Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 10 - HẢI PHÒNG

Bản án số: 69/2025/HS-ST

Ngày: 04-12-2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - HẢI PHÒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Hà.

  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Chỉ và ông Nguyễn Văn Dũng.

  • - Thư ký phiên toà: Ông Vũ Quang Linh - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 10 - Hải Phòng.

  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Hải Phòng tham gia phiên toà: ông Tăng Bá Thắng - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 12 năm 2025, tại Hội trường xét xử trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 10 - Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 55/2025/TLST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 68/2025/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2025 và Thông báo thay đổi thời gian xét xử số 68 ngày 25/11/2025 đối với bị cáo:

Sần Mìn Đ, sinh ngày 06/6/2007 tại xã N, tỉnh Tuyên Quang.

Nơi cư trú: thôn T, xã N, tỉnh Tuyên Quang; chỗ ở: khu Đ, phường T, thành phố Hải Phòng; số căn cước công dân: [...]; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 8/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Sần K và bà Phản Thị M;

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03/8/2025 đến ngày 06/8/2025 chuyển tạm giam tại trại tạm giam số 2 Công an thành phố H. Có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo: Bà Lê Thị Thu H- Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố H. Có mặt.

- Người làm chứng: anh Tụ Văn G, chị Thèn Thị T (đều vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 01/8/2025, Sần M đăng nhập vào mạng xã hội facebook tìm kiếm và liên hệ với một người đàn ông tự giới thiệu tên là T1 (không rõ lai lịch). Người này nói có khả năng tìm việc làm cho Đ và hẹn 14 giờ ngày 03/8/2025 sẽ gặp Đ tại khu vực chân cầu G thuộc phường Á, thành phố Hải Phòng để trao đổi, thống nhất công việc. Khoảng 14 giờ ngày 03/8/2025, Đ mượn xe máy loại Airblade, biển số 23AX-037.25 mượn của bạn là anh Tụ Văn G và đi đến khu vực chân cầu G để gặp T1. Đ đứng đợi một lúc sau thì T1 đi xe taxi và một người đàn ông khác không rõ lai lịch điều khiển xe máy màu đỏ không rõ biển số đến. T1 bảo Đ đi theo T1 để lấy hàng chở cho khách. Đ điều khiển xe máy đi theo xe taxi chở T1, người đàn ông điều khiển xe máy màu đỏ cũng đi theo. Khi đi được khoảng 09km, T1 xuống xe taxi bảo Đ và người đàn ông đi xe máy màu đỏ chờ ở đây một lát sẽ có người đem pháo nổ ra giao bán với giá 1.000.000 đồng/hộp loại 36 quả. Tại khu vực ga P đã có người đặt mua 05 hộp pháo nổ với giá 1.500.000 đồng/hộp. T1 bảo Đ cùng người đàn ông điều khiển xe máy màu đỏ đi đến ga P bán pháo, lợi nhuận sẽ chia đều cho 03 người, Đ đồng ý. Lúc này, T1 đưa cho người đàn ông đi xe máy màu đỏ số tiền 1.500.000 đồng để tạm ứng trả tiền lấy pháo nổ, người này cầm tiền đưa cho Đ. Sau đó, T1 lên xe taxi đi đâu không rõ. Khoảng 10 phút sau có một người đàn ông không rõ lai lịch đem theo 01 thùng bìa cát tông chứa 03 túi nilon màu đen đi đến nói với Đ là bên trong có 05 hộp pháo nổ. Đ đưa cho người này số tiền 1.500.000 đồng rồi để thùng pháo lên yên xe máy biển số 23AX-037.25 và chằng buộc lại. Sau đó, Đ điều khiển xe máy chở pháo nổ cùng người đàn ông điều khiển xe máy màu đỏ đi đến ga P thuộc địa phận thôn T, xã P, thành phố Hải Phòng để giao bán pháo. Khoảng 17 giờ cùng ngày, tại khu vực cổng ga P, khi Đ đang dừng xe máy chờ người đến mua pháo thì bị Tổ công tác thuộc Công an xã P kiểm tra. Lúc này, người đàn ông đi xe máy màu đỏ phóng xe bỏ chạy thoát. Lực lượng công an thu giữ trên yên xe máy biển số 23AX-037.25 một thùng bìa cát tông bên trong có 03 túi nilon màu đen đựng 05 khối hình hộp, kích thước (14 x 14 x 15)cm, vỏ bọc giấy màu, bên trong mỗi khối hộp có 36 vật hình trụ tròn được liên kết với nhau và có gắn 01 sợi dây dẫn cháy màu xanh. Đ khai nhận đó là pháo nổ, đang chờ người đến mua để bán. Ngoài ra, lực lượng công an còn quản lý của Đ chiếc xe máy biển số 23AX-037.25 và 01 điện thoại di động Iphone 7, lắp 01 sim.

Tại bản Kết luận giám định số 2018/KL-KTHS ngày 05/8/2025 của Phòng K Công an thành phố H kết luận: 05 khối hình hộp, kích thước (14 x 14 x 15)cm, vỏ bằng giấy nhiều màu sắc, bên trong mỗi khối có 36 ống hình trụ tròn được liên kết với nhau và có gắn 01 sợi dây dẫn cháy màu xanh gửi giám định là pháo nổ, loại pháo hoa nổ; khi đốt hoặc kích thích, pháo trong các ống bay cao liên tiếp, gây ra tiếng rít, tiếng nổ và hiệu ứng sắc màu trong không gian; tổng khối lượng pháo là 7,590kg. H1 lại mẫu vật gửi giám định gồm 4,505kg pháo.

Tại Cáo trạng số: 09/CT-VKSKV10 ngày 28/10/2025, Viện kiểm sát nhân dân (viết tắt là VKSND) khu vực 10 - Hải Phòng truy tố bị cáo Sần Mìn Đ về tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 190 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng và xin được hưởng mức án thấp nhất. Người bào chữa cho bị cáo đề nghị xét xử bị cáo mức hình phạt từ 1 năm tù đến 1 năm 3 tháng tù.

Đại diện VKSND khu vực 10 - Hải Phòng giữ nguyên quan điểm như đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Sần Mìn Đ phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.

Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm b khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử phạt bị cáo Sần Mìn Đ từ 1 năm 2 tháng tù đến 1 năm 5 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 03/8/2025.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng.

Về xử lý vật chứng: trả lại cho bị cáo 1 điện thoại di động Iphone 7, lắp 1 sim số 0345.286.822.

Về án phí: Bị cáo được miễn 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai của bị cáo Sần Mìn Đ tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 17 giờ ngày 03/8/2025, tại khu vực cổng ga P thuộc thôn T, xã P, thành phố Hải Phòng, Sần M cất giấu trái phép 7,590kg pháo hoa nổ, đang chờ người đến mua để bán thì bị Tổ công tác thuộc Công an xã P phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

[3] Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được pháo là hàng cấm, việc buôn bán là trái pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế, xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà nước trong quản lý hàng cấm, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an ninh trên địa bàn nên hành vi của bị cáo đã phạm tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 của Bộ luật hình sự. Vì vậy, VKSND khu vực 10 - Hải Phòng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3.1]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[3.2]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: tại quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

[3.3]. Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, HĐXX nhận thấy cần cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định để giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội và mới đủ tác dụng trong việc đấu tranh phòng ngừa chung loại tội phạm này.

[4]. Về hình phạt bổ sung: bị cáo không nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5.1]. Trong vụ án này, tài liệu điều tra không xác định được người liên hệ đưa tiền bảo Đ nhận pháo nổ đem bán; người bán pháo nổ cho Đ và người điều khiển xe máy màu đỏ theo Đ đi bán pháo nổ là ai, ở đâu. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H không đủ căn cứ để xử lý.

[5.2]. Anh Tụ Văn G cho Đ mượn xe máy nhưng không biết Đ sử dụng vào việc phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H không đặt ra việc xử lý và ngày 23/9/2025, đã trả lại chiếc xe máy biển số 23AX-037.25 cho chủ sở hữu.

[6]. Về xử lý vật chứng:

[6.1]. 1 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 kèm theo sim là tài sản của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.

[6.2]. Ngày 21/8/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã tiến hành tiêu hủy số pháo nổ là vật chứng được hoàn lại sau giám định theo quy định.

[7]. Về án phí: bị cáo bị kết án nhưng là người người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 190, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm b khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

  1. Tuyên bố: bị cáo Sần Mìn Đ phạm tội “Buôn bán hàng cấm”
  2. Xử phạt bị cáo Sần Mìn Đ 1 (một) năm 3 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 03/8/2025.
  3. Về xử lý vật chứng: trả lại cho bị cáo Sần Mìn Đ 1 điện thoại di động Iphone 7 lắp sim số 0345.286.822. (Đặc điểm cụ thể của vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 04/11/2025 của Cơ quan CSĐT- Công an thành phố H và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 10-THADS thành phố Hải Phòng)
  4. Về án phí: bị cáo Sần Mìn Đ được miễn 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP. Hải Phòng;
  • - VKSND khu vực 10 - Hải Phòng;
  • - Cơ quan CSĐT- Công an TP. Hải Phòng;
  • - Cơ quan THAHS – Công an TP. Hải Phòng;
  • - Phòng Hồ sơ nghiệp vụ- Công an TP. Hải Phòng;
  • - Phòng THADS khu vực 10- Hải Phòng;
  • - Bị cáo;
  • - Người bào chữa cho bị cáo;
  • - Trại tạm giam số 2- Công an TP. Hải Phòng;
  • - Lưu: Tòa án, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Ngọc Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 69/2025/HS-ST ngày 04/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - HẢI PHÒNG về buôn bán hàng cấm

  • Số bản án: 69/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Buôn bán hàng cấm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Sần Mìn Đ buôn bán pháo nổ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger