TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 - LẠNG SƠN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 83/2025/HS-ST
Ngày 27-11-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Đình Phương.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lộc Văn Quảng;
Ông Nguyễn Nhật Chiến.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Hồng Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - Lạng Sơn.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Ông Nông Quang Hưng và bà Mã Lan H - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 11 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - Lạng Sơn tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 75/2025/TLST-HS ngày 05 tháng 11 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 84/2025/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 11 năm 2025; Quyết định thay đổi Hội thẩm nhân dân số 28/2025/QĐ-TA ngày 24 tháng 11 năm 2025, đối với bị cáo:
Mã Văn P (tên gọi khác: Không), sinh ngày 21 tháng 11 năm 1964 tại tỉnh Lạng Sơn; căn cước công dân số [...]; nơi thường trú: Khối H, phường T, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 03/10; giới tính: Nam; dân tộc: Nùng; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mã Văn L (đã chết) và bà Chu Thị P1 (đã chết); có vợ là Hoàng Thị T, sinh năm 1963 và có người 04 con, lớn nhất sinh năm 1985, nhỏ nhất sinh năm 2000; tiền án, tiền sự: Không; nhận thân: Chưa bị kết án và chưa bị xử lý vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật; bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 25/9/2025 đến nay, có mặt;
- Bị hại: Ông Mã Văn T1, sinh năm 1971; địa chỉ: Khối H, phường T, tỉnh Lạng Sơn, vắng mặt;
- Người làm chứng:
1. Ông Mã Văn T2, vắng mặt;
2. Cháu Mã Thị H1, sinh năm 2013, vắng mặt;
- Người đại diện theo pháp luật của cháu Mã Thị H1: Ông Mã Văn T1, sinh năm 1971, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ ngày 10/7/2025, bị cáo Mã Văn P và ông Mã Văn T1 đang ngồi uống nước tại nhà của bị cáo Mã Văn P thì có ông Mã Văn T2, sinh năm 1966, trú tại khối H, phường T, tỉnh Lạng Sơn đến hỏi mượn tiền của bị cáo Mã Văn P. Bị cáo Mã Văn P bảo không có tiền nên ông Mã Văn T2 tiếp tục hỏi vay ông Mã Văn T1 số tiền 1.000.000 đồng, ông Mã Văn T1 đồng ý. Sau đó ông Mã Văn T1, ông Mã Văn T2 và bị cáo Mã Văn P cùng đi về nhà ông Mã Văn T1 để lấy tiền. Về đến nhà, ông Mã Văn T2 và bị cáo Mã Văn P ngồi ở phòng khách chờ còn ông Mã Văn T1 đi vào phòng ngủ lấy ra một túi nilon màu đen có chữ B bên trong đựng cọc tiền gồm 167 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng có tổng giá trị là 16.700.000 đồng đi ra phòng khách. Ông Mã Văn T1 rút ra 10 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng có giá trị là 1.000.000 đồng đưa cho ông Mã Văn T2 mượn, rồi đặt túi nilon đựng số tiền 15.700.000 đồng còn lại trên kệ ti vi phòng khách, cạnh cửa sổ.
Một lúc sau, bị cáo Mã Văn P về nhà, còn ông Mã Văn T2 và ông Mã Văn T1 tiếp tục ngồi uống nước. Khoảng 30 phút sau, ông Mã Văn T1 rủ ông Mã Văn T2 đi ra ngoài ăn. Lúc này bị cáo Mã Văn P đang ở trong nhà thì nghe thấy tiếng xe mô tô đi qua nên đoán ông Mã Văn T2 và ông Mã Văn T1 đã đi khỏi nên bị cáo Mã Văn P nảy sinh ý định trộm cắp số tiền 15.700.000 đồng trên của ông Mã Văn T1. Bị cáo Mã Văn P một mình quay trở lại nhà ông Mã Văn T1, quan sát thấy thấy chiếc túi nilon đen đựng tiền vẫn để trên kệ ti vi, lợi dụng trong phòng khách không có người bị cáo Mã Văn P đứng ngoài hiên nhà, đưa tay phải qua cửa sổ, cầm túi tiền ra rồi mang về nhà. Khi về đến nhà, bị cáo Mã Văn P bỏ số tiền ra khỏi túi nilon, cất giấu cọc tiền vào trong chăn, sau đó cất chăn vào trong ngăn kéo tủ gỗ kê ở đầu giường ngủ của bị cáo Mã Văn P. Đến khoảng 10 giờ cùng ngày, ông Mã Văn T1 về nhà để cất tiền thì phát hiện đã mất toàn bộ số tiền trên. Sau khi trộm cắp được tiền, bị cáo Mã Văn P đã tự tiêu xài cá nhân 2.300.000 đồng. Số tiền 13.400.000 đồng còn lại sau khi bị Cơ quan điều tra triệu tập, bị cáo Mã Văn P đã tự nguyện giao nộp toàn bộ số tiền trên. Vật chứng thu giữ: 134 tờ tiền Việt Nam bằng polymer, mệnh giá 100.000 đồng/tờ, tổng cộng 13.400.000 đồng; 01 túi nilon màu đen bên ngoài có chữ “Ngân hàng BIDV”.
Tại Kết luận giám định số: 564/KL-KTHS ngày 25/7/2025 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: “Số tiền Việt Nam gồm 13.400.000 đồng gửi giám định là tiền thật”.
Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Mã Văn P thừa nhận hành vi phạm tội.
Tại Cáo trạng số 17/CT-VKS-KV1 ngày 03 tháng 11 năm 2025 của Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Lạng Sơn truy tố ra trước Tòa án nhân dân khu vực 1 - Lạng Sơn để xét xử đối với bị cáo Mã Văn P về tội Trộm cắp tài sản, quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phần tranh tụng:
Bị cáo thừa nhận thực hiện hành vi như cáo trạng truy tố.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Lạng Sơn luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Mã Văn P phạm tội Trộm cắp tài sản, theo quy định tại khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 65 của Bộ luật Hình sự;
Về hình phạt: Đề nghị xử phạt bị cáo Mã Văn P từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng tính từ ngày xét xử sơ thẩm.
Về hình phạt bổ sung, đề nghị: Không áp dụng hình phạt bổ sung do bị cáo không có tài sản riêng.
Về vật chứng: Không có
Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, đề nghị miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo, do bị cáo là người cao tuổi và có đơn xin miễn nộp án phí.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận.
Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo đã trình bày tại cơ quan điều tra hết, nên không có gì trình bày thêm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về trình tự, thủ tục tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án, hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng của Bộ luật Tố tụng hình sự quy định, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Tại phiên tòa vắng mặt bị hại và người làm chứng, nhưng đã có lời khai tại Cơ quan điều tra và có đơn xin xét xử vắng mặt, nhận thấy việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 và Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự tiến hành xét xử vụ án.
[2] Quá trình tranh tụng tại phiên tòa và đối chứng với các lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu thu thập được trong hồ sơ vụ án, đã đủ cơ sở xác định: Khoảng 10 giờ ngày
10/7/2025, bị cáo Mã Văn P phát hiện nhà ông Mã Văn T1 không có ai, bị cáo đã vi lén lút chiếm đoạt số tiền 15.700.000 đồng tại phòng khách nhà ông Mã Văn T1 tại khối H, phường T, tỉnh Lạng Sơn. Do đó, đủ căn cứ kết luận bị cáo Mã Văn P phạm tội Trộm cắp tài sản và Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Lạng Sơn truy tố bị cáo Mã Văn P về tội Trộm cắp tài sản, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của bản thân; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, ngày 14/9/2025 bị cáo Mã Văn P đã bồi thường hoàn trả số tiền 2.300.000 đồng cho bị hại Mã Văn T1 và bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[5] Về nhân thân: Bị cáo chưa bị kết án và chưa bị xử lý vi phạm hành chính, cho thấy bị cáo là người có nhân thân tốt. Do đó, đây cũng là tình tiết xem xét khi áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo.
[6] Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Bị hại ông Mã Văn T1 đã nhận lại số tiền 13.400.000 đồng từ Cơ quan Điều tra và bị cáo Mã Văn P đã bồi thường số tiền 2.300.000 đồng, bị hại ông Mã Văn T1 không yêu cầu bồi thường gì thêm.
[7] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người cao tuổi và không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[8] Vật chứng gồm: Ngày 29/7/2025, Cơ quan điều tra đã trả lại toàn bộ số tiền 13.400.000 đồng và 01 túi nilon màu đen cho chủ sở hữu hợp pháp ông Mã Văn T1.
[9] Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự trên địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ việc làm của mình là vi phạm pháp luật, nhưng do lòng tham cá nhân chiếm đoạt tài sản của người khác làm tài sản của mình mà cố ý phạm tội. Do đó, cần phải xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, nhận thấy bị cáo là người cao tuổi và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, phạm tội lần đầu. Do đó, cho bị cáo cải tạo ngoài xã hội cũng đủ tính răn đe phòng ngừa chung, đồng thời cho bị cáo thấy sự khoan hồng của pháp luật mà phấn đấu tự cải tạo trở thành công dân tốt.
[10] Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát luận tội bị cáo và đề nghị giải quyết toàn bộ nội dung vụ án là đúng pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận.
[11] Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo là người cao tuổi và có đơn xin miễn nộp án phí. Do đó, miễn nộp án phí cho bị cáo.
[12] Về quyền kháng cáo: Bị cáo và bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 65 của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ khoản 2 Điều 136; Điều 331; 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Mã Văn P phạm tội Trộm cắp tài sản.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Mã Văn P 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 27/11/2025). Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường T, tỉnh Lạng Sơn giám sát, giáo dục và gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường T, tỉnh Lạng Sơn để giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong trường hợp bị cáo Mã Văn P thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự và trong thời gian thử thách, bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Về án phí: Miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Mã Văn P.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Đối với bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
- - Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn;
- - Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn;
- - Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Lạng Sơn;
- - Phòng Hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh Lạng Sơn;
- - Cơ quan Thi hành án Hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn;
- - Bị cáo; bị hại;
- - Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 - Lạng Sơn;
- - Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
(đã ký và đóng dấu)
Lương Đình Phương
Bản án số 83/2025/HS-ST ngày 27/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - LẠNG SƠN về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 83/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - LẠNG SƠN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bị cáo Mã Văn P phạm tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS
