Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

KHU VỰC 9 – CẦN THƠ

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 82/2025/HNGĐ - ST.

Ngày: 17 - 12 - 2025.

“V/v ly hôn và tranh chấp về nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – CẦN THƠ, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Ngọc Ánh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Trần Thúy Kiều.

Ông Nguyễn Thanh Rực.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ông Thị Cành Nha – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 9 – Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Lê Hồng Như - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9 – Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 140/2025/TLST - HNGĐ ngày 13 tháng 10 năm 2025 về “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 211/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Thạch Thị Ngọc L, sinh năm 1990; địa chỉ: ấp M, xã L, thành phố Cần Thơ (có mặt).
  2. Bị đơn: Ông Sơn T, sinh năm 1985; địa chỉ: ấp C, xã L, thành phố Cần Thơ (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Trong đơn khởi kiện lập ngày 29/9/2025 và tại phiên tòa nguyên đơn bà Thạch Thị Ngọc L trình bày: Bà L kết hôn cùng với ông Sơn T và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 13/02/2012 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (nay là Ủy ban nhân dân xã G, thành phố Cần Thơ). Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian đầu và đã có 02 con chung là cháu Sơn Cẩm G, sinh ngày 09/4/2013 và cháu Sơn Ngọc D, sinh ngày 20/9/2020. Do bất đồng quan điểm sống nên vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên vợ chồng đã ly thân từ tháng 9/2025 đến nay.

Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Thạch Thị Ngọc L yêu cầu ly hôn với ông Sơn T; về con chung: Bà L yêu cầu được trực tiếp nuôi cháu Sơn Cẩm G, sinh ngày 09/4/2013 và cháu Sơn Ngọc D, sinh ngày 20/9/2020 và không yêu cầu ông T cấp dưỡng cho con chung; về tài sản chung: Tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết; về nợ chung: Không có.

Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Sơn T trình bày: Ông T thống nhất với phần trình bày của bà L về thời gian kết hôn, thủ tục kết hôn, thời gian vợ chồng sống ly thân, con chung, tài sản chung và nợ chung đúng như bà L trình bày trước Tòa. Về hôn nhân ông T không đồng ý ly hôn với bà L vì còn thương vợ nên ông không đồng ý ly hôn. Về con chung: Ông đồng ý giao con chung cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng và ông không cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Tự thỏa thuận không yêu cầu tòa án giải quyết. Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Tại phiên tòa, Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Cần Thơ tham gia phiên tòa trình bày ý kiến: Việc xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và xác định tư cách của người tham gia tố tụng trong vụ án là đúng quy định của pháp luật; việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và nguyên đơn, bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, qua thẩm tra các chứng cứ và kết quả tranh luận tại phiên tòa xét thấy tình trạng của vợ chồng bà Thạch Thị Ngọc L và ông Sơn T đã trở nên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà L; về con chung: giao con chung cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi; ông T không cấp dưỡng cho con chung. Dành quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung cho ông Sơn T mà không ai được cản trở. Về tài sản chung: Tự thỏa thuận nên không đặt ra xem xét, về nợ chung: Không có nên không đặt ra xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. [1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

    Theo nội dung đơn khởi kiện ngày 29/9/2025 và tại phiên tòa bà Thạch Thị Ngọc L trình bày: Bà Thạch Thị Ngọc L và ông Sơn T tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (nay là Ủy ban nhân dân xã G, thành phố Cần Thơ) và được cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 30, quyển số 01/2012 ngày 13/02/2012; về con chung: Bà L yêu cầu được trực tiếp nuôi cháu Sơn Cẩm G, sinh ngày 09/4/2013 và cháu Sơn Ngọc D, sinh ngày 20/9/2020 và không yêu cầu ông T cấp dưỡng cho con chung; về tài sản chung: Tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết; về nợ chung: Không có. Tòa án nhân dân khu vực 9 – Cần Thơ thụ lý vụ án và xác định quan hệ pháp luật tranh chấp giải quyết “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

    Trong vụ án, bị đơn ông Sơn T hiện đang cư trú tại ấp M, xã L, thành phố Cần Thơ nên Tòa án nhân dân khu vực 9 – Cần Thơ thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

  2. [2]. Bị đơn ông Sơn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 3 Điều 235 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt ông T.

  3. [3]. Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy, bà Thạch Thị Ngọc L và ông Sơn T tự nguyện kết hôn và được Ủy Ủy ban nhân dân xã T, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (nay là Ủy ban nhân dân xã G, thành phố Cần Thơ) và được cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 30, quyển số 01/2012 ngày 13/02/2012 nên quan hệ hôn nhân giữa Bà L và ông T là hợp pháp, được pháp luật công nhận. Căn cứ vào khoản 1 Điều 51 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Bà L có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Xét lý do yêu cầu ly hôn của Bà L, Hội đồng xét xử xét thấy: Trong thời gian chung sống ông, bà luôn xảy ra bất đồng ý kiến trong cuộc sống nên vợ chồng thường cãi vã qua lại, mâu thuẫn kéo dài, từ đó cuộc sống vợ chồng không được hạnh phúc, luôn bất hòa. Ông T và Bà L đã sống ly thân với nhau từ tháng 9 năm 2025 cho đến nay và sau khi sống ly thân thì ông T và Bà L có gặp nhau nhưng không thể hàn gắn tình cảm được. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tổ chức phiên hòa giải để động viên vợ chồng ông T và Bà L đoàn tụ với nhau nhưng Bà L vẫn kiên quyết ly hôn với ông T vì tình cảm vợ chồng không còn. Như vậy, tình trạng của vợ chồng ông T và Bà L đã trở nên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, xét yêu cầu xin ly hôn của Bà L là có căn cứ và phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho Bà L được ly hôn với ông T.

  4. [4]. Về con chung: Bà Thạch Thị Ngọc L và ông Sơn T xác định trong thời gian chung sống, Bà L và ông T có 02 người con chung là có 02 người con chung tên Sơn Cẩm G, sinh ngày 09/4/2013 và cháu Sơn Ngọc D, sinh ngày 20/9/2020, hiện cháu G và cháu D đang sống chung với bà L; Bà L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung đến khi con chung đủ 18 tuổi. Xét thấy, từ khi Bà L và ông T không sống chung với nhau cho đến nay cháu G và cháu D do Bà L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Đồng thời trong quá trình giải quyết vụ án cháu G có nguyện vọng sống chung với Bà L. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của cháu G và cháu D, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải giao con chung cho Bà L trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình. Ngoài ra, căn cứ vào Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử dành quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung cho ông Sơn T mà không ai được cản trở.

  5. [5]. Về tài sản chung: Bà Thạch Thị Ngọc L và ông Sơn T xác định tự thỏa thuận không yêu cầu tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

  6. [6]. Về nợ chung: Bà Thạch Thị Ngọc L và ông Sơn T xác định trong thời gian chung sống không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

  7. [7]. Từ những phân tích nêu trên, xét đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Cần Thơ là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

  8. [8]. Về án phí: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Bà Thạch Thị Ngọc L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Ông Sơn T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 3 Điều 235, Điều 271, khoản 1 Điều 273 và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Thạch Thị Ngọc L.

    1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Thạch Thị Ngọc L được ly hôn với ông Sơn T.

    2. Về con chung: Giao cháu Sơn Cẩm G, sinh ngày 09/4/2013 và cháu Sơn Ngọc D, sinh ngày 20/9/2020 cho bà Thạch Thị Ngọc L trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi; ông Sơn T không cấp dưỡng cho con chung.

      Dành quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung cho ông Sơn T mà không ai được cản trở.

    3. Về việc cấp dưỡng nuôi con: Bà Thạch Thị Ngọc L và ông Sơn T không yêu cầu cấp dưỡng cho con chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

    4. Về tài sản chung: Bà Thạch Thị Ngọc L và ông Sơn T xác định tự thỏa thuận không yêu cầu tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

    5. Về nợ chung: Bà Thạch Thị Ngọc L và ông Sơn T xác định trong thời gian chung sống không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

  2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Thạch Thị Ngọc L phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004281 ngày 06/10/2025 của Thi hành án dân sự Thành phố Cần Thơ; như vậy, bà Thạch Thị Ngọc L đã nộp xong án phí dân sự sơ thẩm. Ông Sơn T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

  3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị đơn vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày tống đạt hợp lệ bản án theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND khu vực 9 – Cần Thơ;
  • - UBND xã Gia Hòa;
  • - TAND Thành phố Cần Thơ
  • (P. Giám đốc, Kiểm tra, Thanh tra và THA);
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Ngọc Ánh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 82/2025/HNGĐ - ST. ngày 17/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – CẦN THƠ, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về ly hôn và tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 82/2025/HNGĐ - ST.
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn và tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – CẦN THƠ, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger