Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 746/2025/DS-PT

Ngày: 09-12-2025

V/v: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phùng Thị Cẩm Hồng

Các Thẩm phán:

  1. Ông Nguyễn Thiện Tâm
  2. Ông Nguyễn Quốc Tuấn

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Huỳnh Nhã Mi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Lê Ngọc Hiền - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 03 và ngày 09 tháng 12 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 602/2025/TLPT- DS ngày 10 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 27/2025/DS-ST ngày 16 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Tây Ninh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 607/2025/QĐ-PT ngày 29 tháng 10 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Anh Lê Hoàng Anh T, sinh năm 1973; cư trú tại: Khu phố H, phường H, thị xã H, tỉnh Tây Ninh (nay là Khu phố H, phường T, tỉnh Tây Ninh).
  2. Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Ông Võ Chí T1, sinh năm 1963; cư trú tại: số B T, Phường D, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là số B T, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh). (Theo văn bản ủy quyền ngày 03/03/2025)

  3. Bị đơn: Chị Phạm Hồng L, sinh năm 1981; cư trú tại: số D, Hẻm A, đường T, khu phố N, phường N, thành phố T, tỉnh Tây Ninh (nay là số D, Hẻm A, đường T, khu phố N, phường N, tỉnh Tây Ninh).
  4. Người đại diện theo ủy quyền: Nguyễn Thị L1, sinh năm: 1960. Địa chỉ cư trú: số G đường T, khu phố A, Phường T, tỉnh Tây Ninh (Theo văn bản ủy quyền ngày 07/8/2025).

2

  1. Người kháng cáo: Bị đơn bà Phạm Hồng L.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa, nguyên đơn anh Lê Hoàng Anh T và người đại diện theo uỷ quyền là ông Võ Chí T1 trình bày:

Thời điểm năm 2023-2024, anh T làm môi giới bất động sản. Anh T và chị Phạm Hồng L có quen biết, quan hệ tình cảm với nhau. Do có người giới thiệu chị L cần bán nhà ở Phường C, thành phố T, tỉnh Tây Ninh, nhờ anh T bán giúp. Anh T môi giới bán nhà cho chị L được số tiền 9 tỷ đồng, chị L nói với anh trả nợ nần xong thì còn 1,5 tỷ đồng. Lúc này, chị L nhờ anh T giới thiệu mua một ngôi nhà khác. Anh T giới thiệu cho chị L mua căn nhà hiện nay chị L đang ở tại địa chỉ số D, hẻm A, đường T, khu phố N, phường N, thành phố T, tỉnh Tây Ninh với giá 2,5 tỷ đồng.

Khoảng tháng 12-2023, chị L nói với anh T mượn giùm chị L số tiền 1.000.000.000 đồng để sau khi sang tên nhà đất làm thủ tục xong thì vay Ngân hàng trả lại. Anh T đồng ý nên ngày 04/12/2023, anh T có mượn anh Nguyễn Hoàng H số tiền 1.000.000.000 đồng để cho chị L mượn. Ngày 04/12/2023, anh T kêu anh H chuyển khoản cho anh T số tiền 1.000.000.000 đồng để trả tiền xe, anh T có tiền mặt là 1.000.000.000 đồng đưa cho chị L mượn, khi cho chị L mượn số tiền 1.000.000.000 đồng không viết giấy nợ, vì hai bên đang có quan hệ tình cảm, tin tưởng nhau. Sau khi anh T làm thủ tục cho chị L đứng tên nhà đất xong thì giới thiệu cho chị L đến Ngân hàng để vay tiền trả cho anh T, lúc chị L chưa cung cấp được giấy xác nhận độc thân, nên Ngân hàng không cho vay tiền. Sau đó, chị L nói với anh T để chị L làm thủ tục ly hôn với chồng xong, thì báo anh T để vay tiền trả lại cho anh. Anh T có liên hệ chị L nhiều lần nhưng chị L nói thủ tục giấy tờ chưa xong, chưa vay tiền được.

Đến ngày 14/7/2024, anh T đi Mỹ và ở lại 06 tháng. Chị L hứa với anh T khi nào chị L làm thủ tục xong, thì chị L vay tiền trả . Tuy nhiên, anh T thường xuyên liên lạc với chị L nhưng chị L vẫn hứa hẹn mà không trả tiền cho anh. Đến tháng 12 năm 2024 anh về Việt Nam, tìm hiểu thì biết được chị L đã vay tiền Ngân hàng xong từ tháng 8 năm 2024 với số tiền 1,6 tỷ đồng nhưng không trả tiền cho anh T.

Nay anh T khởi kiện yêu cầu chị L trả cho anh T số tiền nợ gốc là 1.000.000.000 đồng, tiền lãi tính ngày 04/12/2023 (ngày anh giao tiền cho chị L) đến nay, theo lãi suất quy định của pháp luật là 20%/năm, tạm tính là 249.800.000 đồng. Tổng cộng là 1.249.800.000 đồng.

Chứng cứ anh T cung cấp là: Đoạn ghi âm được ghi từ các cuộc điện thoại giữa anh và chị L qua số điện thoại 0913.955.xxx, số điện thoại của chị L là 0933.416.xxx. Thời điểm ghi âm cuộc nói chuyện qua điện thoại theo bản tường trình là ngày 02/6/2024. Thời điểm ghi âm cuộc nói chuyện qua điện thoại theo bản tường trình ngày 04/3/2025 thì đoạn ghi âm thứ 1 là ngày 10/7/2024; cuộc nói chuyện điện thoại đoạn ghi âm thứ 2 là ngày 07/7/2024. Khoảng thời gian này, do anh đòi tiền chị L nhiều lần nhưng chị L không trả, không chịu viết giấy nợ, hứa

3

hẹn mượn tiền để trả, nên anh T mới ghi âm các cuộc nói chuyện điện thoại để làm chứng cứ.

Bị đơn chị Phạm Hồng L trình bày: Khoảng thời gian năm 2023-2024, chị và anh Lê Hoàng Anh T có mối quan hệ quen biết qua việc mua bán xe, mua bán nhà. Hai bên có tìm hiểu quan hệ tình cảm với nhau, anh T nói anh T độc thân, sống một mình, muốn tiến tới với chị nên hai bên xác lập mối quan hệ tình cảm. Năm 2023, anh T giới thiệu cho chị bán căn nhà ở đường N, Phường C, thành phố T, tỉnh Tây Ninh, bán được giá khoảng hơn 9 tỷ đồng, chị trả nợ Ngân hàng 7 tỷ đồng, còn lại hơn 2 tỷ đồng. Chị tìm mua nhà khác, anh T có giới thiệu cho chị mua căn nhà hiện nay tại số D, Hẻm A, đường T, khu phố N, phường N, thành phố T, tỉnh Tây Ninh. Anh T nói cho chị mượn 1 tỷ đồng để mua nhà là không đúng. Tiền mua nhà là toàn bộ tiền của chị, anh T không có cho chị mượn tiền hay liên quan gì đến căn nhà này. Trong thời gian quen nhau, khi chị bán nhà chị có cho anh T mượn tiền nhiều lần. Chị tin tưởng anh T, nghĩ như vợ chồng nên chị giao tiền bạc cho anh T. Sau đó, anh T có trả tiền cho chị, chị mới mua nhà.

Sau khi chị mua nhà, anh T thường xuyên ở nhà chị. Đến khoảng Tết năm 2024 thì đột nhiên anh T chặn zalo, facebook, huỷ kết bạn, mất liên lạc. Sau đó, anh T đến nhà chị và thừa nhận với chị là đã có vợ, vợ anh T ở Mỹ về, anh T đang sắp xếp chuyện gia đình nên đừng liên lạc với anh T. Sau khi biết chuyện, chị dứt khoát chia tay với anh T. Sau khi chị và anh T chia tay thì anh T nhiều lần đòi quay lại với chị, chị không đồng ý thì anh T đòi tiền mua sắm đồ đạc cho chị, dẫn chị đi chơi. Khi chia tay thì chị tự ái nên hứa trả cho anh T, nói có nợ là nợ ân tình, không phải tiền bạc. Còn về tiền của anh H, trong thời gian sống chung, anh T có nói với chị là anh T thiếu tiền anh H số tiền 1 tỷ đồng, anh T cứ yêu cầu chị mượn tiền giùm để trả cho anh H chứ chị không có qua lại làm ăn gì với anh H. Việc anh T nói chị mượn tiền để mua nhà là không đúng, vì sau khi chị bán nhà chị vẫn còn đủ tiền để mua nhà.

Nay anh T khởi kiện thì chị không đồng ý, chị không có nợ nần gì anh T.

Chị có yêu cầu phản tố yêu cầu anh T trả cho chị số tiền nợ gốc là 1.270.000.000 đồng, là tiền anh T nhờ chị chuyển khoản cho anh Nguyễn Hoàng H và tiền nợ lãi từ ngày 10/4/2025 theo lãi suất quy định của pháp luật. Khi cho anh T mượn thì không có thoả thuận tiền lãi, không thoả thuận thời hạn trả tiền.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 27/2025/DS-ST ngày 16 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Tây Ninh đã tuyên:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lê Hoàng Anh T đối với chị Phạm Hồng L về tranh chấp hợp đồng vay tài sản.
  2. Buộc chị Phạm Hồng L trả cho anh Lê Hoàng Anh T số tiền gốc là 1.000.000.000đồng (một tỷ đồng) và tiền lãi tính từ ngày 04/3/2025 đến ngày xét xử sơ thẩm theo lãi suất 10%/năm là 36.520.000 đồng (ba mươi sáu triệu, năm trăm hai mươi nghìn đồng). Tổng cộng là 1.036.520.000 đồng (một tỷ, không trăm ba mươi sáu triệu, năm trăm hai mươi nghìn đồng).

    Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành

4

tương ứng với thời gian chậm trả theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

  1. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của chị Phạm Hồng L đối với anh Lê Hoàng Anh T về yêu cầu trả số tiền 1.270.000.000 đồng và tiền lãi từ ngày 10/4/2025 đến ngày xét xử sơ thẩm theo lãi suất 10%/năm là 33.917.000 đồng.
  2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
    1. Anh Lê Hoàng Anh T không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho anh T số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 21.000.000 đồng theo Biên lai thu số 0004146 ngày 07-3-2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 10 - Tây Ninh).
    2. Chị Phạm Hồng L phải chịu án phí đối với số tiền phải trả cho anh Lê Hoàng Anh T là 43.096.000 đồng và tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu phản tố không được chấp nhận là 51.118.000 đồng, được khấu trừ số tiền 30.434.700đồng tiền tạm ứng án phí chị L đã nộp theo Biên lai thu số: 0004375 ngày 17/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 10 - Tây Ninh).
  3. Tiếp tục duy trì Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số: 01/2025/QĐ-BPKCTT ngày 24/3/2025 của Toà án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh (nay là Toà án nhân dân Khu vực 10 - Tây Ninh) cho đến khi có quyết định khác.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo và hướng dẫn thi hành án.

Bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực.

Ngày 28/7/2025, chị Phạm Hồng L có kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Đề nghị, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm xem xét sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh T và chấp nhận yêu cầu phản tố của chị L.

Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Các bên đương sự không đề nghị thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh phát biểu ý kiến:

Về hình thức: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng trình tự thủ tục, người tham gia tố tụng chấp hành đúng qui định Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị, Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của chị Phạm Hồng L. Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục:

5

[1.1] Đơn kháng cáo của chị Phạm Hồng L được làm đúng theo quy định tại Điều 272, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, nên được xem xét giải quyết theo trình tự thủ tục phúc thẩm.

[1.2] Về xác định quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án và giải quyết vụ án là phù hợp theo quy định tại Điều 26, Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.3] Về việc vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa phúc thẩm, những người được Tòa án triệu tập có mặt, Tòa án tiến hành xét xử theo trình tự phúc thẩm là phù hợp quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung: Chị Phạm Hồng L có kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Đề nghị, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm xem xét sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh T và chấp nhận yêu cầu phản tố của chị L. Căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử trong phạm vi kháng cáo của đương sự.

[2.1] Xét thấy: Anh T xác định cho chị L mượn số tiền gốc là 1.000.000.000 đồng, anh T và chị L không viết giấy nợ. Tuy nhiên, anh T cung cấp được đoạn ghi âm nói chuyện giữa anh T và chị L kèm theo Tờ tường trình (tại bút lục số 10), trong đó có nội dung ghi “T nói: Giờ anh nói trước mắt em, tại còn 5 ngày nữa anh đi rồi, giờ em viết cho nó cái giấy nợ đi, nợ vậy vậy đó. Thiếu nó 1 tỷ đó, em ghi rõ ràng vậy đó, anh gửi chứng minh qua cho, rồi chừng nào bà N có tiền chuyển qua cho em - L nói: Rồi sao mà anh phải kêu em ghi giấy nợ, bộ anh sợ em không trả hay sao phải ghi giấy nợ”. Ngoài ra, tại bút lục số 64, bản chụp tin nhắn do chị L cung cấp có đoạn ghi “Em không nợ thằng H và cũng không làm ăn gì với nó, còn chuyện của anh và em, em sẽ trả cho anh, anh cứ yên tâm. Còn chuyện vợ anh hay thằng H gì đó là không liên quan tới em, riêng anh ân em đền nghĩa em trả”. Tại Biên bản đối chất ngày 02/4/2025, chị L đã thừa nhận các đoạn ghi âm có nội dung do anh T cung cấp cho Toà án là có thật và xác định đúng là giọng nói của chị L. Hội đồng xét xử, thấy rằng cuộc nói chuyện nêu trên giữa chị L với anh T và tin nhắn tại bút lục số 64 đã có căn cứ xác định chị L có nợ anh T số tiền 1.000.000.000 đồng, chị L cho rằng không có mượn tiền của anh T nhưng không cung cấp được chứng cứ để chứng minh trong khi đoạn ghi âm thể hiện chị L nói “Rồi sao mà anh phải kêu em ghi giấy nợ, bộ anh sợ em không trả hay sao phải ghi giấy nợ”. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh T là phù hợp và có căn cứ.

[2.2] Đối với yêu cầu phản tố của chị L thấy rằng: Chị L yêu cầu anh T trả số tiền 1.270.000.000 đồng. Chị L xác định đây là tiền chị chuyển khoản cho anh Nguyễn Hoàng H vào ngày 24/10/2023 và ngày 01/11/2023 theo yêu cầu của anh T, nhưng anh T chưa trả lại tiền này cho chị L. Hội đồng xét xử, xét thấy: Quá trình giải quyết vụ án, anh T và chị L đều thừa nhận có việc chị L được anh T nhờ chuyển khoản cho anh Nguyễn Hoàng H số tiền 800.000.000 đồng vào ngày 24/10/2023 và ngày 01/11/2023 chị L chuyển tiếp số tiền 470.000.000 đồng. Tuy nhiên, anh T không cung cấp được chứng cứ đã trả tiền cho chị L, nhưng tại Biên bản đối chất ngày 02/4/2025 (bút lục số 51) chị L đã thừa nhận hai bên có chuyển tiền qua lại và anh T đã trả lại tiền cho chị. Ngoài ra, quá trình giải quyết vụ án chị

6

L còn trình bày là trong thời gian quen nhau, khi chị bán nhà chị có cho anh T mượn tiền nhiều lần. Chị tin tưởng anh T, nghĩ như vợ chồng nên chị giao tiền bạc cho anh T. Sau đó, anh T có trả tiền cho chị, chị mới mua nhà. Mặt khác, sau đó ngày 13/11/2023 và ngày 15/11/2023 chị L có chuyển tiền cho anh T tổng cộng số tiền là 1.300.000.000 đồng, số tiền này chị L cũng thừa nhận anh T đã trả tiền mặt cho chị xong. Như vậy, lời trình bày của chị L không phù hợp, do số tiền chị L chuyển cho anh T sau nhưng chị L xác định trả rồi, còn số tiền chị L chuyển cho anh H trước nhưng chưa trả, nhưng thời gian dài chị L cũng không có yêu cầu anh T trả tiền và cũng không trao đổi gì về tiền anh T còn nợ, đến khi anh T có yêu cầu khởi kiện chị L thì chị L mới có yêu cầu phản tố. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị L là phù hợp.

[3] Từ những nhận định trên: Hội đồng xét xử xét thấy không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu kháng cáo của chị Phạm Hồng L, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[4] Phát biểu của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh là có căn cứ và phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: chị Phạm Hồng L phải chịu án phí do kháng cáo không được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của chị Phạm Hồng L.

Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 27/2025/DS-ST ngày 16/7/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Tây Ninh.

Căn cứ vào Điều 26, Điều 35, Điều 147, Điều 148, Điều 227, Điều 228, Điều 273 và Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 463, Điều 464, Điều 466, Điều 467, Điều 468, Điều 469 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Điều 6, Điều 26, Điều 27, Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lê Hoàng Anh T đối với chị Phạm Hồng L về tranh chấp hợp đồng vay tài sản.
  2. Buộc chị Phạm Hồng L trả cho anh Lê Hoàng Anh T số tiền gốc là 1.000.000.000đồng (một tỷ đồng) và tiền lãi tính từ ngày 04/3/2025 đến ngày xét xử sơ thẩm theo lãi suất 10%/năm là 36.520.000 đồng (ba mươi sáu triệu, năm trăm hai mươi nghìn đồng). Tổng cộng là 1.036.520.000 đồng (một tỷ, không trăm ba mươi sáu triệu, năm trăm hai mươi nghìn đồng).

7

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành tương ứng với thời gian chậm trả theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

  1. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của chị Phạm Hồng L đối với anh Lê Hoàng Anh T về yêu cầu trả số tiền 1.270.000.000 đồng và tiền lãi từ ngày 10/4/2025 đến ngày xét xử sơ thẩm theo lãi suất 10%/năm là 33.917.000 đồng.
  2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
    1. Anh Lê Hoàng Anh T không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho anh T số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 21.000.000 đồng (hai mươi mốt triệu đồng) theo Biên lai thu số 0004146 ngày 07-3-2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 10 - Tây Ninh).
    2. Chị Phạm Hồng L phải chịu án phí đối với số tiền phải trả cho anh Lê Hoàng Anh T là 43.096.000 đồng (bốn mươi ba triệu, không trăm chín mươi sáu nghìn đồng) và tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu phản tố không được chấp nhận là 51.118.000đồng (năm mươi mốt triệu, một trăm mười tám nghìn đồng) được khấu trừ số tiền 30.434.700đồng (ba mươi triệu, bốn trăm ba mươi bốn nghìn, bảy trăm đồng) tiền tạm ứng án phí chị L đã nộp theo Biên lai thu số 0004375 ngày 17/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 10 - Tây Ninh).
  3. Tiếp tục duy trì Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 01/2025/QĐ-BPKCTT ngày 24/3/2025 của Toà án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh (nay là Toà án nhân dân Khu vực 10 - Tây Ninh) cho đến khi có quyết định khác.
  4. Về án phí dân sự phúc thẩm: Chị Phạm Hồng L phải chịu 300.000 đồng, được khấu trừ số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí mà chị L đã nộp theo biên lai thu tiền số 0001735 ngày 28/7/2025 của Phòng Thi hành án dân sự khu vực 10 - Tây Ninh.
  5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án. /.

Nơi nhận:

  • -TAND tối cao tại TP.HCM;
  • -VKSND tỉnh Tây Ninh;
  • - TAND khu vực 10 - Tây Ninh;
  • - Phòng THADS khu vực 10 - Tây Ninh;
  • - Các đương sự
  • - Lưu HS, lưu án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phùng Thị Cẩm Hồng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 746/2025/DS-PT ngày 09/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 746/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 09/12/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: y án
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger