Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 7 - NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 76/2025/HS-ST
Ngày: 03-12-2025

----------

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lương Thị Kim Huế

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trịnh Thị Kim Cúc

Ông Triệu Văn Giản

- Thư ký phiên toà:Bà Đỗ Thị Hải Anh - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 7 - Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Ninh Bình tham gia phiên toà: Ông Trần Anh Đức - Kiểm sát viên

Ngày 03 tháng 12 năm 2025 tại Toà án nhân dân khu vực 7 - Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 71/2025/TLST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 71/2025/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trịnh Bá T, sinh ngày 01 tháng 4 năm 1978 tại: tỉnh Nam Định (nay là tỉnh Ninh Bình); nơi đăng ký thường trú: Xóm A C, xã T, huyện N, tỉnh Nam Định (nay là xóm A C, xã N, tỉnh Ninh Bình); số căn cước công dân: [...]; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trịnh Bá N (đã chết) và bà Bùi Thị V (đã chết); gia đình bị cáo có 02 anh chị em, bị cáo là con thứ nhất; có vợ: Trần Thị Thu H và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 17-05-2007, Tòa án nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định (nay là Toà án nhân dân khu vực 9 – Ninh Bình) xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; ngày 28-10-2008 Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định (nay là Toà án nhân dân khu vực 7 – Ninh Bình) xử phạt 36 tháng tù về tội :Tàng trữ trái phép chất ma túy”; ngày 30-3-2012 Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định (nay là Toà án nhân dân khu vực 7 – Ninh Bình) xử phạt 42 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; ngày 25-4-2019 Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam (nay là Toà án nhân dân khu vực 5 – Ninh Bình) xử phạt 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” ; Chấp hành xong hình phạt ngày 20-02-2021; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28-6-2025 đến ngày 07-7-2025 hủy bỏ biện pháp tạm giữ do sau khi sát nhập địa giới hành chính chưa thành lập cơ quan chuyên môn định giá tài sản nên chưa đủ căn cứ để khởi tố vụ án, khởi tố bị can. Ngày 11-8-2025 bị bắt tạm giam, hiện bị cáo đang bị tạm giam ở trại tạm giam số 3 Công an tỉnh N. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Công ty cổ phần V1; địa chỉ: Quốc lộ A, phường T, tỉnh Ninh Bình; người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Quang D, chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Giám đốc; nơi đăng ký thường trú: số nhà C đường Đ, khu đô thị H, phường N, tỉnh Ninh Bình. Vắng mặt tại phiên toà không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 04h50' ngày 28-06-2025, Trịnh Bá T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream (không có biển kiểm soát) đi từ nhà đến khu nhà xưởng của Công ty cổ phần V1, địa chỉ Quốc lộ A, phường T, tỉnh Ninh Bình mục đích trộm cắp tài sản. Khi đến nơi T thấy hai người đàn ông lạ mặt đi xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Nouvo Lx biển kiểm soát 18Y1-9480 mang theo 01 xe kéo ba bánh và các dụng cụ cơ khí. Tuyên nói chuyện và biết hai người này cũng đi trộm cắp nên cả ba thống nhất cùng vào trộm cắp tài sản bán lấy tiền chia nhau. Khi vào công ty người đàn ông mặc áo phông màu xám trèo lên mái xưởng dùng công cụ mang theo tháo những tấm tôn lợp trên mái chuyển xuống cho T và người đàn ông khác xếp vào xe kéo ba bánh. Đến khoảng 06h30 cùng ngày, khi Trịnh Bá T và hai người đàn ông tháo được 17 tấm tôn kích thước khoảng (5,1x1,1)m, 02 máng nước bằng tôn kích thước khoảng (5,1x0,11x0,17)m, 01 cột sắt dài 7,1m đường kính 12cm thì bị tổ công tác Công an phường T phát hiện bắt quả tang Trịnh Bá T, còn hai người đàn ông bỏ chạy thoát. Cơ quan công an đã thu giữ 01 xe máy Honda Dream không có biển kiểm soát, 01 xe Yamaha Nouvo Lx biển kiểm soát 18Y1-9480, 01 xe kéo ba bánh bằng kim loại, 02 ba lăng xích bằng kim loại màu đỏ, 03 đoạn xích sắt, 52 que hàn điện, 02 xà beng, 02 lưỡi cắt, 01 búa, 01 mỏ lết, 01 máy hàn, 01 máy cắt.

Tại cơ quan điều tra Trịnh Bá T đã khai nhận hành vi trộm cắp của mình và đồng phạm.

Kết luận định giá tài sản số 25/KL-HDĐGTS của hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự tỉnh Ninh Bình kết luận: 17 tấm tôn kích thước khoảng (5,1x1,1)m; 02 máng nước bằng tôn kích thước khoảng (5,1x0,11x0,17)m; 01 cột sắt dài 7,1m đường kính 12cm có tổng trị giá 4.985.520 đồng (bốn triệu chín trăm tám mươi lăm nghìn năm trăm hai mươi đồng).

Bản Cáo trạng số 27/CT-VKSKV7 ngày 12-11-2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Ninh Bình truy tố bị cáo Trịnh Bá T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trịnh Bá T đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản như bản cáo trạng đã nêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Ninh Bình giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo Trịnh Bá T tại phiên tòa thể hiện hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Do đó Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Ninh Bình giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Trịnh Bá T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 38, điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Trịnh Bá T từ 15 tháng đến 18 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý vật chứng theo qui định.

- Về án phí: Buộc bị cáo Trịnh Bá T phải nộp án phí hình sự theo quy định pháp luật.

Bị cáo Trịnh Bá T nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Ninh Bình), Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trịnh Bá T, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

[2] Về tội danh:

Lời khai nhận tội của bị cáo Trịnh Bá T trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác như: Sơ đồ hiện trường; Bản kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 25/KL-HĐĐGTS ngày 28-7-2025 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 04h50 ngày 28-6-2025, Trịnh Bá T đã có hành vi trộm cắp 17 tấm tôn kích thước khoảng (5,1x1,1)m, 02 máng nước bằng tôn kích thước khoảng (5,1x0,11x0,17)m, 01 cột sắt dài 7,1m đường kính 12cm có tổng trị giá 4.985.520 đồng của Công ty cổ phần V1 tại khu vực Quốc lộ A, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định (nay là phường T, tỉnh Ninh Bình). Hành vi của bị cáo Trịnh Bá T là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ và bị pháp luật nghiêm cấm. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự nhận thức được việc trộm cắp tài sản của người khác là trái pháp luật nhưng vì mục đích tư lợi bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Tài sản mà Trịnh Bá T đã chiếm đoạt có giá trị là 4.985.520 đồng (bốn triệu chín trăm tám mươi lăm nghìn năm trăm hai mươi đồng) nên bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

[3] Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trịnh Bá T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình; tài sản bị cáo chiếm đoạt đã được thu hồi; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4] Về hình phạt:

Hành vi phạm tội của bị cáo Trịnh Bá T là nghiêm trọng, gây ảnh hưởng xấu đối với an ninh trật tự trên địa bàn phường T, bản thân bị cáo Trịnh Bá T là đối tượng có nhân thân rất xấu nên cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, với mức hình phạt nghiêm khắc nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.

[5] Về hình phạt bổ sung:

Xét thấy bị cáo Trịnh Bá T không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Cơ quan điều tra công an tỉnh N đã nhiều lần triệu tập ông Ngô Quang D là đại diện theo pháp luật của Công ty cổ phần V1 lên làm việc nhưng không liên lạc được, không xác định được nơi cư trú hiện tại của ông D vì vậy chưa xử lý được số tài sản của công ty bị trộm cắp nên tách ra xử lý sau.

[7] Về xử lý vật chứng:

Đối với Chiếc xe mô tô Honda Dream không có biển kiểm soát và chiếc xe mô tô Yamaha Nouvo Lx biển kiểm soát 18Y1-9480 chưa xác minh được chủ sở hữu nên Cơ quan điều tra tách ra xác minh xử lý sau.

Đối với các tài sản gồm 01 xe kéo ba bánh bằng kim loại, 02 ba lăng xích bằng kim loại màu đỏ, 03 đoạn xích sắt, 52 que hàn điện, 02 xà beng, 02 lưỡi cắt, 01 búa, 01 mỏ lết, 01 máy hàn, 01 máy cắt là công cụ, phương tiện phạm tội vẫn còn giá trị sử dụng nên tịch thu sung quỹ nhà nước.

[8] Về các vấn đề khác:

Đối với hai đối tượng cùng thực hiện hành vi trộm cắp tài sản với Trịnh Bá T, Cơ quan Cảnh sát Điều tra - Công an tỉnh N chưa xác định được nhân thân, lý lịch nên tách ra tiếp tục xác minh xử lý sau.

[9] Về án phí:

Bị cáo Trịnh Bá T bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 38, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Căn cứ Điều 106, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23, Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

  1. Tuyên bố bị cáo Trịnh Bá T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Xử phạt bị cáo Trịnh Bá T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11-8-2025. Bị cáo được trừ thời gian đã tạm giữ từ ngày 28-6-2025 đến ngày 07-7-2025.
  3. Xử lý vật chứng:
    Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 xe kéo ba bánh bằng kim loại, 02 ba lăng xích bằng kim loại màu đỏ, 03 đoạn xích sắt, 52 que hàn điện, 02 xà beng, 02 lưỡi cắt, 01 búa, 01 mỏ lết, 01 máy hàn, 01 máy cắt (Vật chứng có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 18-11-2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh N và Phòng thi hành án dân sự khu vực 7 - Ninh Bình).
  4. Về án phí:
    Bị cáo Trịnh Bá T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo:
    Bị cáo Trịnh Bá T có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại là Công ty cổ phần V1 có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo Trịnh Bá T có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Toà án nhân dân tỉnh Ninh Bình;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSND khu vực 7 - Ninh Bình (02 bản);
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ - Công an tỉnh Ninh Bình;
  • - Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Lương Thị Kim Huế

CÁC THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

HỘI THẨM NHÂN DÂNTHẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Lương Thị Kim Huế

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 76/2025/HS-ST ngày 03/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - NINH BÌNH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 76/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án đối với bị cáo Trịnh Bá Tuyên
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger