Hệ thống pháp luật

1

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc

Bản án số: 723/2025/DS-PT

Ngày: 15 -12 - 2025

V/v "Tranh chấp đòi lại

quyền sử dụng đất bị lấn chiếm”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hải

- Các thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thùy Trang.

Ông Nguyễn Quốc Định.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thảo Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân thành

phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Hồng Thắm - Kiểm sát viên.

Trong ngày 15/12/2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 322/TLPT-DS ngày 09/10/2025 về việc: “Tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất bị lấn chiếm”. Do bản án Dân sự sơ thẩm số 122/2025/DS-ST ngày 24/6/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng (nay là Tòa án nhân dân khu vực 5 – Cần Thơ) có kháng cáo. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 673/2025/QĐ-PT ngày 21 tháng 10 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn:

  1. Ông Dương Minh C, sinh năm 1978;
  2. Bà Vương Ái N, sinh năm 1982.

Cùng địa chỉ: Số A đường T, khóm F, phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (nay là: Số A đường T, khóm F, phường P, thành phố Cần Thơ).

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (Hợp đồng ủy quyền ngày 03/01/2024 và Hợp đồng ủy quyền ngày 13/11/2023): Ông Vương Tấn B, sinh năm 1962; địa chỉ: Số G, đường H, phường A, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (nay

2

là: Số G, đường H, phường P, thành phố Cần Thơ). (có mặt)

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Luật sư Bạch Sỹ C1 - văn phòng L2, thuộc Đoàn Luật sư thành phố C; địa chỉ: Số A N, phường P, thành phố Cần thơ. (có mặt)

- Bị đơn: Ông Hứa Mộng L, sinh năm 1973.

Địa chỉ: Số H, đường L, khóm G, phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (nay là: Số H, đường L, khóm G, phường P, thành phố Cần Thơ).

Người đại diện theo ủy quyền (Hợp đồng ủy quyền ngày 20/02/2024): Ông Nguyễn Thành B1, sinh năm 1975; địa chỉ: Ấp Đ, xã H, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (nay là: Ấp Đ, xã H, thành phố Cần Thơ). (có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Tăng Thị H, sinh năm 1941; (vắng mặt)
  2. Ông Hứa Quốc T, sinh năm 1971. (có mặt)

Cùng địa chỉ: Số H, đường L, khóm G, phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (nay là: Số H, đường L, khóm G, phường P, thành phố Cần Thơ).

- Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Dương Minh C, bà Vương Ái N.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguyên đơn ông Dương Minh C, bà Vương Ái N trình bày: Nguồn gốc căn nhà số H đường L, gắn liền thửa đất số 38, tờ bản đồ số 08, diện tích sử dụng 245,9m², loại đất ODT=150m² và LNK = 95,9m², toạ lạc tại Khóm G, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (nay là phường P, thành phố Cần Thơ) là do cha mẹ ông Nguyễn Hữu T1 tạo lập. Sau khi cha mẹ ông T1 chết thì ngày 28/12/2010 các anh, chị em ông T1 đã thống nhất ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông bà. Do chưa có đăng ký sở hữu nhà nên chỉ lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa đất. Tháng 6/2011 ông bà được Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thành phố S chỉnh lý biến động sang tên cho vợ chồng ông bà.

Năm 2014 ông bà cho vợ chồng người em mượn căn nhà và diện tích đất này ở và làm nơi đặt máy photocopy phục vụ kinh doanh. Để đảm bảo an toàn và bảo vệ máy móc, tài sản nên em ông đã đóng bít cửa sau lại mà không đi ra sau hậu để kiểm tra quan sát diện tích đất trống còn lại phía sau. Do đó, ông Hứa Mộng L khi cất nhà, xây dựng hàng rào đã lấn chiếm phần diện tích đất phía sau căn nhà của ông bà với diện tích là 39,6m² tứ cận như sau: Hướng Đông giáp bức tường căn nhà ông C, bà N số đo 9,21m; Hướng Tây giáp phần đất ông Hứa

3

Mộng L, số đo 9,21m; Hướng Bắc giáp phần nhà ông Hứa Mộng L, số đo 4,30m; Hướng Nam giáp đường mương thoát nước, số đo 4,3m.

Đến tháng 10/2023 thì em ông bà đã chuyển địa điểm kinh doanh nơi khác nên đã giao trả lại nhà đất cho ông bà. Sau khi mở cửa sau kiểm tra mới phát hiện việc lấn chiếm đất của ông Hứa Mộng L. Ông bà đã gặp bên phía gia đình ông L để nói rõ sự việc lấn chiếm đất và yêu cầu tháo dỡ bức tường trả lại phần đất lấn chiếm cho nhưng ông Hứa Quốc T là anh ruột ông L không chịu trả lại diện tích đất lấn chiếm. Vụ việc đã được U, thành phố S hoà giải nhưng không thành.

Nay ông bà yêu cầu: Buộc ông Hứa Mộng L và những người sinh sống trong căn nhà mang số H, đường L, Khóm G, Phường C, thành phố S phải tháo dỡ hàng rào, vật kiến trúc trên diện tích đất lấn chiếm 39,6m² nêu trên cho ông bà.

Tại phiên toà sơ thẩm, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn là ông Vương Tấn B yêu cầu Toà án giải quyết buộc bị đơn trả lại quyền sử dụng đất theo diện tích đo đạc thực tế là 28,7m².

* Phía bị đơn có đại diện theo ủy quyền là ông Nguyễn Thành B1 trình bày: Phần đất mà nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả lại trước đây là mương nước bỏ hoang, do gia đình bị đơn bồi đắp, cất nhà ở ổn định từ năm 1989 đến nay, đất thuộc quyền quản lý của nhà nước nên bị đơn không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng. Ông L không có lấn chiếm phần đất của ông C, bà N nên việc yêu cầu trả lại phần đất trên bị đơn không đồng ý.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Hứa Quốc T đồng thời người đại diện theo uỷ quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Tăng Thị H trình bày: Căn nhà tại địa chỉ số H đường L, Khóm G, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng của bà Tăng Thị H đang ở cùng với ông Hứa Mộng L, ông Hứa Quốc T trước đây là đầm nước. Bà H cùng với ông L, ông T đã san lấp cất lên căn nhà che mưa, che nắng. Từ năm 1989 đến năm 2015 thì cơ quan nhà nước mời lên nhiều lần yêu cầu dời đi nơi khác, nhưng từ sau năm 2015 thì không bị mời lên yêu cầu dọn đi nơi khác nữa. Phần đất này là của nhà nước nên gia đình bà H không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng. Gia đình bà H không có lấn chiếm đất của ông C, bà N. Do đó bà H, ông T không đồng ý với yêu cầu của nguyên đơn.

Do hòa giải không thành nên vụ kiện được đưa ra xét xử. Tại Bản án số 122/2025/DS-ST ngày 24/6/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng (nay là Tòa án nhân dân khu vực 5 – Cần Thơ) đã tuyên xử:

4

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Dương Minh C và bà Vương Ái N về việc yêu cầu ông Hứa Mộng L tháo dỡ công trình xây dựng trên đất là một phần căn nhà trệt, kết cấu: Nền lát gạch men, vách tường gạch (ốp gạch men cao 1,5m), khung cột sắt, đà bê tông cốt thép, mái lợp tole, để trả lại cho ông Dương Minh C, bà Vương Ái N phần đất diện tích diện tích 28,7m², có tứ cận theo các điểm 8,9,10,11,12,13 của Sơ đồ hiện trạng thửa đất (Sơ đồ kèm theo bản án).

  2. Về chi phí tố tụng: Chi phí đo đạc, thẩm định, định giá là 19.350.000 đồng, ông Dương Minh C và bà Vương Ái N phải chịu. Ông Dương Minh C và bà Vương Ái N đã thực hiện xong.

    Ông Hứa Mộng L, bà Tăng Thị H và ông Hứa Quốc T không phải chịu chi phí đo đạc, thẩm định, định giá.

  3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    Ông Dương Minh C và bà Vương Ái N phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm. Được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí ông C, bà N đã nộp 500.000 đồng theo Biên lai tạm ứng án phí số 0001412 ngày 10/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng. Như vậy ông Dương Minh C và bà Vương Ái N được nhận lại 200.000 đồng án phí sơ thẩm.

    Ông Hứa Mộng L, bà Tăng Thị H và ông Hứa Quốc T không phải chịu án phí sơ thẩm.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về chi phí thẩm định, tiền án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo của các đương sự.

Không đồng ý với bản án của Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng đã tuyên xử nguyên đơn ông Dương Minh C, bà Vương Ái N đã kháng cáo bản án trên.

Tại phiên tòa phúc thẩm, luậ sư Bạch Sỹ C1 bảo vệ quyền lợi cho nguyên đơn trình bày: Ông C và bà N đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thuế với nhà nước và đứng tên chủ quyền sử dụng đất nhưng diện tích đất sử dụng lại thiếu so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Phần đất thiếu này là do cho phía bị đơn mượn để sử dụng. Lúc được cấp giấy là 260m 2, lúc mở lộ thì diện tích còn 245,9m 2, đo đạc lần 2 diện tích còn 230m 2. Nếu bỏ ra phần bức tường thì diện tích đất của nguyên đơn không đủ. Đất của ông L sử dụng là đường thẳng nhưng khi thể hiện lên bản đồ đo đạc là gấp khúc. Ông L sử dụng đất của nhà nước là phần mương nên chưa được cấp giấy đã lấn qua phần đất của nguyên đơn được

5

cấp giấy. Đề nghị bị đơn tháo dỡ phần công trình xây dựng trên diện tích 28,7m² để trả lại đất cho nguyên đơn.

Phía bị đơn có ông Nguyễn Thành B1 đại diện ủy quyền trình bày: Gia đình bị đơn sử dụng ổn định trên phần đất tranh chấp từ năm 1989 đến nay. Phần đất phía bị đơn sử dụng chưa được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Bị đơn không lấn chiếm đất của nguyên đơn. Đề nghị Hội đồng xét xử giữ y bản án sơ thẩm.

Vị đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Quá trình thụ lý và giải quyết, thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về nội dung: Xét yêu cầu kháng cáo của các nguyên đơn ông Dương Minh C bà Vương Ái N được nộp trong thời hạn theo quy định tại Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 nên được xem xét là hợp lệ.

Căn cứ kết quả đo đạc thực tế thửa đất số 38, tờ bản đồ số 08, toạ lạc tại khóm G, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng của ông C, bà N phần không tranh chấp theo sự chỉ ranh của nguyên đơn có diện tích 230,4m² (trong đó có phần đất hình tam giác ngoài thửa 38). Theo nguyên đơn khi em trả lại nhà và đất được nguyên đơn cho mượn vào tháng 10/2023, nguyên đơn tự đo đạc lại thửa đất 38 thiếu diện tích theo đo đạc 28,7m² và phần đất bị thiếu phía sau căn nhà thuộc một phần thửa 38 đã bị ông L lấn chiếm.

Nhận thấy, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R740508 do Ủy ban nhân dân tỉnh S cấp ngày 02/10/2001 cho hộ ông Nguyễn Hữu T1, thuộc thửa đất số 38, tờ bản đồ số 08, diện tích 245,9m², toạ lạc tại khóm G, phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. Năm 2011 hộ ông T1 chuyển nhượng toàn bộ diện tích đất cho ông C, bà N và được điều chỉnh biến động chuyển nhượng cho ông C, bà N vào tháng 6/2011. Khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Nguyễn Hữu T1 vào năm 2001, hồ sơ kỹ thuật thửa đất mã số 819.01.05.07 được cấp theo hệ toạ độ HN72.

Tại Công văn số 695/VPĐK-KT ngày 18/7/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh S có nội dung đề nghị Tòa án hợp đồng với đơn vị chức năng chuyên môn để chuyển đổi hệ toạ độ. Trên cơ sơ đó, Tòa án đã liên hệ với đơn vị có chức năng chuyên môn là Công ty H1 để hợp đồng chuyển đổi hệ toạ độ thửa 38, từ hệ toạ độ HN72 về hệ toạ độ VN B. Sau khi chuyển đổi thửa đất tranh chấp về hệ toạ độ VN 2000, Công ty H1 đã cung cấp Sơ đồ hiện trạng thửa đất ngày 05/11/2024.

6

Theo kết quả đo đạc chuyển đổi hệ toạ độ VN 2000 chiều dài phần đất tại thửa 38 lúc cấp giấy, so với hiện nay có sự chênh lệch do chuyển đổi hệ toạ độ. Theo sơ đồ hiện trạng thửa đất đã chuyển đổi hệ toạ độ ngày 05/11/2024 thì phần đất thực tế ông C, bà N sử dụng không tranh chấp là 230,4m², cộng với diện tích phần vỉa hè nằm trong diện tích đo đạc theo hệ toạ toạ HN72 là thừa diện tích so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp.

Trong khi đó, bị đơn cất căn nhà trên đất thuộc quyền quản lý của nhà nước, nên không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng. Phần đất tranh chấp có diện tích đo đạc thực tế 28,7m² do ông Hứa Mộng L1, bà Tăng Thị H và ông Hứa Quốc T đang quản lý sử dụng, trên đất có phân căn nhà ở từ năm 1989 cho đến nay. Do đó, việc nguyên đơn cho rằng phần đất nguyên đơn tự đo lại thiếu 28,7m² là do bị đơn lấn chiếm và yêu cầu bị đơn trả lại đất là không có căn cứ chấp nhận.

Từ những phân tích trên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của các nguyên đơn ông Dương Minh C bà Vương Ái N. Áp dụng khoản 1 Điều 308 BLTTDS giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 122/2025/DS-ST ngày 24/6/2025 của Toà án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng (nay là Tòa án nhân dân khu vực 5- Cần Thơ).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về thủ tục tố tụng dân sự: Xét mối quan hệ pháp luật thì đây là vụ kiện: "Tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất bị lấn chiếm” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền. Kháng cáo của nguyên đơn trong hạn luật định nên được xem xét.

  2. Về nội dung và yêu cầu của nguyên đơn: Về nguồn gốc đất tranh chấp theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R 740508 do Ủy ban nhân dân tỉnh S cấp ngày 02/10/2001 cho hộ ông Nguyễn Hữu T1, thuộc thửa đất số 38, tờ bản đồ số 08, diện tích 245,9m², toạ lạc tại Khóm G, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.

    Năm 2011 hộ ông T1 chuyển nhượng toàn bộ diện tích cho ông C, bà N và được điều chỉnh biến động chuyển nhượng cho ông C, bà N vào tháng 6/2011. Diện tích đất gắn liền với căn nhà số H đường L, gắn liền thửa đất số 38,

7

tờ bản đồ số 08, diện tích sử dụng 245,9m², loại đất ODT=150m² và LNK = 95,9m², toạ lạc tại Khóm G, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (nay là phường P, thành phố Cần Thơ). Nguyên đơn sau khi đứng chủ quyền nhà thì có cho người em mượn để kinh doanh nay thì phát hiện nhà phía bị đơn lấn qua phần đất của mình nên mới khởi kiện yêu cầu bị đơn trả lại diện tích qua đo đạc thực tế là 28,7m². Phía bị đơn không thừa nhận lấn chiếm đất của nguyên đơn và cho rằng phần đất tranh chấp bị đơn đang cất nhà là đất của Nhà nước không thuộc quyền sử dụng của nguyên đơn.

Qua xem xét Hội đồng xét xử nhận thấy: Căn cứ theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R 740508 do Ủy ban nhân dân tỉnh S cấp cho hộ ông Nguyễn Hữu T1 ngày 02/10/2001; Đến tháng 06/2011, Văn phòng đăng ký đất đai thành phố S chỉnh lý biên động sang tên cho vợ chồng ông C, bà N thể hiện tứ cận như sau: Phía Đông có số đo 8,50m. Phía Tây có số đo 9,21m. Phía Bắc có số đo 28,90m. Phía Nam có số đo 27,2m.

Tuy nhiên, theo hiện trạng thửa đất của Công ty H1 cập nhật thì Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R 740508 thể hiện như sau: Phía Đông giáp đường L có số đo 8,25m. Phía Tây giáp Hứa Mộng L có số đo 9,21m. Phía Bắc giáp bệnh viện Đ có số đo 30,24m. Phía Nam giáp mương thoát nước có số đo 28,45m.

Do đó, căn cứ theo sơ đồ hiện trạng thửa đất của công ty TNHH H1 thì phần diện đất ông C, bà N đang quản lý sử dụng lớn hơn diện tích thể hiện trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sau khi đã chuyển từ từ hệ tọa độ HN72 sang VN2000); phần diện tích đất tranh chấp 28,7m² có một phần diện tích 0,74m² thuộc thửa đất số 38, tờ bản đồ số 8. Tuy nhiên, phần đất tranh chấp của ông C, bà N đã xây dựng ngoài diện tích được cấp giấy chứng nhận (có hình tam giác). Mặt khác, chiều dài phần đất tại thửa 38 hiện nay có sự chênh lệch là do trước đây giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ ông Nguyễn Hữu T1 đo đạc theo hệ toạ độ HN 72, khi chuyển sang hệ toạ độ hiện nay là VN B thì một phần diện tích theo toạ độ HN 72 thuộc vỉa hè giáp mặt tiền thửa đất. Việc nguyên đơn cho rằng khi tự đo đạc lại thì thửa 38 thiếu diện tích và phần diện tích thiếu là do ông Hứa Mộng L lấn chiếm, trong khi phần đất tranh chấp 28,7m² khi chuyển đổi hệ toạ toạ VN B thì chỉ có 02 cạnh nằm trong thửa 38 (01 cạnh có diện tích 0,56m², 01 cạnh có diện tích 0,18m²) được ngăn cách với đất của nguyên đơn bằng bức tường căn nhà của bị đơn.

Theo kết quả đo đạc chuyển đổi hệ toạ độ VN 2000 thì chiều dài phần đất tại thửa 38 lúc cấp giấy, so với hiện nay có sự chênh lệch do chuyển đổi hệ toạ

8

độ. Theo sơ đồ hiện trạng thửa đất đã chuyển đổi hệ toạ độ ngày 05/11/2024 thì phần đất thực tế ông C, bà N sử dụng không tranh chấp là 230,4m², cộng với diện tích phần vỉa hè nằm trong diện tích đo đạc theo hệ toạ HN 72 là thừa diện tích so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp. Vì vậy, việc nguyên đơn cho rằng phần đất nguyên đơn tự đo lại thiếu 28,7m² là do bị đơn lấn chiếm và yêu cầu bị đơn trả lại đất là không có căn cứ. Bản án sơ thẩm tuyên là phù hợp quy định pháp luật.

  1. Xét kháng cáo của nguyên đơn nhận thấy: Nguyên đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ gì mới chứng minh cho yêu cầu nên không chấp nhận.

  2. Về chi phí tố tụng: Chi phí thẩm định, định giá là 19.350.000 đồng, nguyên đơn phải chịu, nguyên đơn đã thực hiện xong.

  3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí đối với yêu cầu không được Toà án chấp nhận là 300.000 đồng.

  4. Về án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự phúc thẩm. Chuyển tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0000383 ngày 17/5/2025 thành tiền án phí tại Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ. Nguyên đơn đã nộp xong.

  5. Xét quan điểm của Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận toàn bộ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ.

Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 91, Điều 157, Điều 158, Điều 164, Điều 165, Khoản 1, Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Dương Minh C, bà Vương Ái N. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Dương Minh C và bà Vương Ái N về việc yêu cầu ông Hứa Mộng L tháo dỡ công trình xây dựng trên đất là một phần căn nhà trệt, kết cấu: Nền lát gạch men, vách tường gạch (ốp gạch men cao 1,5m), khung cột sắt, đà bê tông cốt thép, mái lợp tole,

9

để trả lại cho ông Dương Minh C, bà Vương Ái N phần đất diện tích diện tích 28,7m², có tứ cận theo các điểm 8,9,10,11,12,13 của Sơ đồ hiện trạng thửa đất (Sơ đồ kèm theo bản án).

  1. Về chi phí tố tụng: Chi phí đo đạc, thẩm định, định giá là 19.350.000 đồng, ông Dương Minh C và bà Vương Ái N phải chịu. Ông Dương Minh C và bà Vương Ái N đã thực hiện xong.

    Ông Hứa Mộng L, bà Tăng Thị H và ông Hứa Quốc T không phải chịu chi phí đo đạc, thẩm định, định giá.

  2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    Ông Dương Minh C và bà Vương Ái N phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm. Được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí ông C, bà N đã nộp 500.000 đồng theo Biên lai tạm ứng án phí số 0001412 ngày 10/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng. Như vậy ông Dương Minh C và bà Vương Ái N được nhận lại 200.000 đồng án phí sơ thẩm.

    Ông Hứa Mộng L, bà Tăng Thị H và ông Hứa Quốc T không phải chịu án phí sơ thẩm.

  3. Về án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự phúc thẩm. Chuyển tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0000383 ngày 15/7/2025 thành tiền án phí tại Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ. Nguyên đơn đã nộp xong.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật thi hành ngay.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền tự thỏa thuận thi hành án; quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND Tp. Cần Thơ;
  • - Tòa án nhân dân Khu vực 5 – Cần Thơ ;
  • - Phòng THADS Khu vực 5 – Cần Thơ;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Hải

10

CÁC THẨM PHÁN

Nguyễn Thị Thùy Trang – Nguyễn Quốc Định

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 723/2025/DS-PT ngày 15/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất bị lấn chiếm

  • Số bản án: 723/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất bị lấn chiếm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 15/12/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông Dương Minh C kiện bị đơn bà Hứa Mộng L đòi lại quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger