Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - hạnh phúc

Bản án số: 71/2025/HNGĐ-PT

Ngày: 16/12/2025

V/v: “Ly hôn; tranh chấp

nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lệ Trang
  • Các Thẩm phán: Bà Đào Thị Kiều Vân
  • Bà Phạm Thị Xuân Đào
  • - Thư ký phiên tòa: Ông Lê Huy Hoàng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
  • - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: bà Lê Hồng Thư - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 12 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 168/2025/TLPT-HNGĐ ngày 17 tháng 11 năm 2025 về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”. Do bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số: 78/2025/HNGĐ-ST ngày 11-9-2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Đồng Nai bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 70/2025/QĐ-PT ngày 25 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Khuất Thị H, sinh năm 1985.
  • Địa chỉ: Căn hộ B chung cư N, phường V, thành phố Hồ Chí Minh. (SĐT: 0326.791.xxx)
  • - Bị đơn: Ông Đặng Quang C, sinh năm 1972. (SĐT: 0944.168.xxx)
  • Địa chỉ: Tổ A, ấp G, xã L, tỉnh Đồng Nai
  • Người kháng cáo: Bị đơn ông Đặng Quang C

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Bản án sơ thẩm:

* Theo đơn khởi kiện ngày 28/4/2025 và các lời khai khác có tại hồ sơ và tại phiên tòa nguyên đơn bà Khuất Thị H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Đặng Quang C chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, thành phố Hà Nội vào năm 2006. Vợ chồng sinh sống, làm việc tại xã T, huyện B đến năm 2015 thì bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông C thường chửi bới, xúc phạm bà, ngoài ra ông C còn thường xuyên bài bạc, cá độ bóng đá dẫn đến việc nợ nần. Từ tháng 4/2016 bà đi xuất khẩu lao động ở Nhật Bản thì ông C cùng hai con chung đi vào Đồng Nai để sinh sống và làm việc. Tháng 4/2018 bà về lại Việt Nam nhưng cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc nên năm 2018 bà đã nộp đơn ly hôn ông C tại Tòa án nhân dân huyện Ba Vì, Thành phố Hà Nội nhưng sau đó bà rút đơn khởi kiện. Năm 2019 đến năm 2023 bà đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc. Nhận thấy, giữa bà và ông C mâu thuẫn trầm trọng, không quan tâm chăm sóc lẫn nhau, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc và đã có thời gian ly thân kéo dài từ tháng 4/2016 cho đến nay. Tại phiên tòa ông C đề nghị cho ông thời gian từ đây cho đến hết tháng 12/2025 để ông có thời gian, trao đổi, bàn bạc với bà và các con nhưng bà không muốn tiếp tục kéo dài cuộc hôn nhân với ông C nữa. Bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông C.

Về con chung: Bà và ông C chung sống có 02 con chung là cháu Đặng Phương T, sinh ngày 12/11/2007 và cháu Đặng Hoàng Q, sinh ngày 25/9/2010. Hiện cháu T đang sống với bà, cháu Q đang sống với ông C. Ly hôn bà có nguyện vọng được nuôi dưỡng cháu T, giao cháu Q cho ông C nuôi dưỡng, tạm thời không ai cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: bà H khai không có nên không yêu cầu

* Tại biên bản hòa giải ngày 25/8/2025 và tại phiên tòa, bị đơn ông Đặng Quang C trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Về thời gian kết hôn và đăng ký kết hôn như bà H trình bày là đúng. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống bình thường, cũng không có gì mâu thuẫn. Việc bà H khai ông chửi bới, xúc phạm bà H là không đúng, vì từ năm 2016 bà H đi xuất khẩu lao động ở N, sau đó bà H xuất khẩu lao động sang Hàn Quốc và về Việt Nam năm 2023. Ông và bà H không chung sống với nhau từ năm 2016 cho đến nay, không gặp nhau nên không có chuyện ông chửi bới bà H. Ông thừa nhận do chênh lệch tuổi tác nên vợ chồng bất đồng quan điểm sống là đúng nhưng chưa phát sinh mâu thuẫn. Theo ông được biết, trong thời gian bà H đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài có quan hệ với người đàn ông khác. Từ lúc bà H đi xuất khẩu lao động về Việt Nam cho đến nay thì vợ chồng không có sống chung với nhau ngày nào. Tuy nhiên, do tính chất công việc ông chưa sắp xếp được để vợ chồng, con cái ngồi lại trao đổi với nhau nên ông xin tạo cơ hội cho ông đến tháng 12/2025 nếu vợ chồng con cái trao đổi mà không hàn gắn được thì ông sẽ đồng thuận ly hôn với bà H.

Về con chung: ông và bà H có 02 con chung là cháu Đặng Phương T, sinh ngày 12/11/2007 và cháu Đặng Hoàng Q, sinh ngày 25/9/2010. Hiện nay cháu T đang sống với bà H, cháu Q đang sống với ông. Ông mong muốn vợ chồng được hàn gắn đoàn tụ. Ông không đồng ý ly hôn với bà H, nhưng nếu ly hôn bà H có nguyện vọng được nuôi dưỡng cháu T và giao cháu Q cho ông nuôi dưỡng, tạm thời không ai phải cấp dưỡng nuôi con thì ông đồng ý.

Về tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại Bản án sơ thẩm số 78/2025/HNGĐ-ST ngày 11-9-2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Đồng Nai đã:

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Khuất Thị H về việc: “Tranh chấp ly hôn” với bị đơn ông Đặng Quang C.
    • - Về quan hệ hôn nhân: Bà Khuất Thị H được ly hôn với ông Đặng Quang C.
    • - Về con chung: Giao cháu Đặng Phương T, sinh ngày 12/11/2007 cho bà Khuất Thị H nuôi dưỡng; giao cháu Đặng Hoàng Q, sinh ngày 25/9/2010 ông cho Đặng Quang C nuôi dưỡng; tạm thời không ai phải cấp dưỡng nuôi con.
    • Bà H và ông C đều có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, khi cần thiết, các bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.
    • - Về tài sản chung, nợ chung: bà H, ông C khai không có nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

Ngoài ra bản án còn tuyên về nghĩa vụ thi hành án, án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 23/9/2025, bị đơn ông Đặng Quang C kháng cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai phát biểu quan điểm:

  • - Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án ở cấp phúc thẩm của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự tham gia phiên tòa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.
  • - Về nội dung kháng cáo:
  • - Về quan hệ hôn nhân: Bà Khuất Thị H và ông Đặng Quang C tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện B, thành phố Hà Nội và đã được cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 10/11/2006. Quá trình chung sống do mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng nên bà H làm đơn xin ly hôn, ông C không đồng ý, ông mong muốn có cơ hội để vợ chồng hàn gắn đoàn tụ cho đến tháng 12/2025 mà không thể hàn gắn được thì ông bà sẽ làm thủ tục thuận tình ly hôn. Tuy nhiên, lời đề nghị của ông C không được bà H chấp nhận. Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn bà Khuất Thị H là có căn cứ pháp luật, vì bà H và ông C đã có thời gian ly thân kéo dài từ tháng 4/2016 đến nay gần 10 năm, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, năm 2018 bà H đã từng nộp đơn ly hôn nhưng rút đơn để vợ chồng có thêm cơ hội đoàn tụ, nhưng tình cảm vợ chồng cũng không cải thiện. Về quan hệ tình cảm, ông C kháng cáo cho rằng toà án không xem xét đầy đủ tình cảm vợ chồng vẫn còn, ông bà chỉ gặp mâu thuẫn do áp lực công việc. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, ông C đồng ý với yêu cầu ly hôn của bà H, nhưng ông không rút đơn kháng cáo nên ghi nhận ý kiến này.
  • - Về con chung: Bà H, ông C khai có 02 con chung là cháu Đặng Phương T, sinh ngày 12/11/2007 và cháu Đặng Hoàng Q, sinh ngày 25/9/2010. Hiện cháu T đang sống cùng bà H, cháu Q đang sống cùng ông C. Các bên không tranh chấp, bà H có nguyện vọng tiếp tục nuôi cháu T, giao cháu Q cho ông C nuôi, tạm thời không ai phải cấp dưỡng, ông C đồng ý. Xét thấy Toà án cấp sơ thẩm giải quyết quan hệ con chung như trên là đảm bảo lợi ích về mọi mặt của con, phù hợp nguyện vọng các con, phù hợp theo Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình 2014. Ông C kháng cáo việc cho rằng cháu T ở với mẹ chưa được xem xét lợi ích tốt nhất vì ảnh hưởng đến sự trung thực, gian dối từ người mẹ sẽ làm cháu T phát triển lệch lạc không tốt cho cuộc sống tương lai. Cụ thể theo như ý kiến trong đơn kháng cáo ông C trình bày bà H đã vu khống ông lăng mạ, chửi bới, gian dối,...nhưng ông không cung cấp chứng cứ nào về lời trình bày của mình. Xét thấy việc toà án sơ thẩm giao cháu T cho bà H nuôi dưỡng là phù hợp nguyện vọng của cháu T, phù hợp khoản 2 điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.
  • - Về tài sản chung, nợ chung: bà H và ông C trình bày không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Toà án cấp sơ thẩm không xem xét là đúng.

Từ nhận định trên xét thấy ông C kháng cáo yêu cầu huỷ bản án sơ thẩm là không có căn cứ chấp nhận, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục kháng cáo: Căn cứ khoản 1 Điều 273 BLTTDS thì kháng cáo của ông C trong hạn luật định, đương sự đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm theo quy định pháp luật do đó kháng cáo được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Xét nội dung kháng cáo: bà H và ông C kết hôn với nhau vào năm 2006. Quá trình chung sống, hai vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. theo trình bày của bà H thì nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn là do ông C thường chửi bới, xúc phạm bà, ngoài ra ông C còn thường xuyên bài bạc, cá độ bóng đá dẫn đến việc nợ nần. Còn theo trình bày của ông C thì do chênh lệch tuổi tác nên vợ chồng bất đồng quan điểm sống. Mặt khác, trong thời gian bà H đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài thì bà có quan hệ với người đàn ông khác. Mặc dù, cả 2 đều không có chứng cứ chứng minh những điều mình trình bày. Tuy nhiên, bà H và ông C đều xác nhận hai vợ chồng đã ly thân với nhau từ năm 2016 đến nay, không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Bản thân bà H cũng đã từng nộp đơn ly hôn vào năm 2018 nhưng sau đó đã rút đơn để vợ chồng đoàn tụ. Xét thấy, vợ chồng bà H và ông C ly thân đã lâu, mục đích hôn nhân không đạt được, nay bà H kiên quyết ly hôn, khả năng đoàn tụ là không có nên Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận đơn xin ly hôn của bà H là có cơ sở.

Về con chung: ông C cho rằng giao cháu T1 ở với mẹ là không xem xét đến lợi ích tốt nhất cho con vì ảnh hưởng từ sự không trung thực, gian dối từ người mẹ sẽ làm cháu T1 phát triển lệch lạc, không tốt cho tương lai. Những lời trình bày như trên của ông C là không có căn cứ chứng minh. Cháu T1 cũng có nguyện vọng ở với mẹ sau khi cha mẹ ly hôn. mặt khác, cháu T1 hiện nay cũng đã tròn 18 tuổi nên kháng cáo của ông C về việc xin sửa bản án sơ thẩm về những lý do như trên là không có căn cứ và hoàn toàn không cần thiết.

Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Đặng Quang C xác định: sau khi nghe trình bày của bà H tại phiên tòa ngày hôm nay (về việc bà H kiên quyết muốn xin ly hôn với ông) thì ông đồng ý ly hôn với bà H cũng như thống nhất với các yêu cầu khác của bà H, nhưng ông không rút đơn kháng cáo. Hội đồng xét xử ghi nhận ý kiến của các đương sự.

[3] Về án phí:

  • • Án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên ông Đặng Quang C phải chịu án phí phúc thẩm.

[4] Về quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tỉnh Đồng Nai phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1, Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Đặng Quang C. Giữ nguyên Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 78/2025/HNGĐ-ST ngày 11-9-2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Đồng Nai

- Căn cứ Điều 9, Điều 11 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000; Điều 56, 81, 82, 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Khuất Thị H về việc: “Tranh chấp ly hôn” với bị đơn ông Đặng Quang C.
    • - Về quan hệ hôn nhân: Bà Khuất Thị H được ly hôn với ông Đặng Quang C.
    • - Về con chung: Giao cháu Đặng Phương T, sinh ngày 12/11/2007 cho bà Khuất Thị H nuôi dưỡng; giao cháu Đặng Hoàng Q, sinh ngày 25/9/2010 ông cho Đặng Quang C nuôi dưỡng; tạm thời không ai phải cấp dưỡng nuôi con.
    • Bà H và ông C đều có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, khi cần thiết, các bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.
    • - Về tài sản chung, nợ chung: bà H, ông C khai không có nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
  2. Về án phí:
    • - Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Đặng Quang C phải nộp 300.000₫ (ba trăm ngàn) đồng tiền án phí dân sự phúc thẩm, được trừ vào số tiền 300.000₫ (ba trăm ngàn) đồng do ông C đã nộp tại biên lai số 0001717 ngày 25/9/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND T.Đồng Nai;
  • - TAND KV2 - Đồng Nai.
  • - Phòng THADS Khu vực 2 - Đồng Nai
  • - UBND xã Suối Hai – TP Hà Nội
  • - Đương sự;
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Lệ Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 71/2025/HNGĐ-PT ngày 16/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về ly hôn; tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 71/2025/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn; tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 16/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Đặng Quang C. Giữ nguyên Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 78/2025/HNGĐ-ST ngày 11-9-2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Đồng Nai
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger