|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – VĨNH LONG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 84/2025/HNGĐ-ST Ngày: 09-12-2025 V/v “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Minh Trung.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Đoàn Văn Vui;
- Ông Nguyễn Thanh Hùng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trường Thịnh - Thư ký Tòa án nhân dân
Khu vực 6 – Vĩnh Long.
Ngày 09 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 6 – Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 151/2025/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 10 năm 2025 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 197/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 11 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 110/2025/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Trần Thị Kim T, sinh ngày 15/6/1983;
CCCD số: [...]; Nơi cấp: Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội.
Địa chỉ: ấp H, xã M, tỉnh Vĩnh Long.
- Bị đơn: anh Lê Việt P, sinh ngày 21/12/1978;
CCCD số: [...]; Nơi cấp: Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội.
Địa chỉ: ấp T, xã T, tỉnh Vĩnh Long.
(Chị T có yêu cầu giải quyết vắng mặt; anh P vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Trần Thị Kim T trình bày:
Chị và anh Lê Việt P do tự tìm hiểu và tự nguyện kết hôn vào năm 2017. Anh chị đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre (nay là xã T, tỉnh Vĩnh Long). Sau khi kết hôn, thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc nhưng càng về sau những mâu thuẫn trong đời sống vợ chồng ngày càng phát sinh. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống. Khi xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng chị nhiều lần tìm cách tháo gỡ; cố gắng hàn gắn tình cảm để xây dựng gia đình hạnh phúc nhưng không có kết quả. Chị và anh P hiện nay đã ly thân. Trong thời gian ly thân, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau, mạnh ai người nấy sống không ai biết đến ai. Đến nay, chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh P.
Về nuôi con chung, tài sản chung, nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chị T không yêu cầu anh P cấp dưỡng cho chị sau khi ly hôn.
Do bận công việc nên chị T yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt và không có khiếu nại về sau.
Anh P vắng mặt tại các phiên họp, phiên hòa giải và phiên tòa nên không có lời trình bày.
Tại bản tự khai ngày 17/11/2025, chị T trình bày: từ lúc chị nộp đơn khởi kiện đến nay, tình trạng hôn nhân giữa chị với anh P không có cải thiện; vợ chồng chị T vẫn còn ly thân; nguyên nhân mâu thuẫn chưa được tháo gỡ. Chị T vẫn giữ yêu cầu xin ly hôn với anh P.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: chị Trần Thị Kim T khởi kiện tại Toà án nhân dân Khu vực 6 – Vĩnh Long yêu cầu giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lê Việt P. Căn cứ theo yêu cầu khởi kiện, vụ án có quan hệ pháp luật tranh chấp về việc “Ly hôn” quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình. Vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân Khu vực 6 – Vĩnh Long theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải, đối thoại tại tòa án.
Nguyên đơn chị T có yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt; bị đơn anh Lê Việt P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Tòa án xét xử vắng mặt chị T, anh P là phù hợp với quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Đối với yêu cầu ly hôn của chị T:
Chị T và anh P tự nguyện kết hôn vào năm 2017. Anh chị đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre (nay là xã T, tỉnh Vĩnh Long). Anh chị được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 03/11/2017. Chứng cứ này là có cơ sở nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Sau khi cưới, theo chị T, thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc nhưng càng về sau những mâu thuẫn trong đời sống vợ chồng ngày càng phát sinh. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung. Khi xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng chị đã tìm cách tháo gỡ; cố gắng hàn gắn tình cảm để xây dựng gia đình hạnh phúc nhưng không có kết quả. Chị và anh P hiện nay đã ly thân. Trong thời gian ly thân, cả hai sống mỗi người một nơi, không còn quan tâm đến nhau, mạnh ai người nấy sống, tình hình sức khỏe, cuộc sống, sinh hoạt của nhau không ai biết đến ai. Chị T xác định không còn tình cảm với anh P nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn. Đối với anh P, Tòa án đã triệu tập hợp lệ để tham dự các phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như tại phiên tòa hôm nay nhưng anh P vẫn vắng mặt không có lý do. Điều này có cơ sở khẳng định, anh P không còn tha thiết và không mong muốn tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân với chị T. Tại bản tự khai ngày 17/11/2025, chị T trình bày: từ lúc chị nộp đơn khởi kiện đến nay, tình trạng hôn nhân giữa chị với anh P không có cải thiện; nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn không được tháo gỡ; vợ chồng chị vẫn còn ly thân. Đến nay, chị vẫn còn giữ yêu cầu xin ly hôn với anh P. Từ các căn cứ nêu trên có cơ sở khẳng định, tình trạng của vợ chồng chị T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, cần chấp nhận yêu cầu của chị T là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.
[3] Về con chung, chia tài sản chung và nợ chung: chị T trình bày không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết.
Chị T không yêu cầu anh P cấp dưỡng cho chị sau khi ly hôn.
[7] Về án phí: chị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 300.000 đồng là phù hợp với quy định tại khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 và Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải, đối thoại tại tòa án.
- Áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Kim T xin ly hôn đối với anh Lê Việt P;
* Về hôn nhân: cho ly hôn giữa chị Trần Thị Kim T với anh Lê Việt P.
* Về con chung, chia tài sản chung và nợ chung: chị Trần Thị Kim T xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chị Trần Thị Kim T không yêu cầu anh Lê Việt P cấp dưỡng cho chị sau khi ly hôn.
2. Về án phí: chị Trần Thị Kim T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005207 ngày 13/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long.
Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Thị Minh Trung |
Bản án số 84/2025/HNGĐ-ST ngày 09/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – VĨNH LONG về ly hôn
- Số bản án: 84/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – VĨNH LONG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Thị Kim T ly hôn Lê Việt P
