ 24 tháng đến 30 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/6/2025.
Xử phạt bị cáo Lương Đức G1 từ 36 tháng đến 42 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/6/2025.
Xử phạt bị cáo Đặng Văn H8 từ 21 tháng đến 24 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/6/2025.
Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc T4 từ 18 tháng đến 21 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/6/2025.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân G từ 18 tháng đến 21 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/8/2025.
Xử phạt bị cáo Đỗ Lê Minh T8 từ 18 tháng đến 21 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/9/2025.
Xử phạt bị cáo Lê Quốc T12 từ 21 đến 24 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/9/2025.
Xử phạt bị cáo Dương Ngọc L 33 (Ba mươi ba) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách 60 (Sáu mươi) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt bị cáo Đỗ Hoàng A 30 (Ba mươi) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách 60 (Sáu mươi) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc Đ1 30 (Ba mươi) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách 60 (Sáu mươi) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt bị cáo Trần Minh L3 33 (Ba mươi ba) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách 60 (Sáu mươi) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt bị cáo Bùi Đức Q 30 (Ba mươi) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách 60 (Sáu mươi) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức P1 21 (Hai mươi mốt) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách 36 (Ba mươi sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt bị cáo Đỗ Hoàng Đức P3 18 (Mười tám) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách 36 (Ba mươi sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt bị cáo Phạm Tuấn H2 18 (Mười tám) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách 36 (Ba mươi sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh C4 18 (Mười tám) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách 36 (Ba mươi sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt bị cáo Vũ Hoàng A1 19 (Mười chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách 36 (Ba mươi sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt bị cáo Phạm Thế N 21 (Hai mươi mốt) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách 36 (Ba mươi sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Căn cứ Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả tự do cho các bị cáo Đỗ Hoàng Đức P3, Vũ Hoàng A1 tại phiên toà nếu các bị cáo không bị tạm giam bởi tội phạm khác.
Giao các bị cáo Phạm Thế N, Dương Ngọc L cho Ủy ban nhân dân phường K, thành phố Hải Phòng; giao các bị cáo Đỗ Hoàng A, Trần Minh L3, Nguyễn Đức P1, Nguyễn Mạnh C4 cho Ủy ban nhân dân xã T, thành phố Hải Phòng; giao bị cáo Đỗ Hoàng Đức P3 cho Ủy ban nhân dân phường A, thành phố Hải Phòng; giao các bị cáo Vũ Hoàng A1, Nguyễn Ngọc Đ1, Bùi Đức Q cho Ủy ban nhân dân xã T, thành phố Hải Phòng; giao bị cáo Phạm Tuấn H2 cho Ủy ban nhân dân xã A, thành phố Hải Phòng giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại Điều 87 của Luật thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Căn cứ điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Bảo Lĩnh” đối với các bị cáo Dương Ngọc L, Phạm Thế N, Phạm Tuấn H2, Đỗ Hoàng A, Nguyễn Đức P1, Nguyễn Ngọc Đ1, Bùi Đức Q, Trần Minh L3, Nguyễn Mạnh C4. Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” đối với các bị cáo Nguyễn Ngọc Đ1, Bùi Đức Q, Trần Minh L3, Nguyễn Mạnh C4
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 05 bình xịt hơi cay, 01 súng ná
(Theo biên bản giao nhận tài sản, vật chứng ngày 10 tháng 10 năm 2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố H và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 5 - Hải Phòng).
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Mỗi bị cáo Dương Ngọc L, Vũ Khánh H, Phạm Tuấn H2, Trịnh Mạnh C1, Lương Đức G1, Đỗ Hoàng A, Vũ Ngọc L2, Nguyễn Xuân T1, Nguyễn Ngọc Đ1, Nguyễn Mạnh C4, Trần Minh L3, Bùi Đức Q, Đỗ Lê Minh T8 phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn) án phí hình sự sơ thẩm. Người đại diện hợp pháp của các bị cáo Nguyễn Đức P1, Đỗ Hoàng Đức P3, Đặng Văn H8, Phạm Thế N, Vũ Hoàng A1, Phạm Ngọc T4, Nguyễn Xuân G, Nguyễn Cao M1, Lê Quốc T12 phải nộp thay án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người đai diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản ản được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Nam Ninh |
Bản án số 86/2025/HS-ST ngày 05/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - HẢI PHÒNG về gây rối trật tự công cộng
- Số bản án: 86/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Dương Ngọc L và đồng phạm gây rối trật tự công cộng
