|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - NINH BÌNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 78/2025/HS-ST Ngày: 05-12-2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - NINH BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Mai Anh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Quỹ
Ông Nguyễn Văn Thắng
- Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Anh Tuấn - Thẩm tra viên Toà án nhân dân khu vực 7 - Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Ninh Bình tham gia phiên tòa: Ông Vũ Đức Hạnh - Kiểm sát viên
Ngày 05 tháng 12 năm 2025, tại Tòa án nhân dân khu vực 7 - Ninh Bình mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 74/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 74/2025/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Mai Văn T, sinh ngày 07-02-1986; căn cước công dân số [...]; nơi thường trú và cư trú: Thôn A, xã Y, tỉnh Ninh Bình; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 9/12; con ông Mai Hà V và bà Vũ Thị Ư; vợ: Ngô Thị M; có 03 con; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 23-7-2025, Ủy ban nhân dân phường T, tỉnh Ninh Bình đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính hình thức phạt tiền về hành vi trộm cắp tài sản; nhân thân: Ngày 05-10-2021, Công an xã M, huyện M, tỉnh Nam Định (cũ) xử phạt vi phạm hành chính hình thức phạt tiền về hành vi trộm cắp tài sản; bị tạm giữ từ ngày 15-9-2025, chuyển tạm giam từ ngày 24-9-2025; hiện đang tạm giam tại trại giam S Công an tỉnh N; có mặt.
- Bị hại: Anh Nguyễn Văn D, sinh năm 2000; căn cước công dân số: [...]; nơi cư trú: Thôn G, xã H, tỉnh Ninh Bình; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Mai Văn T không có công việc ổn định nên đã nảy sinh ý định đi trộm cắp tài sản để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Khoảng 07 giờ ngày 06- 9-2025, T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 18F2-5097 đi từ nhà đến khu vực phường T, tỉnh Ninh Bình. Khoảng 8 giờ 20 phút cùng ngày, T đi qua nhà của ông Nguyễn Văn H đang xây dựng tại địa chỉ số I đường Đ, phường T, tỉnh Ninh Bình, phát hiện cửa nhà đang mở không có người trông coi. Tại tầng 1 của căn nhà có dựng 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, biển kiểm soát: 18B2-217.17 của anh Nguyễn Văn D. T dựng xe mô tô của mình tại khu vực vỉa hè bên phải ngôi nhà (theo hướng từ đường nhìn vào) rồi đi vào trong nhà dùng tay phải kéo bênh phía bên phải yên xe mô tô biển kiểm soát: 18B2-217.17 lên, dùng tay trái luồn ngón tay vào bên trong cốp xe mô tô tìm kiếm tài sản nhưng không lấy được gì. T tiếp tục đặt bàn chân phải lên phần để chân phía trước bên phải của xe mô tô để làm điểm tựa, dùng tay phải móc yên của xe mô tô biển kiểm soát: 18B2-217.17 lên, dùng tay trái đưa ngón tay vào khe dưới yên lấy được số tiền: 153.000 đồng. T cất tiền vào túi áo ngực bên trái rồi đi ra lấy xe mô tô phía trước rồi đi xe mô tô biển kiểm soát 18F2-5097 đi về. Số tiền trộm cắp được Mai Văn T đã tiêu xài cá nhân hết.
Ngày 14-9-2025, anh Nguyễn Văn D phát hiện mất tài sản đã đến công an phường T, tỉnh Ninh Bình để trình báo. Ông Nguyễn Văn H giao nộp 01 đoạn video từ camera an ninh ghi lại quá trình T trộm cắp tài sản.
Đến ngày 15-9-2025, T biết được hành vi phạm tội của bản thân đã bị phát hiện nên đã đến Công an phường T đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội của bản thân và tự nguyện giao nhận một số vật chứng gồm: 01 chiếc áo dài tay dài khoảng 60cm, nền trắng, sọc đỏ đen đã qua sử dụng; 01 chiếc mũ bảo hiểm màu xanh, ở giữa có đường dọc màu xanh ngọc, trên mũ có dòng chữ CMC, đã qua sử dụng; 01 chiếc quần dài vải màu ghi, dài khoảng 01m, bị rách ngang ở khu vực đầu gối trái. Đối với số tiền 153.000đ (một trăm năm mươi ba nghìn đồng) trộm cắp được T đã tiêu xài cá nhân hết, do thời gian đã lâu nên không nhớ đã sử dụng vào những việc gì.
Quá trình điều tra còn xác định Mai Văn T có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý.
Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh N Mai Văn T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Bản kết luận giám định số 1440/KL-KTHS ngày 29-10-2025 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong 01 (một) tệp tin video gửi giám định.
Về vấn đề dân sự: Mai Văn T đã tác động vợ là chị Ngô Thị M bồi thường, cho anh Nguyễn Văn D số tiền 153.000 đồng. Anh D1 đã nhận đủ và không có đề nghị gì khác. Chị Ngô Thị M có quan điểm không yêu cầu Mai Văn T phải hoàn trả cho chị số tiền 153.000 đồng chị đã bồi thường cho bị hại.
Quá trình điều tra xác định, trước khi bị bắt giữ, Mai Văn T đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý Công an phường T, tỉnh Ninh Bình đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của T Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh N đã tạm giữ 01 đôi giầy màu đen cỡ 41 dạng giầy cao su đã qua sử dụng, T tự nguyện giao nộp: 01 chiếc áo dài tay dài khoảng 60cm, nền trắng, sọc đỏ đen đã qua sử dụng; 01 chiếc mũ bảo hiểm màu xanh, ở giữa có đường dọc màu xanh ngọc, trên mũ có dòng chữ CMC, đã qua sử dụng; 01 chiếc quần dài vải màu ghi, dài khoảng 01m, bị rách ngang ở khu vực đầu gối trái; các vật chứng trên là trang phục T mang trên người khi thực hiện hành vi trộm cắp.
Chiếc xe mô tô biển kiểm soát 18F2-5097 là của chị Mai Thị P (em họ T). Chị P không biết việc T mượn xe đi trộm cắp tài sản, cơ quan điều tra đã trả lại xe cho chị P.
Bản cáo trạng số 32/CT-VKS-KV7 ngày 13-11-2025 Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Ninh Bình truy tố Mai Văn T tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, bị cáo Mai Văn T đã thành khẩn khai nhận, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình. Đối với các vật chứng bị thu giữ, do không còn giá trị sử dụng nên bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 - Ninh Bình giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Mai Văn T về tội danh và điều luật như Bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Mai Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Về hình phạt chính:
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173; điểm b, s, i khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Mai Văn T từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù.
- Về hình phạt bổ sung: Đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 đôi giầy màu đen cỡ 41 dạng giầy cao su đã qua sử dụng; 01 chiếc áo dài tay dài khoảng 60cm, nền trắng, sọc đỏ đen đã qua sử dụng; 01 chiếc mũ bảo hiểm màu xanh, ở giữa có đường dọc màu xanh ngọc, trên mũ có dòng chữ CMC, đã qua sử dụng; 01 chiếc quần dài vải màu ghi, dài khoảng 01m, bị rách ngang ở khu vực đầu gối trái.
Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 - Ninh Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Về tội danh:
Ngày 23-7-2025 Mai Văn T đã bị Ủy ban nhân dân phường T, tỉnh Ninh Bình ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính hình thức phạt tiền về hành vi trộm cắp tài sản, chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính, nhưng vì để có tiền tiêu xài cá nhân, ngày 06-9-2025 bị cáo đã có hành lén lút chiếm đoạt số tiền 153.000 đồng của anh Nguyễn Văn D tại số I đường Đ, phường T, tỉnh Ninh Bình.
Bản thân bị cáo là người có đầy đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi của mình, mặc dù biết rõ hành vi của mình là phạm tội nhưng vì lười lao động, muốn chiếm đoạt tài sản để lấy tiền tiêu xài cá nhân nên bị cáo vẫn thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản.
Hành vi của bị cáo còn được chứng minh bằng: Đơn trình báo và lời khai của bị hại; lời khai người làm chứng; đơn xin đầu thú; biên bản giao, nhận tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử; kết luận giám định cùng tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Mai Văn T phạm tội: “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tình tiết định khung tăng nặng:
Hành vi của các bị cáo không cấu thành tình tiết định khung tăng nặng.
[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:
4.1. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
4.2. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Mai Văn T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo đã tác động để vợ bị cáo bồi thường cho bị hại; sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú tại cơ quan Công an; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định điểm b, i, s khoản 1; khoản 2 của Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
4.3. Hình phạt chính:
Trên cơ sở xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đối chiếu với các quy định của Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu về tài sản được pháp luật bảo vệ. Cần áp dụng loại hình phạt tù có thời hạn trong khung đã truy tố cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và góp phần phòng ngừa tội phạm nói chung trên địa bàn. Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nên quyết định mức hình phạt ở mức thấp theo nghị của Kiểm sát viên là hợp lý.
4.4. Hình phạt bổ sung:
Xét bị cáo Mai Văn T không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5] Về bồi thường dân sự:
Bị cáo đã tác động để vợ bị cáo là chị Ngô Thị M bồi thường đầy đủ thiệt hại về tài sản cho bị hại là anh Nguyễn Văn D. Anh Nguyễn Văn D không yêu cầu giải quyết về phần dân sự; chị Ngô Thị M không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả lại cho chị số tiền chị đã bồi thường cho bị hại. Vì vậy vấn đề dân sự không đặt ra để giải quyết.
[6] Về xử lý vật chứng:
01 đôi giầy màu đen cỡ 41 dạng giầy cao su đã qua sử dụng; 01 chiếc áo dài tay dài khoảng 60cm, nền trắng, sọc đỏ đen đã qua sử dụng; 01 chiếc mũ bảo hiểm màu xanh, ở giữa có đường dọc màu xanh ngọc, trên mũ có dòng chữ CMC, đã qua sử dụng; 01 chiếc quần dài vải màu ghi, dài khoảng 01m, bị rách ngang ở khu vực đầu gối trái là tài sản của bị cáo. Bị cáo khai các tài sản trên không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[7] Án phí Hình sự sơ thẩm:
Bị cáo Mai Văn T bị kết án nên phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Mai Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Mai Văn T 09 (chín) tháng tù.
Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 15-9-2025.
- Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc áo dài tay dài khoảng 60 cm, nền trắng, sọc đỏ đen đã qua sử dụng; 01 chiếc mũ bảo hiểm màu xanh, ở giữa có đường dọc màu xanh ngọc, trên mũ có dòng chữ CMC, đã qua sử dụng; 01 chiếc quần dài vải màu ghi, dài khoảng 01m, bị rách ngang ở khu vực đầu gối trái, tất cả có trong 01 thùng bìa giấy cứng màu xanh, được niêm phong dán kín và có chữ ký của các bên tham gia niêm phong.
Tịch thu tiêu hủy 01 đôi giày màu đen cỡ 41 dạng giày cao su đã qua sử dụng có trong 01 túi ni lông màu đỏ được dán kín và có chữ ký của các bên tham gia niêm phong.
(Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao, nhận vật chứng, tài sản ngày 28-11-2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh N và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 7, tỉnh Ninh Bình).
- Án phí Hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo Mai Văn T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo Mai Văn T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại là anh Nguyễn Văn D được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định Điều 2 Luật Thi hành án dân sự: Bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Phạm Thị Mai Anh |
Bản án số 78/2025/HS-ST ngày 05/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - NINH BÌNH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 78/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngày 23-7-2025 Mai Văn T đã bị Uỷ ban nhân dân phường T, tỉnh Ninh Bình ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính hình thức phạt tiền về hành vi trộm cắp tài sản, chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính, nhưng vì để có tiền tiêu xài cá nhân, ngày 06-9-2025 bị cáo đã có hành lén lút chiếm đoạt số tiền 153.000 đồng của anh Nguyễn Văn D tại số 09 đường Đ, phường T, tỉnh Ninh Bình.
