|
TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 686/2025/HS-PT Ngày 26 tháng 12 năm 2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA PHÚC THẨM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Minh Thịnh;
Các Thẩm phán: Ông Cao Văn Tám
Ông Chung Văn Kết
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Khánh – Thư ký Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm Viện kiểm sát nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa:
Ông Bùi Như L - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ; Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 380/2025/TLPT-HS ngày 21 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo Nguyễn Hoàng T; Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 53/2025/HS-ST ngày 15 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân Thành phố Cần Thơ.
Bị cáo có kháng cáo;
Họ và tên: Nguyễn Hoàng T, sinh ngày 20/4/1982 tại Cần Thơ. Nơi cư trú: không có (do bị xóa nơi đăng ký thường trú tại số C, khu V, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ - nay là phường T, thành phố Cần Thơ). Giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: không; con ông Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1954 (sống) và bà Phan Thị M, sinh năm 1959 (sống); chị, em ruột có 03 người, lớn nhất sinh năm 1980, nhỏ nhất sinh năm 1985; có vợ là Nguyễn Thị Bích N, sinh năm 1981 (đã ly hôn); con có 02 người, lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2018. Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/12/2024 cho đến nay và có mặt tại phiên tòa.
2
* Người bào chữa cho bị cáo: luật sư Huỳnh Thị Ngọc N1, thuộc Đoàn luật sư thành phố C. Có mặt
Người bị hại: Ông Lâm Minh C. Có văn bản xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Hoàng T có mối quan hệ quen biết với vợ chồng ông Lam Minh C1 và bà Nguyễn Thúy L1 thông qua việc mua bán bất động sản với nhau từ năm 2012. Vào năm 2021, trong quá trình làm ăn thua lỗ, thiếu tiền của nhiều người nên T nảy sinh chiếm đoạt tiền của ông C1 nên đưa ra thông tin gian dối về việc Công ty Cổ phần Đ triển khai dự án khu dân cư tại C, khu V Sông H, phường B, thành phố Cần Thơ rồi kêu gọi ông C1 hùn tiền để mua phần đất vườn của người dân bị ảnh hưởng để được cấp đất ở khi triển khai thu hồi thực hiện dự án có giá trị cao hơn, bán lại kiếm lời. Ngoài ra, T còn đưa ông C1 đến xem thửa đất (không xác định chủ đất) tại C, khu vực C Sông H, phường B, thành phố Cần Thơ rồi đưa giá trị từ 1.100.000.000 đồng đến 1.200.000.000 đồng/1.000m² và khi bị thu hồi sẽ được cấp 200m² đất ở/1.000m² đất trồng cây lâu năm, rồi kêu gọi ông C1 hùn mua 2000m² với số tiền 2.300.000.000 đồng (hai tỷ ba trăm triệu đồng), ông C1 đồng ý. Sau đó, bà Nguyễn Thúy L1 đã sử dụng số tài khoản 106000922053 mở tại Ngân hàng TMCP C2 (V1) chuyển 02 (hai) lần vào số tài khoản 0111000155971 của Nguyễn Hoàng T mở tại Ngân hàng TMCP N2 (V2) với tổng số tiền 2.100.000.000 đồng (hai tỷ một trăm triệu đồng), cụ thể: ngày 28/01/2021 chuyển 400.000.000 đồng (bốn trăm triệu đồng), ngày 11/3/2021 chuyển 1.700.000.000 đồng (một tỷ bảy trăm triệu đồng). Ngoài ra, vào đầu tháng 02/2021 thì T còn trực tiếp đến gặp bà L1 để nhận tiền mặt số tiền 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng). Như vậy, tổng số tiền mà T đã nhận của vợ chồng ông C1, bà L1 là 2.300.000.000 đồng (hai tỷ ba trăm triệu đồng) (bút lục 60, 61 - 62, 77, 381, 383, 454 – 457).
Sau khi chuyển tiền hùn mua đất, ông C1 nhiều lần yêu cầu T cung cấp các tài liệu liên quan đến việc hùn mua đất nhưng T đưa ra nhiều lý do, hứa hẹn, né tránh không gặp mặt nên ông C1 tố giác hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của Thuấn tại Cơ quan điều tra (bút lục 01 – 02).
Quá trình điều tra, T thừa nhận do làm ăn thua lỗ dẫn đến thiếu nợ của nhiều người và cần tiền chi xài cá nhân nên đưa ra thông tin gian dối về việc kêu gọi ông C1 hùn tiền để mua đất của hộ dân tại C, khu vực C Sông H, phường B, thành phố Cần Thơ rồi chiếm đoạt số tiền 2.300.000.000 đồng (hai tỷ ba trăm triệu đồng) để trả nợ, cho người khác mượn và chi xài cá nhân
3
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 53/2025/HS-ST ngày 15 tháng 9 năm 2025, Tòa án nhân dân Thành phố Cần Thơ đã quyết định:
- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hoàng T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".
- Áp dụng: điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hoàng T 12 (mười hai) năm tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 09/12/2024.
Ngoài ra, Toà án cấp sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, án phí và quyền kháng cáo vụ án theo luật định.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 24/9/2025 bị cáo Nguyễn Hoàng T có đơn kháng cáo kêu oan với nội dung; việc mua đất giữa bị cáo và ông Lâm Minh C là có thật, có hợp đồng đặt cọc và có đất trên thực tế, số tiền ông C chuyển cho bị cáo là 2,1 tỷ đồng chứ không phải 2,3 tỷ đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm;
Bị cáo Nguyễn Hoàng T giữ nguyên yêu cầu kháng cáo như nêu trên.
Đại diện Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm Viện kiểm sát nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
Căn cứ vào chứng cứ có tại hồ sơ và được xét hỏi công khai tại phiên tòa thì có đủ cơ sở để kết luận bị cáo T phạm tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự như án sơ thẩm tuyên là có căn cứ, đúng pháp luật.
Bị cáo cho rằng có đất bán, có ký hợp đồng đặt cọc là không đúng. Đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
Luật sư bào chữa cho bị cáo phát biểu: Về tội danh thì luật sư không tranh luận, tuy nhiên về mức hình phạt thì đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo vì mức án 12 năm tù là quá nặng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi phạm tội: Do cần tiền trả nợ và tiêu xài cá nhân, bị cáo đã lợi dụng mối quan hệ quen biết và sự tin tưởng của bị hại để đưa ra thông tin gian dối về việc Công ty Cổ phần Đ triển khai dự án khu dân cư tại C, khu V Sông H, phường B, thành phố Cần Thơ rồi kêu gọi bị hại hùn tiền để mua trước phần đất vườn của những hộ dân bị ảnh hưởng rồi đợi dự án được triển khai thực hiện sẽ có
4
giá trị cao hơn và bán lại kiếm lời. Ngoài ra, bị cáo còn đưa bị hại đến xem đất rồi đưa ra giá trị từ 1.100.000.000 đồng đến 1.200.000.000 đồng/1.000m² và hứa hẹn khi bị thu hồi sẽ được cấp 200m² đất ở/1.000m² đất trồng cây lâu năm và kêu gọi bị hại hùn mua 2000m² với số tiền 2.300.000.000 đồng (hai tỷ ba trăm triệu đồng). Tin tưởng vào thông tin mà bị cáo đưa ra, bị hại đồng ý và nhiều lần chuyển khoản, giao tiền mặt tổng số tiền 2.300.000.000 đồng cho bị cáo.
[2] Hành vi nêu trên của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ, đã cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Do bị cáo chiếm đoạt số tiền 2,3 tỷ đồng nên Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết định khung tăng nặng “chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Bị cáo T kháng cáo kêu oan cho rằng không nhằm mục đích chiếm đoạt tiền của bị hại vì việc mua bán là có đất thật, có hợp đồng mua bán và số tiền bị cáo nhận của bị hại chỉ là 2,1 tỷ đồng, không phải 2,3 tỷ đồng như án sơ thẩm quy kết. Hội đồng xét xử phúc thẩm, thấy rằng: Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an Thành phố C đã làm rõ sau khi đưa ra thông tin gian dối với bị hại Chánh về việc nhận chuyển nhượng đất với Công ty Đ và bị hại chuyển tiền cho bị cáo thì bị cáo đã rút ra trả nợ và tiêu xài cá nhân hết mà không có bất cứ giao dịch gì với Công ty Đ liên quan đến việc thỏa thuận mua bán, bồi thường đất của khu dân cư Văn Phú C, cũng như không có giao dịch gì với người dân bị ảnh hưởng dự án. Đồng thời bị cáo sử dụng số tiền 300 triệu đồng tiền cá nhân của bị cáo để hùn mua đất chung với ông D, L2, V với diện tích 2.588m2 không liên quan đến dự án C và bị cáo cũng không báo cho ông C biết, đồng thời ngày trong tháng 7/2021 bị cáo đã rút vốn ra và cũng không trả tiền cho ông C. Quá trình điều tra cũng đã xác định bị cáo nhận chuyển khoản nhiều lần từ ông C số tiền 2,1 tỷ và nhận tiền mặt 200 triệu đồng. Do đó kháng cáo kêu oan của bị cáo là không có căn cứ chấp nhận.
[4] Khi quyết định hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo, xem xét, đánh giá về nhân thân của bị cáo, tính chất hành vi, hậu quả của tội phạm, từ đó xử phạt bị cáo mức án 12 năm tù là khởi điểm của khung hình phạt là có căn cứ.
[5] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát xét xử phúc thẩm đề nghị bác kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên Bản án sơ thẩm là có căn cứ chấp nhận.
[6] Quan điểm của luật sư bào chữa cho bị cáo đề nghị chấp nhận kháng cáo của bị cáo là không có căn cứ nên không chấp nhận.
5
[7] Về án phí: Bị cáo T không được chấp nhận kháng cáo nên phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm theo luật định.
[8] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo, không có kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hoàng T.
Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 53/2025/HS-ST ngày 15/9/2025 của Tòa án nhân dân Thành phố Cần Thơ về hình phạt đối với bị cáo T.
- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hoàng T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".
- Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hoàng T 12 (mười hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/12/2024.
Bị cáo Nguyễn Hoàng T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Minh Thịnh |
6
Bản án số 686/2025/HS-PT ngày 26/12/2025 của TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Số bản án: 686/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 53/2025/HS-ST ngày 15 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân Thành phố Cần Thơ.
