TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 776/2025/HS-PT Ngày 09-12-2025 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Văn Lộc.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hữu Lâm;
Ông Nguyễn Thanh Tùng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Ngọc Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (cơ sở 2) xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 571/2025/TLPT-HS ngày 15 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo Ngô Văn T, Hà Kiều T1 do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 32/2025/HS-ST ngày 13 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh.
- Các bị cáo có kháng cáo:
Ngô Văn T, sinh năm 1991 tại tỉnh Bình Dương (nay là Thành phố Hồ Chí Minh); nơi cư trú: khu phố T, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch Việt Nam; con ông Ngô Văn D và bà Lê Thị Mỹ D1; có vợ và 03 con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo tự thú và bị bắt tạm giam từ ngày 02/9/2024 đến ngày 24/01/2025 thay đổi biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” cho đến nay, có mặt;
Hà Kiều T1, sinh năm 1985 tại tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: Số F, đường N, tổ B, khu phố C, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Văn D2 và bà Phạm Thị H; có chồng (đã ly hôn) và 02 con; tiền án, tiền sự: không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” cho đến nay, có mặt.
Ngoài ra, trong vụ án còn có 08 bị cáo; 01 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án do không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Ngô Văn T có mối quan hệ quen biết với các bị cáo Phạm Thị Anh T2, Nguyễn Dương L, Nguyễn Trọng N, Bùi Huy T3, Hà Kiều T1, Nguyễn L1, Bùi Quang V, Nguyễn Ngọc M, Võ Văn N1.
Tháng 9 năm 2024, các bị cáo T2, L, Trọng N, T3, V, M, T1, L1 và Văn N1 biết T có ghi số lô, số đề nên đã nhắn tin chuyển các số lô, số đề cho T qua mạng xã hội Zalo để trực tiếp thắng thua với bị cáo T. Việc tính toán thắng thua được thực hiện sau khi có kết quả xổ số mỗi ngày và giao nhận tiền đánh bạc bằng tiền hoặc thông qua chuyển khoản ngân hàng, việc tính tiền cược được áp dụng như sau:
Đối với số đề có loại 02 số và 03 số, người chơi sẽ chọn 02 số bất kỳ từ 00 đến 99, 03 số bất kỳ từ 000 đến 999 và mua bao nhiêu tiền thì tùy người chơi.
- Các đài miền N: gồm 01 giải đầu và 01 giải đuôi và tổng cộng 18 giải trong 01 lô đề.
+ Đầu, đuôi (xỉu chủ): tính theo tỷ lệ là 1:1, tức mua 1.000 đồng đầu, đuôi tương đương phải bỏ ra số tiền 2.000 đồng.
+ Số lô: 02 con tính theo tỷ lệ là 1:18, tức mua 1.000 đồng tương đương phải bỏ ra 18.000 đồng, 03 con tính theo tỷ lệ 1:17, tức mua 1.000 đồng tương đương phải bỏ ra 17.000 đồng.
+ Số đá: tính theo tỷ lệ là 1:18, tức mua 1.000 đồng đối với số đá 02 con tương đương phải bỏ ra 36.000 đồng, 03 con tương đương bỏ ra 108.000 đồng, 04 con tương đương phải bỏ ra 216.000 đồng.
- Đài miền Bắc: gồm 04 giải đầu và 01 giải đuôi và tổng cộng 27 giải trong 01 lô đề.
+ Đầu, đuôi: tính theo tỷ lệ là 1:5, tức mua 1.000 đồng đầu, đuôi tương đương phải bỏ ra số tiền 5.000 đồng.
+ Xỉu chủ: tính theo tỷ lệ là 1:4, tức mua 1.000 đồng xỉu chủ tương đương phải bỏ ra số tiền 4.000 đồng.
+ Số lô: tính theo tỷ lệ là 1:27, tức mua 1.000 đồng tương đương phải bỏ ra 27.000 đồng.
+ Số đá: tính theo tỷ lệ là 1:27, tức mua 1.000 đồng đối với số đá 02 con tương đương phải bỏ ra 54.000 đồng, 03 con tương đương phải bỏ ra 162.000 đồng, 04 con tương đương phải bỏ ra 324.000 đồng.
* Cách tính tiền mua (bán) số lô, số đề sau khi giảm giá (giảm bớt số giải trong một lô đề) do bị cáo T thỏa thuận với bị cáo T1, L, Văn N1, Trọng N, V, T3, M như sau:
- Các đài miền N, miền T:
+ Đầu, đuôi (xỉu chủ): Tính 75% số tiền cược, tức theo tỷ lệ 1:0,75.
+ Số lô: 02 con và 03 con tính theo tỷ lệ là 1:12,5, tức mua 1.000 đồng tương đương phải bỏ ra 12.500 đồng.
+ Số đá: 02 con tính theo tỷ lệ là 1:12,5, tức mua 1.000 đồng đối với số đá 02 con tương đương phải bỏ ra 25.000 đồng, 03 con tương đương bỏ ra 75.000 đồng, 04 con tương đương phải bỏ ra 150.000 đồng. Đối với số đá xiên thì gấp đôi so với số đá bình thường.
- Đài miền B:
+ Đầu, đuôi (xỉu chủ): Tính 75% số tiền cược, tức theo tỷ lệ 1:0,75.
+ Số lô: 02 con tính theo tỷ lệ là 1:20, tức mua 1.000 đồng tương đương phải bỏ ra 20.000 đồng.
+ Số đá: tính theo tỷ lệ là 1:25, tức mua 1.000 đồng đối với số đá 02 con phải bỏ ra 50.000 đồng, 03 con phải bỏ ra 150.000 đồng, 04 con phải bỏ ra 300.000 đồng.
* Cách tính tiền trúng như sau:
Thời gian kết thúc nhận mua, bán số lô, số đề là trước khi các Công ty xổ số bắt đầu tiến hành xổ số tại các đài miền N và đài miền B.
Dựa trên kết quả mở thưởng xổ số kiến thiết đài miền N gồm 18 giải và xổ số kiến thiết đài miền B gồm 27 giải thì người mua sẽ đối chiếu 02 số, 03 số đã mua với 02 số, 03 số cuối cùng các giải trong một lô số đề, nếu trùng khớp kết quả với nhau thì người chơi sẽ trúng thưởng theo tỷ lệ:
- Đối với số đầu, đuôi: 1.000 đồng trúng 70.000 đồng đối với đầu, đuôi loại 02 số; 600.000 đồng đối với đầu, đuôi loại 03 số.
- Đối với số lô: 1.000 đồng trúng 70.000 đồng đối với loại 02 số, 600.000 đồng đối với loại 03 số. Nếu trong lô xuất hiện các số đã mua nhiều lần thì số tiền trúng sẽ nhân lên theo số lần các con số trong lô xuất hiện.
- Đối với số đá loại 02 số: 1.000 đồng trúng 700.000 đồng đối với 02 cặp số, 1.000 đồng trúng 2.100.000 đồng đối với 03 cặp số. Nếu trong lô xuất hiện các tổ hợp số đã mua nhiều lần thì số tiền trúng sẽ nhân lên theo số lần các tổ hợp số xuất hiện.
Bị cáo T thỏa thuận với người sử dụng tài khoản Zalo tên “Ngọc P” tiền thắng như trên, chỉ khác tiền cược như sau: tại đài miền B đối với số lô 03 con tính theo tỷ lệ là 1:17, tức mua 1.000 đồng phải bỏ ra 17.000 đồng.
T thỏa thuận với bị cáo L1 tương tự như trên, chỉ khác tiền cược và tiền thắng như sau:
Đối với tiền cược tại đài miền N:
- Số lô: 02 con tính theo tỷ lệ là 1:13, tức mua 1.000 đồng tương đương phải bỏ ra 13.000 đồng, 03 con tính theo tỷ lệ là 1:13, tức mua 1.000 đồng tương đương phải bỏ ra 13.000 đồng.
- Số đá: 02 con tính theo tỷ lệ là 1:13, tức mua 1.000 đồng đối với số đá 02 con tương đương phải bỏ ra 26.000 đồng, 03 con tương đương bỏ ra 78.000 đồng, 04 con tương đương phải bỏ ra 156.000 đồng.
- Số đầu, đuôi (xỉu chủ): Tính 80% tổng số tiền cược.
Đối với tiền trúng thưởng như sau:
- Đối với số lô: 1.000 đồng trúng 72.000 đồng đối với loại 02 số.
- Đối với số đá loại 02 số: 1.000 đồng trúng 720.000 đồng đối với 02 cặp số.
T thỏa thuận với bị cáo T2 tiền thắng như trên, chỉ khác tiền cược như sau:
- Các đài miền N: Số lô 03 con tính theo tỷ lệ là 1:11, tức mua 1.000 đồng tương đương phải bỏ ra 11.000 đồng.
Quá trình điều tra xác định được bị cáo T đã thực hiện việc mua bán số lô, số đề thắng thua bằng tiền cụ thể như sau:
Đối với Nguyễn Dương L vào ngày 01/9/2024:
* Tại đài Đ: Số A bao lô 300.000 đồng. Số tiền cược thực tế L phải bỏ ra cược là 3.750.000 đồng, số tiền cược tính đúng là 5.400.000 đồng, kết quả không trúng thưởng. Tổng số tiền đánh bạc giữa bị cáo T và bị cáo L tại đài Đ là 5.400.000 đồng.
* Tại đài miền B (Hà Nội): Số 87 bao lô 300.000 đồng. Số tiền cược thực tế L phải bỏ ra là 6.000.000 đồng, số tiền cược tính đúng theo quy định là 8.100.000 đồng, kết quả không trúng thưởng. Tổng số tiền đánh bạc giữa bị cáo T và bị cáo L tại đài miền B là 8.100.000 đồng.
Sau khi tổng kết thắng thua, bị cáo L sử dụng tài khoản ngân hàng B số 65110001873769 chuyển số tiền 9.410.000 đồng qua tài khoản ngân hàng số 65010004239886 của vợ T là Ngô Thị Thúy Q.
Đối với Phạm Thị Anh T2 vào ngày 02/9/2024:
* Tại các đài Miền Nam:
Đài Thành phố Hồ Chí Minh:
- Số đá 32 - 72 giá 3.000 đồng; số 332, 772 mỗi số bao lô 3.000 đồng và mỗi số đầu, đuôi 20.000 đồng.
- Số đá 63 - 53 giá 10.000 đồng, số 63 bao lô 110.000 đồng; số 53 bao lô 90.000 đồng, số D - 48 đá 10.000 đồng; số 53 bao lô 10.000 đồng; số đá 92 - 97 giá 2.000 đồng.
- Số đá 92 - 97 giá 2.000 đồng; số 92 bao lô 10.000 đồng, số 71 bao lô 10.000 đồng. Trúng thưởng số 92 bao lô giá 700.000 đồng.
- Số B, 32 mỗi số bao lô 150.000 đồng; số đá 23 - 32 giá 15.000 đồng, số đá 03 con 32 - 71 - 17 giá 1.000 đồng. Trúng thưởng số 71 bao lô giá 700.000 đồng.
Đài Cà Mau: Số đá 78 - 70 giá 7.000 đồng; số đá 63 - 53 giá 10.000 đồng, số 63 bao lô 110.000 đồng, số 53 bao lô 90.000 đồng, số D - 48 đá 10.000 đồng, số 53 bao lô 10.000 đồng.
Đài Đ: Thùy cược số đá 63 - 53 giá 10.000 đồng, số 63 bao lô 110.000 đồng, số 53 bao lô 90.000 đồng, số D - 48 đá 10.000 đồng, số 53 bao lô 10.000 đồng.
Tổng kết, tại đài miền N (Thành phố Hồ Chí Minh, Cà Mau, Đồng Tháp) số tiền cược thực tế T2 phải bỏ ra là 14.201.000 đồng, số tiền cược tính đúng theo quy định là 20.522.000 đồng, kết quả trúng thưởng 1.400.000 đồng. Tổng tiền đánh bạc giữa bị cáo T và bị cáo T2 tại đài miền N là 21.922.000 đồng.
* Tại đài M: Số B - 32 bao lô mỗi số 150.000 đồng, số đá 23 - 32 giá 15.000 đồng, số đá 32 - 71 - 17 giá 1.000 đồng.
Tổng kết, tại miền B số tiền cược thực tế bị cáo T2 phải bỏ ra là 6.900.000 đồng, tiền cược tính đúng theo quy định là 9.072.000 đồng, kết quả không trúng thưởng. Tổng số tiền đánh bạc giữa bị cáo T và bị cáo T2 tại đài miền B là 9.072.000 đồng, chưa giao nhận tiền đánh bạc.
Đối với Bùi Quang V vào ngày 02/9/2024:
* Tại các đài Miền Nam:
Đài thành phố Hồ Chí Minh:
- Số 819, 919 đầu 25.000, đuôi 25.000 đồng; 819, 919 bao lô mỗi số 10.000 đồng; số 59 bao lô 5.000 đồng; số 229 đầu, đuôi giá 8.000 đồng, bao lô 1.000 đồng.
- Số đá 32 - 64 giá 5.000 đồng; số 32, 64 mỗi số đầu 50.000 đồng, đuôi 50.000 đồng; số 482 bao lô 2.000 đồng, đầu 10.000 đồng, đuôi 10.000 đồng; số 71 đầu 100.000 đồng, đuôi 100.000 đồng; số 860 đầu 10.000 đồng, đuôi 10.000 đồng.
- Số 77 bao lô 10.000 đồng, 177 bao lô 10.000 đồng, 877 bao lô 3.000 đồng, 677 bao lô 2.000 đồng; số 357, 028, 530, 983, 232, 496, 353 đầu, đuôi mỗi số 15.000 đồng; số 286, 968 đuôi mỗi con 25.000 đồng; số 351 bao lô 10.000 đồng, đầu và đuôi 25.000 đồng. Trúng thưởng số 59 giá 350.000 đồng và số 71 giá 7.000.000 đồng.
Đài Cà Mau: Số đá 32 - 64 giá 5.000 đồng; số 32, 64 mỗi số đầu 50.000 đồng, đuôi 50.000 đồng; số 482 bao lô 2.000 đồng, đầu 10.000 đồng, đuôi 10.000 đồng; số 860 đầu 10.000 đồng, đuôi 10.000 đồng; số 565 đầu, đuôi 10.000 đồng.
Đài Đ: Số đá 32 - 64 giá 5.000 đồng; số 32, 64 mỗi số đầu 50.000 đồng, đuôi 50.000 đồng; số 482 bao lô 2.000 đồng, đầu 10.000 đồng, đuôi 10.000 đồng; số 860 đầu 10.000 đồng, đuôi 10.000 đồng; số 77 bao lô 10.000 đồng, 177 bao lô 10.000 đồng, 877 bao lô 3.000 đồng, 677 bao lô 2.000 đồng.
Tổng kết, tại miền N (Thành phố Hồ Chí Minh, Cà Mau, Đồng Tháp) số tiền cược thực tế bị cáo V phải bỏ ra là 2.549.500 đồng, tiền cược tính đúng là 3.393.000 đồng, trúng thưởng 7.350.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc giữa bị cáo T và bị cáo V tại đài miền N là 10.743.000 đồng.
* Tại đài M: Số đá 32 - 64 giá 5.000 đồng; số 32, 64 mỗi số đầu 50.000 đồng, đuôi 50.000 đồng; Số 133, 711, 300, 400, 500, 600, 700, 366, 466, 766, 355, 455, 655, 755, 499, 399, 377, 477, 577, 677, 877, 830, 803, 566, 610, 310, 410, 710, 810, 800 đuôi mỗi số 10.000 đồng; Số 266, 860, 806, 510 đuôi mỗi số 15.000 đồng.
Tổng kết, tại miền B số tiền cược thực tế bị cáo V phải bỏ ra là 707.500 đồng, tiền cược tính đúng là 880.000 đồng, kết quả không trúng thưởng. Tổng số tiền đánh bạc giữa bị cáo T và bị cáo V tại đài miền B là 880.000 đồng, chưa giao nhận tiền đánh bạc.
Đối với Nguyễn Trọng N vào ngày 02/9/2024:
* Tại các đài Miền Nam:
Đài thành phố Hồ Chí Minh: Số 66 bao lô 10.000 đồng; số 89 bao lô 10.000 đồng; số 74 bao lô 50.000 đồng, đầu và đuôi 50.000 đồng; số đá 11 - 72 - 74 giá 5.000 đồng; số đá 38 - 74 giá 5.000 đồng; số đá 78, 09, 25, 59 bao lô mỗi số 20.000 đồng, đầu và đuôi mỗi số 20.000 đồng; số 889 xỉu chủ đầu, đuôi 50.000 đồng, bao lô 5.000 đồng. Trúng thưởng số 78 giá 1.400.000 đồng, số 59 giá 1.400.000 đồng.
- Đài Đ: Số 66 bao lô 10.000 đồng và số 89 bao lô 10.000 đồng; số đá 78 - 09 - 25 - 59 bao lô mỗi con 20.000 đồng, đầu và đuôi mỗi con 20.000 đồng; số 889 xỉu chủ đầu, đuôi 50.000 đồng, bao lô 5.000 đồng. Trúng thưởng số 09 giá 1.400.000 đồng.
- Đài C: Số 66 bao lô 10.000 đồng và số 89 bao lô 10.000 đồng; số đá 78 - 09 - 25 - 59 bao lô mỗi con 20.000 đồng, đầu đuôi mỗi con 20.000 đồng; số 889 xỉu chủ đầu, đuôi 50.000 đồng, bao lô 5.000 đồng. Trúng thưởng số 66 giá 700.000 đồng, số 78 giá 1.400.000 đồng.
Tổng kết, tại các đài miền N (Thành phố Hồ Chí Minh, Cà Mau, Đồng Tháp) số tiền cược thực tế mà bị cáo Trọng N phải bỏ ra là 5.971.500 đồng, số tiền cược tính đúng là 8.515.000 đồng, kết quả trúng thưởng 6.300.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc giữa bị cáo T và bị cáo Trọng N tại đài miền N là 14.815.000 đồng.
* Tại các đài Miền Trung:
- Đài P: Số 98 bao lô 10.000 đồng và số 33 bao lô 10.000 đồng 02 đài. Trúng thưởng số 33 giá 700.000 đồng.
- Đài H: Số 98 bao lô 10.000 đồng và số 33 bao lô 10.000 đồng 02 đài, không trúng thưởng.
Tổng kết, tại miền T (Phú Yên, Huế) số tiền cược thực tế Trọng N phải bỏ ra là 500.000 đồng, số tiền cược tính đúng theo quy định là 720.000 đồng, kết quả trúng thưởng là 700.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc giữa bị cáo T và bị cáo Trọng N tại đài miền T là 1.420.000 đồng.
*Tại đài M:
- Số đá 05 - 14 - 23 giá 2.000 đồng; số đá 32 - 52 - 66 giá 5.000 đồng; số đá 11 - 38 - 83 giá 5.000 đồng; số đá 74 - 47 giá 5.000 đồng; số đá 06 - 60 giá 5.000 đồng; số đá 38 - 06 - 83 giá 2.000 đồng.
- Số 454 bao lô 5.000 đồng; số đá 71 - 88 giá 5.000 đồng; số đá 98 - 54 giá 5.000 đồng; số 54 đầu và đuôi 20.000 đồng, bao lô 20.000 đồng; số đá 66 - 06 giá 5.000 đồng; số 06, 71 đầu đuôi mỗi số 20.000 đồng, bao lô mỗi số 20.000 đồng; số đá 06 - 52 giá 5.000 đồng; số 52, 98 đầu đuôi mỗi số 20.000 đồng, bao lô mỗi số 20.000 đồng; số đá 23 - 62 - 92 giá 10.000 đồng; số đá 32 - 45 - 28 giá 10.000 đồng; số đá 79 - 39 giá 5.000 đồng. Trúng thưởng số đá 23 - 62 - 92 giá 10.500.000 đồng, số đá 79 - 39 giá 5.250.000 đồng.
Tổng kết, tại miền B số tiền cược thực tế bị cáo Trọng N phải bỏ ra là 9.325.000 đồng, số tiền cược tính đúng là 10.713.000 đồng, kết quả trúng thưởng là 34.350.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc giữa bị cáo T và bị cáo Trọng N tại đài miền B là 45.063.000 đồng, chưa giao nhận tiền đánh bạc.
Đối với Bùi Huy T3 vào ngày 02/9/2024:
* Tại các đài Miền Nam:
Đài thành phố Hồ Chí Minh: Số 68 bao lô 110.000 đồng; số 668 bao lô 40.000 đồng; số 764, 259, 813 xỉu chủ đầu đuôi mỗi số 25.000 đồng; số 89 đầu, đuôi 100.000 đồng, bao lô 10.000 đồng; số 889 đầu, đuôi 150.000 đồng, bao lô 5.000 đồng; số 29 đầu, đuôi 10.000 đồng; 929 đầu, đuôi 10.000 đồng, bao lô 2.000 đồng; số 75 đầu 200.000 đồng, đuôi 50.000 đồng; số 778 và 552 đầu, đuôi mỗi số 50.000 đồng; số 249 xỉu chủ đầu, đuôi 25.000 đồng; số 229 xỉu chủ đầu, đuôi 50.000 đồng; số 57 bao lô 40.000 đồng; số 776, 879, 123, 989, 368, 271, 567 đầu, đuôi mỗi số 50.000 đồng.
- Đài C: Số 68 bao lô 110.000 đồng; số 668 bao lô 40.000 đồng; số 764, 259, 813 xỉu chủ đầu, đuôi mỗi số 25.000 đồng.
- Đài Đ: Số 68 bao lô 110.000 đồng; số 668 bao lô 40.000 đồng; số 764, 259, 813 xỉu chủ đầu, đuôi mỗi số 25.000 đồng.
Tổng kết, tại miền N (Thành phố Hồ Chí Minh, Cà Mau, Đồng Tháp) số tiền cược thực tế T3 phải bỏ ra là 8.130.000 đồng, số tiền cược tính đúng là 11.389.000 đồng, kết quả không trúng thưởng. Tổng số tiền đánh bạc giữa bị cáo T và bị cáo T3 tại đài miền N là 11.389.000 đồng.
* Tại đài M: Số 724 bao lô 10.000 đồng; số 778, 779 đầu, đuôi mỗi số 50.000 đồng; số 676 đầu, đuôi 50.000 đồng; số 979 xỉu chủ đầu, đuôi 50.000 đồng; số 231 bao lô 10.000 đồng.
Tổng kết, tại miền B số tiền cược thực tế bị cáo T3 phải bỏ ra là 1.000.000 đồng, số tiền cược tính đúng theo quy định là 1.260.000 đồng, kết quả không trúng thưởng. Tổng số tiền đánh bạc giữa bị cáo T và bị cáo T3 tại đài miền B là 1.260.000 đồng, chưa giao nhận tiền đánh bạc.
Đối với Nguyễn Ngọc M vào ngày 02/9/2024:
* Tại các đài Miền Nam:
Đài thành phố Hồ Chí Minh: Số 771, 971, 71 bao mỗi số 40.000 đồng, đầu đuôi mỗi số 30.000 đồng; số 379, 376 bao lô mỗi số 5.000 đồng, đầu đuôi mỗi số 100.000 đồng; số 520 đầu đuôi 120.000 đồng. Trúng thưởng số 71 giá 2.800.000 đồng.
Đài C: Số G, 971, 71 bao mỗi số 40.000 đồng, đầu đuôi mỗi số 30.000 đồng.
Đài Đ: Số G, 971, 71 bao mỗi số 40.000 đồng, đầu đuôi mỗi số 30.000 đồng. Trúng thưởng số 71 giá 2.800.000 đồng.
Tổng kết, tại đài miền N (Thành phố Hồ Chí Minh, Cà Mau, Đồng Tháp) số tiền cược thực tế mà M phải bỏ ra là 5.510.000 đồng, số tiền cược tính đúng là 7.470.000 đồng, kết quả trúng thưởng 5.600.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc giữa T và M tại đài miền N là 13.070.000 đồng, chưa giao nhận tiền đánh bạc.
Đối với Hà Kiều T1 vào ngày 02/9/2024:
* Tại các đài Miền Nam:
- Đài thành phố Hồ Chí Minh: Số 50 bao lô 150.000 đồng; 64 bao lô 50.000 đồng; 06 bao lô 50.000 đồng; 64 bao lô 100.000 đồng; 06 bao lô 100.000 đồng; 93 bao lô 100.000 đồng; 13 bao lô 100.000 đồng, số đá 53 - 52 đá giá 15.000 đồng. Trúng thưởng số 93 giá 7.000.000 đồng.
- Đ Cà Mau: Số đá 31 - 35 giá 80.000 đồng; số đá 64 - 06 giá 80.000 đồng; số 20 bao lô 250.000 đồng; số 64 bao lô 50.000 đồng; số 06 bao lô 50.000 đồng; số 64 bao lô 100.000 đồng; số 06 bao lô 100.000 đồng; số 96 bao lô 100.000 đồng; số 13 bao lô 100.000 đồng; số đá 53 - 52 giá 15.000 đồng.
- Đài Đ: Số đá 31 - 35 giá 80.000 đồng; số đá 64 - 06 giá 80.000 đồng; số 20 bao lô 250.000 đồng; số 11 đầu 1.000.000 đồng; số 29 đầu 1.000.000 đồng; số 52 đầu 1.000.000 đồng; số 10 đầu 500.000 đồng; số đá 52 - 76 giá 60.000 đồng; số 87 bao lô 100.000 đồng; số 11 bao lô 150.000 đồng; số 29 bao lô 250.000 đồng; số 50 bao lô 50.000 đồng; số 52 bao lô 200.000 đồng; số 46 bao lô 50.000 đồng; số 18 đầu 300.000 đồng; số 10 đầu 300.000 đồng. Trúng thưởng số đá 64 - 06 giá 56.000.000 đồng.
Tổng kết, tại đài miền N (Thành phố Hồ Chí Minh, Cà Mau, Đồng Tháp) số tiền cược thực tế T1 phải bỏ ra là 43.950.000 đồng, số tiền cược tính đúng là 62.960.000 đồng, kết quả trúng thưởng 63.000.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc giữa T và T1 tại đài miền N là 125.960.000 đồng.
* Tại đài M (Hà Nội):
- Số 06, 44, 40 mỗi số bao lô 50.000 đồng; số 54 đuôi 800.000 đồng; số đá 98 - 06 giá 50.000 đồng; số đá 01 - 10 giá 5.000 đồng; số đá 03 - 30 giá 5.000 đồng; số đá 60 - 06 giá 10.000 đồng; số đá 06 - 41 giá 5.000 đồng; số đá 23 - 06 giá 8.000 đồng.
- Số 22 và 21 bao lô mỗi số 150.000 đồng; số 21 đuôi 250.000 đồng; số 20, 21, 22, 23, 24,25,26,27, 28, 29 đuôi mỗi số 100.000 đồng; số đá 71 - 88 - 35 giá 45.000 đồng; số đá 92 - 19 - 17 giá 45.000 đồng; số 11, 10 mỗi số đuôi 200.000 đồng; số 50 bao lô 100.000 đồng; số 98 đuôi 550.000 đồng; số đá 32 - 23 - 13 giá 50.000 đồng.
- Số 32, 23, 13, 33 bao lô mỗi số giá 120.000 đồng; số đá 37 - 73 - 23 giá 17.000 đồng, số 64 đuôi 200.000 đồng; số đá 02 - 38 giá 30.000 đồng; số đá 28 - 82 - 45 giá 7.000 đồng; số đá 37 - 73 giá 10.000 đồng; số đá 32 - 23 - 13 giá 8.000 đồng; số đá 15 - 51 giá 47.000 đồng; số 06 bao lô 50.000 đồng.
- Số đá 11 - 10 - 10 giá 5.000 đồng; số đá 24 - 52 giá 5.000 đồng; số đá 29 - 92 giá 10.000 đồng; số đá 71 - 88 giá 10.000 đồng; số đá 29 - 92 giá 10.000 đồng; số 05 - 50 giá 15.000 đồng; số 79 bao lô 50.000 đồng; số đá 29 - 69 giá 15.000 đồng, số 29 - 79 giá 15.000 đồng; số 29 - 89 giá 15.000 đồng.
Trúng thưởng số 40 giá 3.500.000 đồng, số 98 giá 38.500.000 đồng, số 13 giá 8.400.000 đồng, số C - 73 - 23 giá 59.500.000 đồng, số C - 73 giá 35.000.000 đồng, số 79 giá 3.500.000 đồng.
Tổng kết, tại đài miền B số tiền cược thực tế bị cáo T1 phải bỏ ra là 64.725.000 đồng, số tiền cược tính đúng là 76.594.000 đồng, kết quả trúng thưởng 148.400.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc giữa bị cáo T và bị cáo T1 tại đài miền B là 224.994.000 đồng, chưa giao nhận tiền đánh bạc.
Đối với Nguyễn L1 vào ngày 02/9/2024:
* Tại các đài Miền Nam:
Đài thành phố Hồ Chí Minh: Số 08, 10, 60, 68 bao lô mỗi số 100.000 đồng; số 97 bao lô 50.000 đồng; số 46 bao lô 15.000 đồng; số 39 bao lô 55.000 đồng; số đá 18 - 29 giá 1.000 đồng; số 53, 57 bao lô mỗi số 55.000 đồng.
Đài Đ: Số H, 10 bao lô mỗi số 100.000 đồng; số 74, 89 bao lô mỗi số 80.000 đồng; số 97 bao lô 50.000 đồng; số 29 đầu 55.000 đồng; số 39 bao lô 55.000 đồng; số đá 18 - 29 giá 1.000 đồng; số 52 bao lô 25.000 đồng; số 39 bao lô 10.000 đồng; số 29 đầu đuôi 110.000 đồng; số 39 bao lô 10.000 đồng; số 11 đầu 110.000 đồng, số 58 đầu 50.000 đồng; số 39 đầu 50.000 đồng; số 24 bao lô 10.000 đồng; số đá 34 - 79 giá 5.000 đồng; số đá 39 - 52 giá 5.000 đồng; số đá 68 - 86 giá 2.000 đồng; số đá 29 - 92 giá 1.000 đồng; số đá 25 - 52 giá 1.000 đồng; số đá 11 - 51 - 91 giá 1.000 đồng; số 50 đầu 50.000 đồng. Trúng thưởng số 74 giá 5.760.000 đồng.
Đài C: Số H, 10 bao lô mỗi số 100.000 đồng; số 74, 89 bao lô mỗi số 80.000 đồng; số 97, 88 bao lô mỗi số 50.000 đồng; số 25 bao lô 25.000 đồng; số đá 18 - 29 giá 1.000 đồng; số 39 bao lô 10.000 đồng; số 57 bao lô 55.000 đồng. Trúng thưởng số 10 giá 7.200.000 đồng.
Tổng kết, tại đài miền N (Thành phố Hồ Chí Minh, Cà Mau, Đồng Tháp) số tiền cược thực tế mà L1 phải bỏ ra là 23.048.000 đồng, số tiền cược tính đúng là 31.855.000 đồng, kết quả trúng thưởng 12.960.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc giữa T và L1 tại đài miền N là 44.815.000 đồng.
* Tại đài Miền Bắc:
Số F, 84 mỗi số bao lô 50.000 đồng; số đá 63 - 64 - 84 giá 2.000 đồng; số đá 69 - 96 - 11 giá 2.000 đồng; số 52 bao lô 25.000 đồng; số 710 đầu và đuôi 20.000 đồng.
Số 40, 13, 23 bao lô mỗi số 10.000 đồng; số 63 đuôi 60.000 đồng; số 44 bao 20.000 đồng; đuôi 110.000 đồng; bao 15.000 đồng; số đá 17-71 giá 1.000 đồng, số đá 25 - 52 giá 1.000 đồng, số 01 bao lô 50.000 đồng. Trúng thưởng số 40 giá 720.000 đồng, số 13 giá 720.000 đồng.
Tổng kết, tại đài miền B số tiền cược thực tế mà bị cáo bị cáo L1 phải bỏ ra là 5.700.000 đồng, số tiền cược tính đúng là 7.486.000 đồng, kết quả trúng thưởng 1.440.000 đồng đồng. Tổng số tiền đánh bạc giữa bị cáo T và bị cáo L1 tại đài miền B là 8.926.000 đồng.
Do tính nhầm và thỏa thuận giảm giá nên bị cáo T thông báo tổng kết bị cáo L1 thua 13.800.000 đồng. Bị cáo L1 đã sử dụng tài khoản ngân hàng V1 số 0327507530 chuyển 13.800.000 đồng qua tài khoản ngân hàng số 65010004239886 của vợ T là Ngô Thị Thúy Q.
Đối với Võ Văn N1 vào ngày 02/9/2024:
* Tại đài Miền Nam (đài thành phố Hồ Chí Minh):
- Số 79, 68, 62 đầu, đuôi 20.000 đồng; số 32 bao lô 5.000 đồng; số 19, 91, 32, 72, 64 bao lô mỗi số 80.000 đồng; số 19, 91 bao lô mỗi số 100.000 đồng; số 64, 52, 92 bao lô mỗi số 80.000 đồng; số 64, 72 bao lô mỗi số 100.000 đồng; số đá 32 - 72 - 64 giá 5.000 đồng; số đá 19 - 91 - 64 giá 10.000 đồng; số đá 12 - 52 - 92 giá 5.000 đồng; số đá 55 - 05 - 64 - 72 giá 2.000 đồng; số 07, 47, 87 bao lô mỗi số 80.000 đồng; số 97 bao lô 30.000 đồng; số 19 bao lô 50.000 đồng.
- Số đá 07 - 47 - 87 giá 5.000 đồng; số đá 57 - 97 - 64 - 19 giá 2.000 đồng; số đá 91 - 12 - 52 - 92 giá 2.000 đồng; số đá 97 - 91 - 19 - 72 giá 2.000 đồng; số 679 bao lô 30.000 đồng; số 79 giá 5.000 đồng; số 32, 72 mỗi số bao lô 50.000 đồng; số 232, 472 bao lô mỗi số 25.000 đồng; số 58 bao lô 20.000 đồng; số 058 bao lô 10.000 đồng; số đá 32 - 72 giá 15.000 đồng; số 25 bao lô 80.000 đồng; số 96, 39, 79, 40, 80, 99 bao lô mỗi số 50.000 đồng; số 22, 62, 24, 64, 39 bao lô mỗi số 20.000 đồng. Trúng thưởng số 92 giá 5.600.000 đồng, số 22 giá 1.400.000 đồng.
Tổng kết, tại đài miền N (Thành phố Hồ Chí Minh) số tiền cược thực tế mà bị cáo Văn N1 phải bỏ ra là 28.555.000 đồng, số tiền cược tính đúng là 42.078.000 đồng, kết quả trúng thưởng 7.000.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc giữa bị cáo T và bị cáo Văn N1 tại đài miền N là 49.078.000 đồng.
* Tại đài M: Số 02 bao lô 100.000 đồng; số 76, 64, 02 bao lô mỗi số 20.000 đồng; số 64, 61, 02 bao lô mỗi số 50.000 đồng; số 58 bao lô 25.000 đồng; số 058 bao lô 5.000 đồng; số đá 29 - 32 - 72 giá 3.000 đồng; số 64 bao lô 50.000 đồng; số 96, 93 bao lô mỗi số 100.000 đồng; số 77 bao lô 50.000 đồng; số 39, 79 bao lô mỗi số 10.000 đồng; số 25 bao lô 100.000 đồng. Trúng thưởng số 39 giá 1.400.000 đồng, số 79 giá 700.000 đồng.
Tổng kết, tại đài miền B số tiền cược thực tế mà bị cáo Văn N1 phải bỏ ra là 15.635.000 đồng, số tiền cược tính đúng theo quy định là 20.986.000 đồng, kết quả trúng thưởng 2.100.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc giữa bị cáo T và bị cáo Văn N1 tại đài miền B là 23.086.000 đồng, chưa giao nhận tiền đánh bạc.
Ngoài ra, quá trình điều tra xác định bị cáo T còn thực hiện hành vi mua bán số lô, số đề thắng thua bằng tiền cùng với người sử dụng tài khoản Zalo tên “Ngọc P” (chưa xác định được nhân thân lai lịch) vào ngày 02/9/2024, cụ thể như sau: tại đài miền B (Hà Nội) số tiền đánh bạc giữ bị cáo T và “Ngọc Phụng” là 8.948.000 đồng; tại đài miền T (Phú Yên, Huế) là 13.554.000 đồng; tại đài miền N (Thành phố Hồ Chí Minh, Cà Mau, Đồng Tháp) là 101.453.000 đồng.
Như vậy số tiền Ngô Văn T sử dụng đánh bạc dưới hình thức mua bán số lô, số đề cùng với các bị cáo T2, L, Trọng N, T3, V, M, T1, L1, Văn N1 và người có tên Z “Ngọc P” tại các đài miền N, miền T và miền B như sau:
Vào ngày 01/9/2024:
+ Tại đài M: 8.100.000 đồng.
+ Tại đài M (Đ): 5.400.000 đồng.
Vào ngày 02/9/2024:
+ Tại đài M: 322.229.000 đồng.
+ Tại đài Miền T4: 14.974.000 đồng.
+ Tại đài M1 (Thành phố Hồ Chí Minh, Cà Mau, Đồng Tháp): 393.245.000 đồng.
Quá trình điều tra tạm giữ vật chứng gồm:
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, màu vàng gold, số IMEI 1: 357272092534605, số IMEI 2: 357272092450083, đã qua sử dụng.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y01, màu xanh dương, 32 GB, số IMEI 1: 866816051586164, số IMEI 2: 866816051586172, đã qua sử dụng.
- Số tiền 12.230.000 đồng do bị cáo Ngô Văn T giao nộp.
- Số tiền 1.000.000 đồng do bị cáo Phạm Thị Anh T2 giao nộp.
- Số tiền 2.000.000 đồng do bị cáo Nguyễn Dương L giao nộp.
- Số tiền 3.000.000 đồng do bị cáo Bùi Quang V giao nộp.
- Số tiền 1.000.000 đồng do bị cáo Bùi Huy T3 giao nộp.
- Số tiền 2.000.000 đồng do bị cáo Nguyễn L1 giao nộp.
- Số tiền 1.000.000 đồng do bị cáo Hà Kiều T1 giao nộp.
- Số tiền 1.000.000 đồng do bị cáo Võ Văn N1 giao nộp.
- Số tiền 1.000.000 đồng do bị cáo Nguyễn Trọng N giao nộp.
- Số tiền 1.000.000 đồng do bị cáo Nguyễn Ngọc M giao nộp.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 32/2025/HS-ST ngày 13 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh, đã quyết định:
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Ngô Văn T 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Đánh bạc”, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án được khấu trừ thời gian tạm giam từ ngày 02/9/2024 đến ngày 24/01/2025.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hà Kiều T1 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra, Bản án hình sự sơ thẩm còn xử phạt bị cáo Nguyễn Dương L 07 (bảy) tháng tù; xử phạt bị cáo Phạm Thị Anh T2 40.000.000 (bốn mươi triệu) đồng; xử phạt các bị cáo Võ Văn N1; Nguyễn Trọng N; Nguyễn Linh P1 mỗi bị cáo 60.000.000 (sáu mươi triệu) đồng; xử phạt Bùi Huy T3; Nguyễn Ngọc M; Bùi Quang V mỗi bị cáo 35.000.000 (ba mươi lăm triệu) đồng; tuyên về biện pháp tư pháp, nghĩa vụ nộp án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
- Ngày 21 tháng 8 năm 2025, bị cáo Ngô Văn T có đơn kháng cáo xin giảm hình phạt nhẹ hơn hoặc xin được hưởng án treo.
- Ngày 26 tháng 8 năm 2025, bị cáo Hà Kiều T1 có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phúc thẩm phát biểu ý kiến: Sau khi xét xử sơ thẩm, các bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt; kháng cáo của các bị cáo được thực hiện trong thời hạn luật định nên đủ điều kiện để Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết theo quy định của pháp luật. Tại cấp phúc thẩm tuy các bị cáo có nộp số tiền thu lợi bất chính nhưng mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng đối với các bị cáo là phù hợp. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân Khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh.
Các bị cáo không tham gia tranh luận gì thêm.
Trong lời nói sau cùng, các bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo hoặc phạt tiền để các bị cáo có cơ hội chăm lo cho gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra và tại phiên tòa như Tòa án cấp sơ thẩm nhận định là đúng.
Đơn kháng cáo của các bị cáo thực hiện trong thời hạn luật định nên đủ điều kiện để Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết theo quy định của pháp luật.
[2] Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo, Hội đồng xét xử nhận định như sau: Vào các ngày 01/9/2024 và ngày 02/9/2024, bị cáo Ngô Văn T đã có hành vi đánh bạc dưới hình thức mua bán số lô, số đề cùng với các bị cáo Phạm Thị Anh T2, Nguyễn Dương L, Nguyễn Trọng N, Bùi Huy T3, Hà Kiều T1, Nguyễn L1, Bùi Quang V, Nguyễn Ngọc M, Võ Văn N1, cụ thể như sau:
- Vào ngày 01/9/2024 bị cáo T và bị cáo L: đánh bạc tại đài M với số tiền 8.100.000 đồng; tại đài M1 (Đ) với số tiền 5.400.000 đồng.
- Vào ngày 02/9/2024: đánh bạc tại đài M với số tiền 322.229.000 đồng; tại đài M2 với số tiền là 14.974.000 đồng; tại đài M1 (Thành phố Hồ Chí Minh, Cà Mau, Đồng Tháp) với số tiền là 393.245.000 đồng cụ thể:
+ Số tiền bị cáo T và bị cáo Hà Kiều T1 đánh bạc tại đài miền N là 125.960.000 đồng; tại đài miền B với số tiền là 224.994.000 đồng.
+ Số tiền bị cáo T và bị cáo Nguyễn Văn N2 đánh bạc tại đài miền N với số tiền là: 49.078.000 đồng; tại đài miền B với số tiền là 23.086.000 đồng.
+ Số tiền bị cáo T và bị cáo Nguyễn Trọng N đánh bạc tại đài miền N là 14.815.000 đồng; tại đài miền T là 1.420.000 đồng; tại đài miền B là 45.063.000 đồng.
+ Số tiền bị cáo T và bị cáo Nguyễn L1 đánh bạc tại đài miền N là: 44.815.000 đồng; tại đài miền B là 8.926.000 đồng.
+ Số tiền bị cáo T và bị cáo Phạm Thị Anh T2 đánh bạc tại đài miền N là 21.922.000 đồng; tại đài miền B là 9.072.000 đồng.
+ Số tiền bị cáo T và bị cáo Nguyễn Ngọc M đánh bạc tại đài miền N là: 13.070.000 đồng.
+ Số tiền bị cáo T và bị cáo Bùi Huy T3 đánh bạc tại đài miền N là 11.389.000 đồng; tại đài miền B là 1.260.000 đồng.
+ Số tiền bị cáo T và bị cáo Bùi Quang V đánh bạc tại đài miền N là 10.743.000 đồng; tại đài miền B là 880.000 đồng.
+ Số tiền bị cáo T và bị cáo Nguyễn Dương L đánh bạc tại đài miền N là 5.400.000 đồng; tại đài miền B là 8.100.000 đồng.
+ Số tiền bị cáo T và người có tên Z “Ngọc P” đánh bạc vào tại đài miền N là 101.453.000 đồng; tại đài miền T là 13.554.000 đồng; tại đài miền B là 8.948.000 đồng.
Do đó, Tòa án nhân dân nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử các bị cáo về tội “Đánh bạc” là hoàn toàn có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[3] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất trị an tại địa phương. Về nhận thức, các bị cáo nhận thức được hành vi đánh bạc dưới hình thức ghi số, lô đề được thắng thua bằng tiền là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Các bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội theo quy định của pháp luật.
[4] Xét kháng cáo của các bị cáo Ngô Văn T; Hà Kiều T1 với nội dung xin được giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo Ngô Văn T có nộp số tiền 200.000.000 (hai trăm triệu) đồng; bị cáo Hà Kiều T1 nộp số tiền 55.000.000 (năm mươi lăm triệu) đồng là khoản tiền thu lợi bất chính; Hội đồng xét xử xét thấy; tuy các bị cáo Ngô Văn T, Hà Kiều T1 có nộp lại số tiền thu lợi bất chính, nhưng các bị cáo T, T1 sử dụng số tiền đánh bạc rất lớn; các bị cáo phạm tội 02 lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; các bị cáo không đủ điều kiện để áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP ngày 30/9/2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao. Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét tính chất, mức độ hành vi của từng bị cáo và áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với các bị cáo nhằm có tác dụng răn đe cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội là phù hợp. Do đó, kháng cáo của các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo là không có cơ sở chấp nhận.
[5] Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[7] Về án phí hình sự phúc thẩm: do kháng cáo của các bị cáo không được chấp nhận nên các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Ngô Văn T; Hà Kiều T1 giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 32/2025/HS-ST ngày 13 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Ngô Văn T 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Đánh bạc”, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án được khấu trừ thời gian tạm giam từ ngày 02/9/2024 đến ngày 24/01/2025.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Hà Kiều T1 03 (ba) năm tù về tội “Đánh bạc”, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.
- Số tiền 200.000.000 (hai trăm triệu) đồng Ngô Văn T nộp theo biên lai thu tiền số 0009855 ngày 21/11/2025; số tiền 55.000.000 (năm mươi lăm triệu) đồng Hà Kiều T1 nộp theo biên lai thu tiền số 0009707 ngày 20/11/2025 của Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh, sẽ được xử lý trong quá trình thi hành án.
Án phí hình sự phúc thẩm: bị cáo Ngô Văn T, Hà Kiều T1, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Văn Lộc |
Bản án số 776/2025/HS-PT ngày 09/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự phúc thẩm (tội đánh bạc)
- Số bản án: 776/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Tội Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 09/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngô Văn T và đồng phạm - tội Đánh bạc
