Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 7 - HÀ NỘI

Bản án số: 761/2025/HNGĐ - ST

Ngày: 17 - 12 - 2025.

Về việc tranh chấp ly hôn.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - HÀ NỘI

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Thanh.

Các Hội thẩm nhân dân.

Ông Nguyễn Năng Tấn.

Bà Quang Thị Ngà.

- Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Thông – Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 7 – Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 - Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Mai Xiêm - Kiểm sát viên.

Ngày 17/12/2025, tại trụ sở Toà án nhân dân Khu vực 7 - Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số: 375/2025/TLST - HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2025 về việc tranh chấp Ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 106/2025/QĐXXST – HNGĐ ngày 05 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Á, sinh năm 1984, căn cước công dân số [...] do Cục cảnh sát cấp ngày 21/5/2023. Vắng mặt tại phiên toà.

Nơi cư trú: Thôn M, xã H, thị xã V, tỉnh Bắc Giang; nơi ở hiện nay: Z, 35301 Mariánské Lázne.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Á: Ông Đặng Văn T, sinh năm 1959; Căn cước công dân số: [...] do Cục cảnh sát cấp ngày 07/5/2025; Nơi cư trú: Tổ dân phố C, phường T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. Vắng mặt tại phiên toà.

Bị đơn: Ông Phạm Văn C, sinh năm 1989, căn cước công dân số [...] do Cục cảnh sát cấp ngày 13/05/202516. Vắng mặt tại phiên toà.

Nơi cư trú: Thôn H, xã T, thành phố Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Á và ông Phạm Văn C kết hôn trên cơ sở tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện V, tỉnh Bắc Giang (nay là Ủy ban nhân dân phường T, tỉnh Bắc Ninh) ngày 26/9/2019. Sau khi kết hôn, ông bà sang Cộng hoà Séc để chung sống và làm ăn.

Theo bà Á trình bày: Quá trình chung sống tại Cộng hoà Séc giữa ông bà nảy sinh mâu thuẫn do làm ăn gặp khó khăn. Khi nảy sinh mâu thuẫn ông C vẫn thỉnh thoảng đi về giữa Việt Nam và Cộng hoà Séc nhưng từ tháng 8/2024 do mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên ông C đã ở hẳn Việt Nam. Từ khi ông C về Việt Nam sinh sống, ông bà bắt đầu sống ly thân. Bà Á xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung với ông C không có hạnh phúc, thời gian ly thân kéo dài nên đề nghị Toà án giải quyết cho bà được ly hôn với ông C để ổn định cuộc sống.

Ông Phạm Văn C trình bày: Quá trình ông và bà Á chung sống tại Cộng hoà Séc đã nảy sinh nhiều mâu thuẫn nên ngày 04/6/2024 ông C về Việt Nam và không quay lại Cộng hoà Séc chung sống cùng bà Á. Sau khi về Việt Nam, ông C cắt đứt quan hệ với bà Á, không còn quan tâm, chăm sóc nhau. Bà Á xin ly hôn, ông nhất trí vì giữa ông bà đã không còn tình cảm.

Về con chung: Ông bà cùng xác định không có con chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết về vấn đề con.

Về tài sản chung: Ông bà cùng xác định không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa: Các đương sự đều có đơn xin vắng mặt, giữ nguyên toàn bộ ý kiến, quan điểm đã trình bày tại Toà án và vắng mặt tại phiên toà.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 – Hà Nội phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký là đã tuân theo đúng quy định của pháp luật.

Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 – Hà Nội về việc giải quyết vụ án:

Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Á với ông Phạm văn C.

Về con chung: Ông bà không có con chung nên Toà án không phải giải quyết.

Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không giải quyết.

Về án phí ly hôn sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Á phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm không giá ngạch.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, nhận định:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn và bị đơn đều đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, quyết định đưa vụ án ra xét xử, có lời khai xin vắng mặt trong quá trình xét xử và giải quyết vụ án do vậy Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, dành quyền kháng cáo cho họ theo quy định của pháp luật.

[2] Về quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Á và ông Phạm Văn C: Ông bà tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn ngày 26/9/2019 Ủy ban nhân dân xã H, huyện V, tỉnh Bắc Giang (nay là Ủy ban nhân dân phường T, tỉnh Bắc Ninh). Do vậy, xác định quan hệ hôn nhân của bà Nguyễn Thị Á và ông Phạm Văn C là hợp pháp, được pháp luật thừa nhận. Bà Á và ông C cùng có lời khai thống nhất xác định: Sau khi kết hôn ông bà sang Cộng hòa Séc để sinh sống và làm ăn cùng nhau đến khoảng giữa năm 2023 thì nảy sinh mâu thuẫn trầm trọng nên sau đó ông C đã về Việt Nam sinh sống và ông bà ly thân từ đó đến nay, không quan tâm, chăm sóc nhau nên tình cảm không còn. Bà Á xin ly hôn, ông C đồng ý và ông bà cùng xin vắng mặt trong quá trình Toà án xét xử và giải quyết vụ án, không đến tham gia phiên hoà giải. Theo lời khai của ông bà cho thấy ông bà ly thân đã lâu, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Á với ông Phạm Văn C là phù hợp.

[3] Về con chung: Ông bà không có con chung và không có các yêu cầu liên quan đến vấn đề con chung nên Toà án không giải quyết.

[4] Về tài sản chung của vợ chồng: Ông bà cùng xác định không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

[5] Về án phí ly hôn sơ thẩm: 300.000 đồng, bà Nguyễn Thị Á phải chịu là phù hợp theo quy định của pháp luật.

[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: Điều 56, Điều 58 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Khoản 1 Điều 28, Điều 203, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Á và ông Phạm Văn C. Bà Nguyễn Thị Á được ly hôn ông Phạm Văn C.

Về con chung: Bà Nguyễn Thị Á và ông Phạm Văn C không có con chung nên Toà án không giải quyết về vấn đề con chung.

Về tài sản chung, nợ, công sức: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không giải quyết.

Về án phí ly hôn sơ thẩm: 300.000 đồng, bà Nguyễn Thị Ánh C chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm để sung ngân sách Nhà nước nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án ký hiệu BLTU/25E số 0011042 ngày 10/10/2025 tại Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội. Bà Á đã nộp đủ án phí sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, bà Nguyễn Thị Á và ông Phạm Văn C có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND Khu vực 7 – Hà Nội;
  • - Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội;
  • - Phòng thi hành án dân sự khu vực 7-Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội;
  • - UBND xã Hương Mai, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang nay là UBND phường Tự Lạn, tỉnh Bắc Ninh (GCN kết hôn số 52/2019 ngày 26/9/2019);
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Thu Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 761/2025/HNGĐ - ST ngày 17/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 761/2025/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Á và Phạm Văn C ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger