|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 – AN GIANG TỈNH AN GIANG Bản án số: 64/2025/HS-ST Ngày 04 tháng 12 năm 2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thảo Ngân.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Hữu Danh và ông Trương Văn Hăng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Hà Thanh Ngọc - là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 15, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Duong Chí Cường - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 15 (cơ sở B), tỉnh An Giang xét xử vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 52/2025/TLST-HS ngày 03 tháng 11 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 72/2025/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:
Trương Văn T, sinh năm 1996; Tên gọi khác: Tý C. Nơi thường trú: Không xác định. Nơi ở hiện nay: ấp A, xã K, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 03/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Đạo Phật; con ông Trương Văn Bình S năm 1968 và bà Trần Thị H sinh năm 1969; chưa vợ con, anh chị em ruột có 03 người, bị cáo là người thứ hai.
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/7/2025 đến nay, tại Trại tạm giam số 1 – Công an tỉnh A (có mặt).
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án: Huỳnh Văn Đ, sinh năm 2000 (Vắng mặt); Ngô Thị X, sinh năm 1949 (Vắng mặt); Trương Văn B, sinh năm 1968 – bà Trần Thị H, sinh năm 1969 (Có mặt).
Người làm chứng: Lê Văn Ú; Phạm Thị N; Phạm Thị G – Vắng mặt.
Tất cả cùng cư trú: ấp A, xã K, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 09/7/2025, Công an xã K nhận được tin báo của quần chúng nhân dân qua điện thoại, có đối tượng nghi vấn hoạt động trái phép chất ma túy tại khu vực thuộc tổ C, ấp A, xã K, tỉnh An Giang. Khi lực lượng tiến hành tuần tra, phát hiện Trương Văn T có biểu hiện nghi vấn, thấy lực lượng T bỏ chạy vào nhà của Huỳnh Văn Đ, lực lượng truy đuổi và khống chế; kiểm tra phát hiện bên trong túi quần phía trước bên trái của T có 01 bọc nilon một đầu có rãnh khóa, bên trong chứa tinh thể màu trắng (nghi vấn là ma túy) nên lực lượng tiến hành thu giữ.
Qua làm việc Trương Văn T khai nhận: Ngày 09/7/2025, T đi bộ đến bờ sông thuộc ấp A, xã K, tỉnh An Giang bơi xuồng neo đậu của người dân (không biết xuồng của ai) qua bên bờ sông đối diện thuộc Campuchia, gặp người nam tên T1 (không rõ nhân thân) mua 01 bọc ma túy đá, giá 500.000đ, cất giấu vào túi quần phía trước bên trái đang mặc để đem về nhà sử dụng. Sau đó, T bơi xuồng trở về, neo đậu ở vị trí cũ và đi bộ về nhà, thấy lực lượng Công an nên hoảng sợ bỏ chạy và bị phát hiện bắt qua tang như nội dung vụ án đã nêu.
Vật chứng thu giữ: 01 (một) bọc nilon một đầu có rãnh khóa, bên trong chứa tinh thể màu trắng (giám định ma túy, loại Methamphetamine). Được niêm phong trong 01 phong bì ghi vụ số 973/2025 ngày 16/7/2025 (đã chuyển Phòng Thi hành án dân sự khu vực 15 – An Giang)
Tại Kết luận giám định số: 31/KL-KTHS ngày 14/7/2025 của Phòng K - Công an tỉnh A, xác định: Tinh thể màu trắng chứa bên trong bọc nilon được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng: 3,5212gram.
Ngày 17/7/2025, Trương Văn T bị khởi tố, điều tra.
Tại Cáo trạng số: 06/CT-VKSAP ngày 01/11/2025, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15 – An Giang đã truy tố Trương Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trương Văn T khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng Viện kiểm sát truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, vai trò tham gia trong vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trương Văn T từ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng đến 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Áp dụng Điều 47, 48 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, xử lý vật chứng theo quy định.
Bị cáo Trương Văn T không bào chữa và tranh luận gì khác, lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm hòa nhập với xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
- Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Trương Văn T đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của người chứng kiến về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:
Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 09/7/2025, tại tổ C, ấp A, xã K, tỉnh An Giang, Công an xã K tiến hành kiểm tra phát hiện và bắt quả tang bị cáo Trương Văn T đã có hành vi tàng trữ trái phép 01 (một) bọc nilon trong suốt chứa tinh thể màu trắng, được cất giấu trong túi quần phía trước bên trái, loại Methamphetamine, có khối lượng: 3,5212gram, với mục đích sử dụng.
Hành vi của bị cáo Trương Văn T đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, có khung hình phạt tù từ 03 (ba) năm đến 05 (năm) năm.
[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma tuý, gây mất trật tự trị an và an toàn cho xã hội, là nguyên nhân xảy ra nhiều loại tội phạm khác, làm quần chúng nhân dân lên án và bất bình. Do đó, cần xử lý nghiêm minh với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội và nhằm mục đích răn đe, phòng ngừa chung.
[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Bị cáo là người trưởng thành, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật và phải chịu chế tài hình sự nghiêm khắc nhưng vẫn cố ý thực hiện nhằm thỏa mãn nhu cầu về ma túy của bản thân. Tuy bị cáo không có tiền án, tiền sự nhưng bị cáo có nhân thân xấu, đã bị xét xử về tội Trộm cắp tài sản vào năm 2017, tàng trữ trái phép chất ma túy vào năm 2021 đã được xóa án, nay tiếp tục phạm tội. Cho thấy, bị cáo không có tính phục thiện, xem thường tính uy nghiêm của pháp luật. Do đó, cần phải có hình phạt tương xứng với mức độ nghiêm trọng của tội phạm.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo T có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật có phần bị hạn chế. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xét thấy: Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng nhưng hành vi phạm tội của bị cáo thuộc tội phạm nghiêm trọng. Xét mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là tương xứng với tính chất, mức độ tội phạm đã gây ra nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Xét thấy, bị cáo không có nghề nghiệp, tài sản; thu nhập không ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[6] Về vật chứng:
Đối với 01 (một) bọc nilon một đầu có rãnh khóa, bên trong chưa tinh thể màu trắng (giám định ma túy, loại Methamphetamine). Được niêm phong trong 01 (một) phong bì ghi vụ số 973/2025 ngày 16/7/2025, bên trong có vật mẫu còn lại sau giám định là vật chứng và hiện không còn giá trị sử dụng nên tuyên tịch thu tiêu huỷ.
[7] Về các vấn đề khác: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Trương Văn T (Tý C) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2025: Xử phạt bị cáo Trương Văn T 04 (bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 09/7/2025).
Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a và điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) bọc nilon một đầu có rãnh khóa, bên trong chưa tinh thể màu trắng (giám định ma túy, loại Methamphetamine). Được niêm phong trong 01 (một) phong bì ghi vụ số 973/2025 ngày 16/7/2025, bên trong có vật mẫu còn lại sau giám định.
(Đặc điểm theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa Công an xã K với Phòng Thi hành án dân sự khu vực 15 – An Giang ngày 02/12/2025).
Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Trương Văn T phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thảo Ngân |
Bản án số 64/2025/HS-ST ngày 04/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15, TỈNH AN GIANG về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 64/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo T phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
