Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 8 – PHÚ THỌ

Bản án số: 78/2025/HS-ST

Ngày 09-12-2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do- Hạnh phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phan Thị Nhung và ông Đường Ngọc Đại

Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thanh Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 8 – Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 – Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Bích - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 12 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 8 – Phú Thọ xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số: 56/2025/TLST-HS ngày 22 tháng 10 năm 2025; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 84/2025/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị B, sinh năm 07/01/2001 tại tỉnh Phú Thọ; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn A, xã B, tỉnh Phú Thọ; Nơi thường trú: Thôn T, xã X, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị M; chồng là Lê Văn D (đã ly hôn), con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Không

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 29/4/2025 đến nay đến nay, “có mặt”.

* Người tham gia tố tụng khác:

- Bị hại: Anh Vũ Văn H1, sinh năm 1997; Địa chỉ: Thôn N, xã X, tỉnh Bắc Ninh, “vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt”;

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1981; Địa chỉ: Thôn T, xã X, tỉnh Phú Thọ; “có mặt”.

+ Anh Nguyễn Hữu N, sinh năm 2000; Địa chỉ: Thôn T, xã X, tỉnh Phú Thọ, “vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt”;

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Anh Vũ Văn H1 và Nguyễn Thị B có mối quan hệ yêu đương. Khoảng 02 giờ 00' ngày 04/9/2024, trên đường đi đến phòng trọ của B thì anh H1 gặp tai nạn giao thông. Do xe mô tô và điện thoại của anh H1 bị hỏng nên anh H1 đã thuê xe ô tô tải chở xe mô tô đến phòng trọ của B ở thôn V, xã X, tỉnh Phú Thọ và anh H1 ở chơi với B. Đến khoảng 07 giờ cùng ngày, anh H1 tháo sim số 0325.456.999 trong điện thoại bị hỏng của mình đưa cho B và bảo B lắp vào điện thoại di động Iphone 11 Promax của B để anh H1 liên hệ công việc thì B đồng ý.

Do cần tiền để tham gia đánh bạc trên mạng internet (theo lời khai của B), biết anh H1 có tiền trong các tài khoản ngân hàng nên B nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền từ tài khoản ngân hàng của anh H1. Để thực hiện hành vi, B đã tự ý tạo lập tài khoản Zalopay từ số điện thoại 0325.456.xxx của anh H1 đang lắp trên điện thoại Iphone 11 Promax của B, cụ thể như sau: Bông đăng xuất tài khoản Zalopay có tên “Bích Hồng” tạo lập bằng số điện thoại 0966.915.xxx của B để lập tài khoản Zalopay mới bằng số điện thoại của anh H1. Khi ứng dụng yêu cầu B nhập số điện thoại thì B nhập số điện thoại 0325.456.xxx của anh H1, tiếp theo nhập tên người sử dụng tài khoản thì B nhập tên “Bông Hồng” và bấm hoàn thành thì Z yêu cầu nhập mã OTP đã được gửi bằng tin nhắn SMS đến số điện thoại 0325.456.xxx. Sau khi nhập xong mã OTP thì B bấm hoàn thành và sử dụng được ứng dụng Zalopay đăng ký bằng số điện thoại 0325.456.xxx của anh H1 trên điện thoại của B. Tiếp đó, B liên kết tài khoản ngân hàng của anh H1 tại Ngân hàng thương mại cổ phần Q (MB), Ngân hàng thương mại cổ phần V (V1) với tài khoản Zalopay “Bông Hồng” bằng cách: bấm vào mục liên kết ngân hàng thì lúc này ứng dụng yêu cầu B chọn ngân hàng liên kết, nhập số tài khoản ngân hàng, họ tên chủ tài khoản, số căn cước công dân. Bông đã nhập số tài khoản ngân hàng M1, V1 và số căn cước công dân của H1 vào trường thông tin ứng dụng theo yêu cầu (do trước đây anh H1 đã chuyển tiền cho B bằng tài khoản ngân hàng M1, V1 và trong máy điện thoại của B có lưu hình ảnh căn cước công dân của anh H1). Sau khi nhập xong thì B bấm hoàn thành và ứng dụng Z yêu cầu nhập mã OTP được gửi bằng tin nhắn SMS về số điện thoại 0325.456.xxx, Bông nhập xong mã OTP thì ứng dụng thông báo liên kết thành công và yêu cầu B tạo mã pin liên kết giao dịch gồm 6 chữ số thì B tạo mã pin là 071981. Từ ngày 04/9/2024 đến ngày 04/10/2024, thông qua ứng dụng zalopay và internetbanking được cài đặt trên điện thoại di động, B đã nhiều lần chiếm đoạt tiền từ tài khoản ngân hàng M1, tài khoản Ngân hàng V1 số [...] của anh Vũ Văn H1, cụ thể như sau:

- Hồi 7 giờ 29 phút ngày 04/9/2024, khi anh H1 đang ngủ ở phòng trọ của B thì B đã tự ý chuyển số tiền 5.000.000 đồng từ tài khoản ngân hàng M1 của anh H1 đến tài khoản Z “Bông Hồng”. Ngay sau đó, B đã chuyển 1.000.0000 đồng đến số tài khoản của B mở tại ngân hàng TMCP C (V2) rồi lại chuyển số tiền này đến số tài khoản 105880876359 mở tại Ngân hàng V3 của Trần Bội L, SN 1975 có địa chỉ 121/21/8, K, phường A, quận B, TP Hồ Chí Minh (nay là phường A, TP Hồ Chí Minh). B còn mua thẻ điện thoại V4 mệnh giá 1.000.000 đồng.

- Hồi 08 giờ 49 phút ngày 04/9/2024, B tiếp tục đăng nhập tài khoản Zalopay “Bông Hồng” nạp số tiền 2.000.000 đồng từ tài khoản Ngân hàng M1 của anh H1 đến tài khoản Zalopay “Bông Hồng”, sau đó B đã thực hiện 03 lần mua thẻ điện thoại Viettel đều với mệnh giá 1.000.000đ trên ứng dụng Zalopay.

- Hồi 09 giờ 33 phút ngày 04/9/2024, B tiếp tục đăng nhập tài khoản Zalopay “Bông Hồng” chuyển số tiền 5.000.000 đồng từ tài khoản Ngân hàng M1 của anh H1 đến tài khoản Zalopay “Bông Hồng”. Ngay sau đó, B mua thẻ điện thoại V4 trên ứng dụng Zalopay với mệnh giá 1.000.000 đồng. Bông tiếp tục thực hiện các giao dịch mua thẻ điện thoại thì đều thất bại nên đã chuyển 2 lần tiền, mỗi lần 2.000.000 đồng đến tài khoản ngân hàng MB của anh H1 để thử xem có chuyển được tiền không thì đã chuyển trả thành công số tiền 4.000.000 đồng từ tài khoản Zalopay “Bông Hồng” vào tài khoản ngân hàng M1 của anh H1.

- Hồi 10 giờ 06 phút ngày 04/9/2024, B chuyển 03 lần tiền liên tiếp với tổng số tiền 8.000.000 đồng (một lần 5.000.000 đồng, một lần 2.000.000 đồng, một lần 1.000.000 đồng) từ tài khoản ngân hàng MB của anh H1 đến tài khoản Z “Bông Hồng”. Từ 10 giờ 31 phút đến 10 giờ 39 phút, B đã sử dụng như sau:

  • + Chuyển số tiền 2.000.000 đồng đến tài khoản Zalopay “Mơ Nguyễn” của Nguyễn Thị M (mẹ đẻ của B). B nói với bà M là chuyển tiền để trả nợ nhưng không nói cho bà M biết về nguồn gốc số tiền. Tuy nhiên sau đó B đã bảo bà M chuyển lại cho B số tiền trên vào tài khoản của B tại ngân hàng V3.
  • + Chuyển số tiền 3.000.000 đồng đến tài khoản Z “Bích Hồng” của B, sau đó B chuyển số tiền 2.950.000 đồng đến số tài khoản của B mở tại Ngân hàng V5.
  • + Chuyển số tiền 5.000.000 đồng đến tài khoản Zalopay “Bích Hồng”, sau đó chuyển toàn bộ số tiền trên đến tài khoản của B mở tại ngân hàng TMCP N3 (V5), rồi tiếp tục chuyển số tiền 7.950.000 đồng đến tài khoản của B tại ngân hàng V3, sau đó lại chuyển số tiền 7.900.000 đồng đến số tài khoản 105880876359 của Trần Bội L mở tại ngân hàng V3.

Đến buổi chiều ngày 4/9/2024, B và anh H1 mang điện thoại bị hỏng của anh H1 ra quán điện thoại để sửa nhưng không sửa được ngay nên anh H1 đã mượn điện thoại của chủ quán và lắp sim của anh H1 vào để sử dụng. Anh H1 tiếp tục ở lại phòng trọ của B cho đến ngày 06/9/2024 thì đi về nhà ở tỉnh Bắc Ninh. Ngày 08/9/2025, anh H1 lại đến phòng trọ của B. Sáng ngày 09/9/2025, do cần tiền để chi tiêu cá nhân nên B nảy sinh ý định tiếp tục chiếm đoạt tiền trong tài khoản của anh H1. Lợi dụng lúc anh H1 không để ý, B đã tháo sim điện thoại của anh H1 để lắp sang điện thoại của mình. Đến hồi 10 giờ 32 phút và 10 giờ 33 phút ngày 09/9/2024, B tiếp tục truy cập vào tài khoản zalopay “Bông Hồng” chuyển số tiền 7.000.000 đồng (một lần 2.000.000 đồng, một lần 5.000.000 đồng) từ tài khoản Ngân hàng MB của anh H1 đến tài khoản Zalopay “Bông Hồng”. Sau đó B đã chuyển số tiền 5.009.600 đồng đến tài khoản của B mở tại Ngân hàng V3 rồi chuyển 4.000.000 đồng đến tài khoản của Trần Bội L mở tại ngân hàng V3.

- Hồi 10 giờ 37 phút và 10 giờ 38 phút ngày 09/9/2024, B tiếp tục chuyển số tiền 10.300.000 đồng (hai lần mỗi lần 5.000.000 đồng, 01 lần 200.000 đồng, 01 lần 100.000 đồng) từ tài khoản Ngân hàng MB của anh H1 đến tài khoản Zalopay “Bông Hồng”. Sau đó B đã chuyển số tiền 12.290.000 đồng (một lần 7.190.000 đồng, một lần 5.000.000 đồng, một lần 100.000 đồng) đến tài khoản của B tại ngân hàng V3 rồi chuyển toàn bộ số tiền này đến số tài khoản của Trần Bội L mở tại ngân hàng V3.

- Hồi 21 giờ 14 phút ngày 09/9/2024, B tiếp tục chuyển số tiền 2.000.000 đồng từ tài khoản ngân hàng V1 của anh H1 đến tài khoản Zalopay “Bông Hồng”. Sau đó B đã chuyển số tiền 1.999.070 đồng đến tài khoản của B tại ngân hàng V2 rồi chuyển số tiền 1.980.000 đồng đến số tài khoản 102882080487 mở tại ngân hàng V2 của Vũ Đình N1 SN 1983 trú tại thôn C, xã M, huyện T, tỉnh Hải Dương (nay là xã T, thành phố Hải Phòng).

- Hồi 21 giờ 23 phút ngày 09/9/2024, B tiếp tục đăng nhập tài khoản Zalopay “Bông Hồng”, chuyển số tiền 10.000.000 đồng từ tài khoản Ngân hàng V1 của anh H1 đến tài khoản Zalopay “Bông Hồng”. Sau đó B đã chuyển toàn bộ số tiền này đến tài khoản Z “Bích Hồng” rồi chuyển số tiền 9.999.750 đồng đến số tài khoản của B mở tại Ngân hàng V5 của B và sử dụng như sau:

  • + Chuyển số tiền 9.500.000 đồng đến số tài khoản của B tại ngân hàng V2 rồi chuyển toàn bộ đến số tài khoản Ngân hàng 102882080487 của Vũ Đình N1.
  • + Chuyển 400.000 đồng đến số tài khoản 0361000339726 mở tại ngân hàng TMCP N3 (V5) của anh Nguyễn Hữu N, SN 2000 trú tại thôn T, xã X, tỉnh Phú Thọ để trả nợ cho anh N.

- Hồi 21 giờ 47 phút ngày 09/9/2024, B tiếp tục chuyển số tiền 1.000.000 đồng từ tài khoản Ngân hàng V1 của anh H1 đến tài khoản Zalopay “Bông Hồng”. Sau đó B đã chuyển số tiền 999.535 đồng đến tài khoản Ngân hàng 102873339912 của B sau đó tiếp tục chuyển số tiền 950.000 đồng đến số tài khoản Ngân hàng 102882080487 của Vũ Đình N1.

- Hồi 00 giờ 16 phút ngày 10/9/2024, B tiếp tục đăng nhập tài khoản Zalopay “Bông Hồng”, chuyển số tiền 500.000 đồng từ tài khoản Ngân hàng V1 của anh H1 đến tài khoản Zalopay “Bông Hồng”. Sau đó B đã chuyển số tiền 501.317 đồng đến tài khoản ngân hàng 102873339912 của B rồi B tiếp tục chuyển số tiền 455.000 đồng đến số tài khoản của B mở tại ngân hàng B1, sau đó B chuyển 450.000đ đến số tài khoản Ngân hàng H4 mở tại ngân hàng TMCP Đ (B1) của Lê Phi H2, SN 1995 trú tại A L, phường Đ, quận H, TP Hà Nội (nay là phường H, TP Hà Nội).

- Hồi 00 giờ 38 phút ngày 10/9/2024, B tiếp tục chuyển số tiền 100.000 đồng từ tài khoản ngân hàng V1 của anh H1 đến tài khoản Zalopay “Bông Hồng”. Sau đó B đã chuyển số tiền 99.724 đồng đến tài khoản của B tại ngân hàng V2 rồi chuyển toàn bộ số tiền này đến tài khoản của B mở tại Ngân hàng B1, sau đó B tiếp tục chuyển số tiền trên đến tài khoản của Lê Phi H2 tại ngân hàng B1 của Lê Phi H2.

Đến ngày 11/9/2024, khi B và anh H1 đang ở phòng trọ thì H1 sử dụng điện thoại đăng nhập vào ứng dụng Internetbanking của tài khoản ngân hàng A của H1 để chuyển tiền cho người khác. Bông quan sát được mật khẩu của H1 nên lại nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của anh H1 tại ngân hàng A. Lợi dụng lúc anh H1 đi vào nhà vệ sinh, B đã tự ý sử dụng điện thoại của anh H1 để đăng nhập ứng dụng của Ngân hàng A trên điện thoại của anh H1 theo mật khẩu mà B quan sát được trước đó rồi thực hiện thao tác chuyển số tiền 2.000.000 đồng đến tài khoản của B tại Ngân hàng V3. Khi thao tác chuyển tiền thì ứng dụng chuyển tiền của ngân hàng gửi mã OTP qua tin nhắn SMS đến số điện thoại 0325.456.xxx của anh H1. Sau đó B nhập mã OTP để xác thực thì hệ thống B2 chuyển tiền thành công. Tiếp đó, B đã chuyển toàn bộ số tiền này đến tài khoản số [...] mở tại Ngân hàng TMCP C của Nguyễn Tí H3 SN 1996, địa chỉ ấp L, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh (nay là xã L, tỉnh Tây Ninh).

Anh H1 ở lại phòng trọ của B cho đến sáng ngày 12/9/2025 thì thuê xe taxi về nhà ở tỉnh Bắc Ninh. Trên đường đi, anh H1 nhận được điện thoại của nhân viên ngân hàng thông báo về việc tài khoản ngân hàng V1 của anh H1 không còn đủ tiền để trả nợ ngân hàng. Anh H1 kiểm tra thì phát hiện số tiền trong tài khoản ngân hàng M1 và ngân hàng V1 của mình đã bị chiếm đoạt thông qua tài khoản zalopay. Anh H1 hỏi B thì B đã thừa nhận chuyển số tiền này của anh H1. Anh H1 không đồng ý và yêu cầu B phải trả lại số tiền này cho anh H1 nhưng B không có để trả lại nên giữa B và anh H1 xảy ra mâu thuẫn.

Đến hồi 15 giờ 24 phút ngày 04/10/2024, do cần tiền để chi tiêu nên B tiếp tục nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của anh H1 trong tài khoản ngân hàng. Bông sử dụng điện thoại di động của mình truy cập vào tài khoản zalopay “Bông Hồng” rồi thực hiện thao tác chuyển số tiền 1.500.000 đồng (1 lần 1.000.000 đồng, 1 lần 500.000 đồng) từ tài khoản Ngân hàng MB của anh H1 đến tài khoản Zalopay “Bông Hồng”. Ngay sau đó, B chuyển số tiền 1.000.000 đồng đến số tài khoản 100882188667 mở tại ngân hàng V3 của Ngô Yến T, SN 2002 trú tại Tổ A, T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh (nay là xã T, tỉnh Tây Ninh), chuyển 500.000 đồng đến số tài khoản ngân hàng A1 mở tại Ngân hàng V3 của Nguyễn Thị Quỳnh N2, SN 1998 trú tại thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam (nay là xã G, TP .).

Tất cả các lần chuyển tiền từ tài khoản Ngân hàng M1, V1 của anh H1 sử dụng sang tài khoản Z “Bông Hồng” thì anh H1 đều không biết B thực hiện khi nào và thực hiện như thế nào, B cũng không xin phép hay cho anh H1 biết việc B rút tiền từ tài khoản ngân hàng của anh H1 sang tài khoản Zalopay để sử dụng. Toàn bộ số tiền chiếm đoạt được của anh H1 thì B đều sử dụng cho mục đích cá nhân, không có khoản tiền nào là dùng để chi tiêu cho anh H1 hoặc dùng chi tiêu chung của hai người. Căn cứ vào kết quả sao kê của tài khoản Z và các tài khoản Ngân hàng xác định tổng số tiền Nguyễn Thị B chiếm đoạt được của anh Vũ Văn H1 là 50.400.000 đồng (trong đó chiếm đoạt thông qua tài khoản Z là 48.400.000 đồng, chiếm đoạt từ tài khoản ngân hàng A là 2.000.000 đồng).

Sau khi phát hiện B chiếm đoạt tiền của mình, anh H1 đã yêu cầu B phải trả số tiền trên nhưng B không trả. Đến ngày 31/12/2024, anh H1 đã trình báo sự việc trên đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Công an huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là Công an tỉnh P). Tại Cơ quan điều tra Nguyễn Thị B đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nêu trên (Bút lục 553 – 620). Cơ quan điều tra đã tạm giữ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, số I: 352845110641281 của Nguyễn Thị B để phục vụ công tác điều tra.

Kết quả kiểm tra điện thoại:

Cơ quan điều tra đã kiểm tra ứng dụng zalopay “Bông Hồng”, “Bích Hồng” trong điện thoại của Nguyễn Thị B (Iphone 11 promax) và trong điện thoại Iphone 14 của anh H1, chụp toàn bộ hình ảnh các giao dịch chuyển tiền qua Zalopay của 2 tài khoản trên. Kết quả phù hợp với lời khai của B, anh H1 và các sao kê tài khoản ngân hàng mà cơ quan điều tra đã thu thập được.

Kết quả xác minh tài khoản Zalopay:

  • * Đối với tài khoản Z “Bông Hồng” đăng ký bằng số điện thoại 0325.456.xxx do bị cáo Nguyễn Thị B tạo lập, sử dụng.
  • Ngày 19/7/2025, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh P có công văn số 281 đề nghị Công ty cổ phần Z1 cung cấp các nội dung thông tin liên quan đến tài khoản Zalopay “Bông Hồng”. Ngày 13/8/2025, Công ty cổ phần Z1 có văn bản số 0330325/CV-ZION phúc đáp yêu cầu của cơ quan điều tra và cho biết về phương thức, các bước tạo lập tài khoản; về việc liên kết tài khoản ngân hàng; về việc định danh tài khoản... và xác định trong trường hợp của bị cáo Nguyễn Thị B thì B không cần định danh tài khoản thì vẫn có thể giao dịch chuyển tiền đến tài khoản Zalopay khác hoặc tài khoản ngân hàng.
  • * Đối với tài khoản Z “Bích Hồng” đăng ký bằng số điện thoại 0966.915.xxx do bị can Nguyễn Thị B sử dụng như sau:
  • Ngày 28/3/2025, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh P có công văn số 2783/CSHS-Đ4 đề nghị Công ty cổ phần Z1 cung cấp các nội dung thông tin liên quan đến tài khoản Zalopay “Bích Hồng” đăng ký bằng số điện thoại 0966.915.xxx của Nguyễn Thị B sử dụng và tài khoản Zalopay “Mơ Nguyễn” đăng ký bằng số điện thoại 0392.157.xxx của bà Nguyễn Thị M (mẹ ruột của B) sử dụng. Ngày 08/7/2025, Công ty cổ phần Z1 có văn bản số 0317625/CV-ZION phúc đáp công văn của cơ quan điều tra như sau:
    • - Tài khoản Zalopay “Bích Hồng” đăng ký bằng số điện thoại 0966.915.xxx là của Nguyễn Thị B, SN 2001 ở TDP T, thị trấn Đ, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là TDP T, xã X, tỉnh Phú Thọ) sử dụng (có sao kê giao dịch kèm theo);
    • - Tài khoản Z “Mơ Nguyễn” đăng ký bằng số điện thoại 0392.157.xxx là của bà Nguyễn Thị M, SN 1981 trú tại TDP Trại, thị trấn Đ, huyện B, tỉnh Phú Thọ (nay là TDP T, xã X, tỉnh Phú Thọ) sử dụng (có sao kê giao dịch kèm theo).

Kết quả xác minh các số điện thoại Nguyễn Thị B sử dụng.

Ngày 05/12/2025, Cơ quan điều tra có công văn số 311 đề nghị Cục B3, Tập đoàn C1 cung cấp thông tin chủ thuê bao, lịch sử liên lạc của số 02 điện thoại: 0325.456.xxx và 0966.915.623. Kết quả: Tập đoàn C1 cung cấp thông tin người đăng ký chủ thuê bao số 0325.456.999 là anh Vũ Văn H1; Chủ thuê bao số 0966.915.623 là Nguyễn Thị B sử dụng, đồng thời cung cấp danh sách các cuộc gọi, tin nhắn đi và đến giữa 2 số thuê bao.

Kết quả xác minh các tài khoản ngân hàng.

  • - Các tài khoản ngân hàng gồm: tài khoản số 0325456999 mở tại Ngân hàng TMCP Q (MB); tài khoản số [...] mở tại Ngân hàng TMCP V (V1); tài khoản số 2508205236052 mở tại Ngân hàng N4 (A) đều do anh Vũ Văn H1 là người đăng ký mở tài khoản. Cơ quan điều tra đã thu giữ được toàn bộ lịch sử giao nhận tiền từ tài khoản ngân hàng của anh Vũ Văn H1 đến tài khoản Z “Bông Hồng” và tài khoản ngân hàng của bị can Nguyễn Thị B.
  • - Tài khoản số [...] mở tại Ngân hàng V3; số 4252307448 mở tại Ngân hàng B1; số 0361000356890 mở tại Ngân hàng V5 đều do Nguyễn Thị B là người đăng ký mở tài khoản và sử dụng;
  • - Tài khoản số 0361000339726 mở tại Ngân hàng V5 do Nguyễn Hữu N, SN 2000 trú tại TDP Trại, xã X, tỉnh Phú Thọ là người đăng ký mở tài khoản.
  • - Tài khoản số [...] mở tại Ngân hàng TMCP C mang tên Vũ Đình N1;
  • - Tài khoản số [...] mở tại Ngân hàng TMCP C mang tên Ngô Yến T;
  • - Tài khoản số [...] mở tại Ngân hàng TMCP C mang tên Nguyễn Thị Quỳnh N2;
  • - Tài khoản số [...] mở tại Ngân hàng TMCP C mang tên Nguyễn Tí H3;
  • - Tài khoản số 8803129666 mở tại Ngân hàng TMCP Đ mang tên Lê Phi H2;
  • - Tài khoản số [...] mở tại Ngân hàng TMCP C mang tên Trần Bội L.

Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:

Đối với số tiền 50.400.000 đồng Nguyễn Thị B đã chiếm đoạt của anh Vũ Văn H1, sau khi sự việc bị tố giác đến cơ quan công an, B đã nhờ mẹ là bà Nguyễn Thị M bồi thường cho anh H1. Ngày 04/8/2025, bà M đã bồi thường cho anh H1 số tiền 50.400.000 đồng. Sau khi nhận lại tài sản anh H1 không có yêu cầu bồi thường gì thêm, đồng thời xin giảm nhẹ hình phạt cho B. Bà M cũng không yêu cầu B phải trả lại số tiền bà đã bỏ ra bồi thường cho anh H1.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax thu giữ của B xác định là tài sản của B sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu bán phát mại nộp ngân sách Nhà nước.

Tại Cáo trạng số 09/CT-VKSKV8 ngày 21 tháng 10 năm 2025 Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 – Phú Thọ đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị B về tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” theo điểm b, đ khoản 2 Điều 290 Bộ luật Hình sự.

Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị B khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 – Phú Thọ trình bày lời luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như Cáo trạng đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b, đ khoản 2 Điều 290; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Thị B từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 09 tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày tạm giam bị cáo. Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý vật chứng và chịu án phí theo qui định của pháp luật.

Ý kiến của những người tham gia tố tụng:

Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, xong trong giai đoạn điều tra đã có lời khai, phù hợp với lời khai của bị cáo cùng các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đầy đủ, đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hay khiếu nại gì đối với các hành vi, quyết định của những người tiến hành tố tụng. Vì vậy, hành vi, quyết định của những người tiến hành tố tụng trong vụ án là hợp pháp.

[2]. Về nội dung vụ án: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà Nguyễn Thị B đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 – Phú Thọ đã truy tố. Xét lời nhận tội của bị cáo là phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ như: Lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, vật chứng vụ án thu giữ được và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Trong thời gian từ ngày 04/9/2024 đến ngày 04/10/2024, tại thị trấn Đ, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là xã X, tỉnh Phú Thọ), Nguyễn Thị B đã sử dụng điện thoại di động Iphone 11 Promax của Bông kết nối internet, tự ý lập tài khoản Zalopay đăng ký bằng số điện thoại 0325.456.xxx của anh Vũ Văn H1, sau đó B đã nhiều lần thực hiện thao tác chuyển tiền từ tài khoản ngân hàng M1, V1 của anh H1 để chiếm đoạt số tiền 48.400.000 đồng. Ngoài ra, ngày 11/9/2024, B còn truy cập bất hợp pháp vào tài khoản ngân hàng A của anh H1 để chiếm đoạt số tiền 2.000.000 đồng. Tổng số tiền B chiếm đoạt của anh H1 là 50.400.000 đồng. Toàn bộ số tiền chiếm đoạt được, B sử dụng chi tiêu cá nhân hết.

Hành vi của Nguyễn Thị B trong vụ án này đã sử dụng điện thoại di động có kết nối internet tạo tài khoản zalopay để nhiều lần chuyển tiền từ tài khoản ngân hàng M1, V1 của anh Vũ Văn H1 và truy cập bất hợp pháp vào tài khoản ngân hàng A của anh H1 chiếm đoạt với tổng số tiền 50.400.000 đồng đã phạm vào tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được qui định tại điểm b, đ khoản 2 Điều 290 BLHS.

Nội dung điều luật quy định:

“2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

...b) Phạm tội 02 lần trở lên;

...đ) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng”...

[3]. Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện tính coi thường pháp luật, gây mất trật tự trị an tại địa phương, xâm phạm vào những quy định của Nhà nước về bảo vệ quyền sở hữu tài sản của công dân; qui định của Nhà nước về đảm bảo an toàn mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số của người khác được pháp luật bảo vệ. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm minh bị cáo trước pháp luật mới có tác dụng đấu tranh phòng chống tội phạm.

[4]. Xét nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng: Bị cáo Nguyễn Thị B có tuổi đời còn trẻ, có sức khỏe để tự lao động nuôi sống bản thân nhưng không chịu khó lao động, lại muốn hưởng thụ, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nhiều lần thể hiện sự xem thường pháp luật, xem thường việc sở hữu tài sản của người khác mà dẫn đến phạm tội. Vì vậy cần thiết phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù nghiêm khắc mới đủ điều kiện để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội sau này. Tuy nhiên, khi xem xét quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo vì: quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo đã tác động cho mẹ đẻ của mình là bà Nguyễn Thị M tự nguyện bồi thường, khắc phục toàn bộ thiệt hại cho bị hại. Bị hại đã nhận đủ tiền bồi thường, không có đề nghị bồi thường gì khác và có đơn xin giảm hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào, đó là căn cứ để Hội đồng xét xử xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, nên đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh và mức hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5]. Quá trình điều tra Nguyễn Thị B trình bày: Khoảng đầu tháng 7/2023, bản thân B tham gia vào Game đánh bạc đổi thưởng trên mạng internet, do đã lâu nên B không nhớ ứng dụng Game đánh bạc tên gì. Trước khi làm việc với cơ quan điều tra thì B đã xóa toàn bộ tài khoản, ứng dụng, lịch sử truy cập vào game đánh bạc trên điện thoại di động Iphone 11 Promax của B. Đến nay, B không nhớ được cụ thể hình thức đánh bạc, mức độ thắng thua. Toàn bộ số tiền chiếm đoạt được của anh H1 là 50.400.000 đồng, B đã chuyển khoản vào các tài khoản Ngân hàng đứng tên Vũ Đình N1, Ngô Yến T, Nguyễn Thị Quỳnh N2, Nguyễn Tí H3, Lê Phi H2, Trần Bội L để đánh bạc trên mạng theo yêu cầu của trang web trên mạng internet. Bản thân B không biết những người có tên trên là ai, ở đâu. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng những người đứng tên chủ tài khoản này đều không có mặt tại địa phương như đăng ký. Kiểm tra điện thoại thu giữ của B không có thông tin ứng dụng nào liên quan đến hành vi đánh bạc. Ngoài lời khai của B về việc Bông tham gia đánh bạc trên mạng internet thì không có tài liệu nào khác về việc này. B cũng không xác định được tài khoản đánh bạc, ứng dụng game đánh bạc là gì. Do đó hiện tại không có căn cứ để xử lý B về hành vi đánh bạc. Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau là phù hợp.

Trong vụ án này còn có bà Nguyễn Thị M, anh Nguyễn Hữu N là người nhận chuyển tiền mà Nguyễn Thị B chiếm đoạt được của anh H1. Tuy nhiên, do B không nói và bà M, anh N không biết nguồn gốc số tiền B chuyển là do phạm tội mà có nên cơ quan CSĐT – Công an tỉnh P không đề cập xử lý là phù hợp.

Đối với Vũ Đình N1, Ngô Yến T, Nguyễn Thị Quỳnh N2, Nguyễn Tí H3, Lê Phi H2, Trần Bội L, kết quả xác minh xác định đây là những người đứng tên các tài khoản ngân hàng mà B được trang mạng đánh bạc hướng dẫn chuyển khoản để đánh bạc sau khi chiếm đoạt tiền của anh H1 . Kết quả xác minh những người này đều không có mặt tại địa phương, không biết đi đâu, làm gì nên chưa có căn cứ để xử lý.

[6]. Về hình phạt bổ sung: Giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa đã làm rõ, Nguyễn Thị B không có tài sản và thu nhập gì nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với B.

[7]. Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:

Đối với số tiền 50.400.000 đồng Nguyễn Thị B đã chiếm đoạt của anh Vũ Văn H1, sau khi sự việc bị tố giác đến cơ quan công an, B đã tác động nhờ mẹ là bà Nguyễn Thị M bồi thường cho anh H1. Ngày 04/8/2025, bà M đã bồi thường cho anh H1 số tiền 50.400.000 đồng. Sau khi nhận lại tài sản anh H1 không có yêu cầu bồi thường gì thêm, đồng thời xin giảm nhẹ hình phạt cho B. Bà M cũng không yêu cầu B phải trả lại số tiền bà đã bỏ ra bồi thường cho anh H1.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax thu giữ của B xác định là tài sản của B sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu bán phát mại nộp ngân sách Nhà nước.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị B phạm tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”.

Áp dụng: Điểm b, đ khoản 2 Điều 290; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị B 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 29/4/2025.

Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự:

Tịch thu bán phát mại nộp Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax thu giữ của Nguyễn Thị B

(Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 11 tháng 11 năm 2025 giữa Công an tỉnh P và Phòng thi hành án dân sự Khu vực 8 – Phú Thọ).

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Thị B phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 – Phú Thọ;
  • - Trại tạm giam số 2 Công an tỉnh Phú Thọ;
  • - Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ;
  • - Cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hô sơ vụ án + VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thu Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 78/2025/HS-ST ngày 09/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – PHÚ THỌ về hình sự: tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 78/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự: Tội Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo phạm tội Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger