Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 1 - HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 766/2025/HNGĐ-ST

Ngày 27/11/2025

V/v : tranh chấp Ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – HÀ NỘI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Hoài Phương
  • - Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lưu Thị Kim Hiền
  • 2. Bà Phạm Thị Kim Dung
  • - Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Phạm Quang Huy - Thư ký Toà án.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Bùi Mai Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 11 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân Khu vực 1 – Hà Nội mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 459/2025/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2025 về việc “tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 402/2025/QĐXX-ST ngày 07 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:

  • * Nguyên đơn: Chị Nguyễn Hoài P, sinh năm 1998; Hộ khẩu thường trú và nơi ở: 827 H, tổ H phường P, quận H, Hà Nội. (Chị P có mặt tại phiên tòa).
  • * Bị đơn: Phan Tuấn N, sinh năm 1999; Hộ khẩu thường trú và nơi ở: Số E ngách A V, phường N, thành phố Hà Nội. (Anh N có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 18/09/2025, bản tự khai và lời khai trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn chị Nguyễn Hoài P trình bày như sau:

Chị Nguyễn Hoài P và anh Phan Tuấn N đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường L, quận B, thành phố Hà Nội vào ngày 07/9/2022, số 57/2022.

Sau khi kết hôn vợ chồng anh chị về sống cùng bố mẹ chồng tại địa chỉ: Số E ngách B ngõ A V, phường N, thành phố Hà Nội. Quá trình chung sống, đến khoảng tháng 9/2024 giữa chị và anh N phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh chị bất đồng quan điểm sống, tính cách không hợp nhau. Anh chị đã sống ly thân hơn một năm nay. Chị về ở với bố mẹ đẻ, còn anh N ở tại nhà bố mẹ anh N. Khi mâu thuẫn xảy ra vợ chồng anh chị cũng có nói chuyện để hòa giải, gia đình hai bên cũng đã khuyên giải nhưng không đạt được kết quả mà mâu thuẫn giữa vợ anh chị ngày càng trầm trọng. Đến nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, anh chị không thể hòa thuận nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Phan Tuấn N để sớm ổn định cuộc sống.

Về con chung: Chị Phương trình B giữa chị và anh N chưa có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nhà đất: Chị Phương trình B giữa chị và anh N không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về các khoản nợ: Chị Phương trình B anh chị không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bị đơn – anh Phan Tuấn N trình bày quan điểm tại bản tự khai như sau:

Anh và chị Nguyễn Hoài P có tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường L, quận B, thành phố Hà Nội vào ngày 07/9/2022. Trong quá trình chung sống, anh và chị P nhận thấy không có cùng quan điểm sống, không có sự chia sẻ, thấu hiểu nên dẫn đến phát sinh nhiều mâu thuẫn. Mặc dù, đã nhiều lần cố gắng trao đổi để hòa giải nhưng không thành. Nay chị P xin ly hôn thì anh đồng ý ly hôn vì xác định tình cảm vợ chồng không còn. Đề nghị Tòa án nhân dân Khu vực 1 – Hà Nội giải quyết cho vợ chồng anh ly hôn.

Về con chung: Anh N trình bày giữa anh và chị P chưa có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Anh N trình bày giữa anh và chị P không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về các khoản vay nợ: Anh N trình bày giữa anh và chị P không có khoản nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn – chị Nguyễn Hoài P giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết cho chị được ly hôn với anh Phan Tuấn N vì tình cảm vợ chồng không còn, đã sống ly thân hơn một năm nay và không thể hòa giải đoàn tụ. Chị xác nhận anh chị chưa có con chung nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Chị xác nhận anh chị không có tài sản, nhà đất và vay nợ chung nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đề nghị Tòa án cho chị được ly hôn với anh N.

Bị đơn - anh N có đơn đề nghị Tòa án nhân dân Khu vực 1 – Hà Nội xét xử vắng mặt anh.

Bà Trần Thu H - là mẹ của anh Phan Tuấn N có mặt tại phiên tòa trình bày: anh N đã có đơn đề nghị Tòa án nhân dân Khu vực 1 – Hà Nội xét xử vắng mặt nên đề nghị Tòa giải quyết cho anh chị được ly hôn.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – Hà Nội phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng:

Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; thụ lý vụ án đúng thẩm quyền; tống đạt các văn bản tố tụng cho đương sự; tiến hành phiên họp tiếp cận chứng cứ và hòa giải, xác minh và thu thập chứng cứ đúng quy định. Các đương sự đã chấp hành đúng quy định của pháp luật.

Phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Hoài P đối với anh Phan Tuấn N; Về con chung: chị P và anh N chưa có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét; Về tài sản, nhà đất chung: anh chị xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét; Về vay nợ: anh chị xác nhận không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét; Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Các đương sự được quyền kháng cáo bản án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án:

Căn cứ vào khoản 1 của Điều 28; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015, bị đơn – anh Phan Tuấn N có hộ khẩu thường trú và ở tại địa chỉ: Số E ngách A V, phường N, thành phố Hà Nội. Do vậy, Tòa án nhân dân Khu vực 1 – Hà Nội thụ lý và giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình về “tranh chấp ly hôn” là đúng thẩm quyền.

[2] Về thủ tục tố tụng:

Bị đơn – anh Phan Tuấn N có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt anh Phan Tuấn N.

Quá trình giải quyết vụ án, trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải bị đơn - anh Phan Tuấn N không đưa ra yêu cầu phản tố nên Tòa án không xem xét giải quyết.

[3] Về yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn:

Xét về quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Hoài P và anh Phan Tuấn N kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường L, quận B, thành phố Hà Nội vào ngày 07/9/2022, (theo Giấy chứng nhận kết hôn số 57). Đây là hôn nhân hợp pháp.

Chị Nguyễn Hoài P xin ly hôn anh N vì cho rằng quá trình chung sống hạnh phúc được đến khoảng tháng 9/2024 sau đó phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm vì tính cách, lối sống, quan điểm sống không phù hợp. Vợ chồng không thể nói chuyện, không thể hoà giải để tiếp tục chung sống. Anh chị đã sống ly thân từ hơn một năm nay. Quá trình giải quyết tại Tòa án, anh N đồng ý ly hôn với chị P vì cho rằng vợ chồng mâu thuẫn, không còn tình cảm nên không thể hoà giải đoàn tụ.

Về nguyên nhân mâu thuẫn, căn cứ các tài liệu, chứng cứ trong quá trình Toà án giải quyết vụ án, lời trình bày của nguyên đơn và bị đơn, gia đình cho thấy: trong thời gian chung sống của chị P và anh N xảy ra phát sinh mâu thuẫn, anh chị đã chủ động nói chuyện nhưng không hòa giải được. Vợ chồng đã ly thân, sống xa nhau, không còn chia sẻ về tâm tư và mọi vấn đề cuộc sống được với nhau. Mâu thuẫn vợ chồng đã được hai bên gia đình hòa giải nhưng không có kết quả. Quá trình làm đơn xin ly hôn, Tòa án đã thông báo cho anh N đến Tòa án tham gia phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh N xin vắng mặt, không đến tham gia, điều đó thể hiện anh N không thực sự thiện chí muốn vợ chồng được đoàn tụ, cũng không đưa ra được biện pháp gì cải thiện tình cảm với chị P để hàn gắn quan hệ vợ chồng, chứng tỏ mâu thuẫn của anh chị đã trầm trọng, nếu có tiếp tục chung sống thì cuộc sống anh chị cũng không hạnh phúc. Tại bản tự khai gửi đến Tòa án anh N thể hiện quan điểm đồng ý ly hôn với chị P.

Xét thấy, quan hệ vợ chồng cần sự yêu thương, chia sẻ, quan tâm, giúp đỡ lẫn nhau giữa vợ và chồng như quy định theo Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì vợ chồng phải có “nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình” và “vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc...”.

Tại phiên toà hôm nay, chị P giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn, anh N đồng ý ly hôn với chị P và có đơn xin xét xử vắng mặt; Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể tiếp tục kéo dài, mục đích hôn nhân của anh chị không đạt được, vợ chồng không còn khả năng đoàn tụ. Việc chị P xin ly hôn đơn phương là quyền của công dân nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị P đối với anh N là phù hợp với quy định tại Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Chị Nguyễn Hoài P được ly hôn với anh Phan Tuấn N.

[4] Về con chung:

Chị Nguyễn Hoài P và anh Phan Tuấn N xác nhận chưa có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về tài sản chung (gồm động sản và bất động sản):

Chị Nguyễn Hoài P và anh Phan Tuấn N xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về nợ chung:

Chị Nguyễn Hoài P và anh Phan Tuấn N xác nhận vợ chồng không vay nợ ai và cũng không cho ai vay nợ, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về án phí:

Nguyên đơn - chị Nguyễn Hoài P phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm;

[8] Quyền kháng cáo:

Các đương sự có quyền kháng cáo theo luật định.

[9] Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – Hà Nội đối với việc giải quyết vụ án:

Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – Hà Nội đối với việc giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ:

  • - Khoản 1 Điều 51; Điều 55; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
  • - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Hoài P đối với anh Phan Tuấn N.
  2. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Hoài P được ly hôn với anh Phan Tuấn N.
  3. Về con chung: Chị Nguyễn Hoài P và anh Phan Tuấn N xác nhận chưa có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  4. Về tài sản chung (gồm động sản và bất động sản): Chị Nguyễn Hoài P và anh Phan Tuấn N xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  5. Về nợ chung: Chị Nguyễn Hoài P và anh Phan Tuấn N xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  6. Về án phí: Chị Nguyễn Hoài P phải chịu 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền đã nộp tạm ứng án phí theo Biên lai số 0009131 ngày 25/9/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự Khu vực 1 – Hà Nội.
  7. Quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Hoài P có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Phan Tuấn N vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - VKSND Khu vực 1 – Hà Nội;
  • - Chi cục THA DS Khu vực 1 – Hà Nội;
  • - TAND TP. Hà Nội;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Hoài Phương

HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hoài Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 766/2025/HNGĐ-ST ngày 27/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 766/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger