|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 626/2025/DS-PT Ngày: 17-12-2025 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Hồng
Các Thẩm phán:Bà Nguyễn Thị Thu Hương
Ông Đặng Văn Hùng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Vân Khanh – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Mỹ Phượng - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 398/2025/TLPT-DS ngày 02 tháng 10 năm 2025 về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 01/2025/DS-ST ngày 02 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Vĩnh Long bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 543/2025/QĐ-PT ngày 30 tháng 10 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1996; địa chỉ: ấp P, xã P, tỉnh Vĩnh Long.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn:
- Ông Mai Hoàng T, sinh năm 1997;
- Bà Thái Nguyễn Tường V, sinh năm 1998;
Cùng địa chỉ: ấp P, xã P, tỉnh Vĩnh Long; là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (được ủy quyền theo văn bản ủy quyền ngày 23 tháng 7 năm 2024); bà V vắng mặt, ông T có mặt.
- Bị đơn:
- Ông Thái Minh M1, sinh năm 1993; địa chỉ: Khóm T, phường T, tỉnh Vĩnh Long.
- Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Nguyễn Quyết Q, sinh năm 1990; địa chỉ: Số B, đường P, phường P, tỉnh Vĩnh Long; là người đại diện theo ủy quyền của bị đơn (được ủy quyền theo văn bản ủy quyền ngày 25 tháng 11 năm 2024); có mặt.
- Bà Phan Thị Hồng H, sinh năm 1992; địa chỉ: ấp C, xã C, tỉnh Vĩnh Long; có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Vũ Q1, sinh năm 1984; địa chỉ: ấp P, xã L, tỉnh Vĩnh Long; vắng mặt.
- Bà Nguyễn Ngọc Thảo M, sinh năm 1999; địa chỉ: Ấp P, xã P, tỉnh Vĩnh Long; vắng mặt.
- Người kháng cáo: Bị đơn ông Thái Minh M1 và nguyên đơn Nguyễn Văn Đ
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 31/7/2024, bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn ông Nguyễn Văn Đ có người đại diện là ông Mai Hoàng T và bà Thái Nguyễn Tường V trình bày:
Do quen biết nên ông Thái Minh M1 và vợ là bà Phan Thị Hồng H có vay của ông Đ số tiền nợ gốc là 500.000.000 đồng, mục đích vay là phục vụ nhu cầu thiết yếu của gia đình, khi lập hợp đồng vay chỉ có ông M1 đứng tên, cụ thể các lần vay như sau:
Lần 1 ngày 12/3/2024 ông Đ và ông M1 có đến Văn phòng C để lập Hợp đồng vay tiền, ông Đ cho ông M1 vay số tiền 400.000.000 đồng, lãi suất vay thỏa thuận là 1,67%/tháng, thời hạn vay đến ngày 24/4/2024 thì ông M1 có nghĩa vụ thanh toán nợ gốc và lãi cho ông Đ.
Lần 2 ngày 26/4/2024 ông M1 vay thêm của ông Đ số tiền 100.000.000 đồng, có đến Văn phòng C để lập Hợp đồng vay tiền, lãi suất vay thỏa thuận là 1,67%/tháng, thời hạn vay là 01 tháng đến ngày 26/5/2024 thì ông M1 có nghĩa vụ thanh toán nợ gốc và lãi cho ông Đ.
Đến nay đã hết thời hạn vay nhưng ông M1 vẫn không trả cho ông Đ bất kỳ khoản tiền nợ gốc và lãi nào. Ông Đ đã nhiều lần liên lạc với ông M1 nhưng ông M1 không nghe máy điện thoại và tắt máy. Ông Đ có đến nhà tìm thì ông M1 đã bỏ đi khỏi địa phương, bà H là vợ ông M1 cho rằng khoản nợ này là của ông M1, bà không có nghĩa vụ trả tiền cho ông Đ vì bà không có vay số tiền này. Khi vay tiền ông M1 và bà H có thế chấp cho ông Đ thửa đất số 110, tờ bản đồ số 11, diện tích 3.944m², loại đất chuyên trồng lúa nước do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh V cấp cho bà Phan Thị Hồng H đứng tên giấy Chứng nhận ngày 29/8/2022, tọa lạc tại xã H, huyện M, tỉnh Vĩnh Long (nay là xã B, tỉnh Vĩnh Long). Khi nào ông M1 và bà H trả cho ông Đ số tiền nợ thì ông Đ sẽ trả lại giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông M1 và bà H.
Nay ông Đ khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Thái Minh M1 và bà Phan Thị Hồng H có nghĩa vụ liên đới trả cho ông Đ số tiền nợ gốc là 500.000.000 đồng và số tiền nợ lãi như sau:
- Đối với số tiền vay 400.000.000 đồng tính từ ngày 12/3/2024 đến ngày 22/4/2025, lãi suất là 1,67%/tháng, tạm tính số tiền nợ lãi là 89.066.000 đồng.
- Đối với số tiền nợ vay 100.000.000 đồng tính từ ngày 26/4/2024 đến ngày 22/4/2025, lãi suất là 1,67%/tháng, tạm tính số tiền nợ lãi là 19.873.000 đồng.
Tổng số tiền nợ gốc và lãi ông M1 và bà H phải trả cho ông Đ tạm tính đến ngày 22/4/2025 là 608.939.000 đồng.
Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Mai Hoàng T yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông M1 và bà H có nghĩa vụ liên đới trả cho ông Đ số tiền nợ gốc là 400.000.000 đồng và tiền lãi với mức lãi suất là 1,67%/tháng tính từ ngày 12/3/2024 đến ngày 12/6/2025, lãi suất là 1,67%/tháng, tạm tính số tiền nợ lãi là 100.200.000 đồng; yêu cầu trả số tiền nợ gốc là 100.000.000 đồng với mức lãi suất là 1,67%/tháng tính từ ngày 26/4/2024 đến ngày 26/6/2025, lãi suất là 1,67%/tháng, tạm tính số tiền nợ lãi là 23.380.000 đồng, tổng số tiền nợ gốc và lãi ông M1 và bà H phải trả cho ông Đ là 623.580.000 đồng. Khi nào ông M1 và bà H thanh toán xong nợ thì ông Đ sẽ trả lại bản gốc giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 110 cho vợ chồng ông M1, bà H.
Bị đơn ông Thái Minh M1 có người đại diện theo ủy quyền là ông Nguyễn Quyết Q trình bày:
Ông M1 là bạn làm ăn với vợ của ông Đ nên ông Đ có quen biết với ông M1. Ông M1 xác định Hợp đồng vay số tiền 400.000.000 đồng là cộng gốc và lãi mới ra số tiền 400.000.000 đồng, các lần vay trước có làm Hợp đồng vay tiền, ông M1 không có giữ Hợp đồng này, khoản tiền nợ gốc là 140.000.000 đồng, lãi suất thỏa thuận là 10%/tháng, ông M1 không nhớ vay tiền vào thời gian nào nhưng vào khoảng năm 2023, do ông M1 không có tiền đóng lãi nên ông Đ mới cộng nợ gốc và lãi ra số tiền 400.000.000 đồng.
Ngày 12/3/2024 ông Đ có yêu cầu ông M1 đến Văn phòng C để ký Hợp đồng vay tiền, số tiền vay là 400.000.000 đồng, đây thực chất là số tiền gốc cộng lãi của số tiền nợ gốc là 140.000.000 đồng, thực tế ông M1 không có nhận số tiền 400.000.000 đồng của ông Đ. Do không có tiền trả nợ nên ông M1 vẫn ký tên vào Hợp đồng vay tiền này.
Ngày 26/4/2024 ông Đ tiếp tục yêu cầu ông M1 ký Hợp đồng vay thêm số tiền 100.000.000 đồng, thực chất số tiền vay 100.000.000 đồng này là tiền lãi của số tiền 400.000.000 đồng, do ông M1 không có tiền trả lãi nên ông Đ mới kêu ký Hợp đồng vay tiền tại Văn phòng C. Tuy nhiên ông M1 không có chứng cứ chứng minh ông M1 đã vay của ông Đ số tiền gốc là 140.000.000 đồng.
Khi ký các Hợp đồng vay tiền thì ông M1 không có đưa giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 110, tờ bản đồ số 11, diện tích 3.944m², loại đất chuyên trồng lúa nước cho ông Đ giữ. Khi ông M1 không có khả năng trả nợ nên ông Đ làm áp lực buộc ông M1 phải giao giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Đ giữ làm tin. Ông M1 khẳng định ông giao giấy Chứng nhận cho ông Đ sau khi ký Hợp đồng vay tiền vì ông M1 không có khả năng trả nợ nên mới giao giấy làm tin.
Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu ông M1 và bà H phải trả cho ông Đ tổng nợ gốc và lãi tạm tính đến ngày 22/4/2025 là 608.939.000 đồng thì ông M1 không đồng ý với yêu cầu khởi kiện này của nguyên đơn. Ông M1 chỉ đồng ý trả cho ông Đ số tiền vay nợ gốc là 140.000.000 đồng, không trả lãi vì ông M1 đang rất khó khăn nên không có tiền trả lãi. Ông M1 xác định đây là khoản nợ riêng của ông M1, không liên quan đến vợ ông là bà Phan Thị Hồng H vì ông M1 không có nói với bà H về khoản nợ này. Do đó, ông M1 có ý kiến là chỉ riêng một mình ông M1 sẽ có trách nhiệm trả số tiền này cho ông Đ, bà H không phải chịu trách nhiệm liên đới trả tiền với ông M1.
Ngày 30/12/2024 bị đơn bà Phan Thị Hồng H có bản khai ý kiến trình bày như sau:
Bà H khẳng định bà không vay mượn tiền như lời nguyên đơn trình bày, việc ông Thái Minh M1 có vay tiền của ông Đ hay không bà H hoàn toàn không hay biết vì ông M1 không có trao đổi, bàn bạc với bà H về việc làm ăn, kinh doanh của ông M1 hay việc ông M1 vay tiền của bất kỳ ai. Bà H cũng không gặp hay thỏa thuận vay mượn tiền của ông Đ. Đối với việc nguyên đơn yêu cầu bà H phải có nghĩa vụ liên đới với ông M1 trả số tiền nợ vay thì bà H không đồng ý. Bà H xin vắng mặt tại các buổi làm việc tại Tòa và các buổi xét xử vì bận công việc.
Tại Biên bản hòa giải và Biên bản lấy lời khai ngày 20/6/2025 người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Vũ Q1 trình bày:
Ông Q1 là bạn của ông Thái Minh M1 và bà Phan Thị Hồng H. Trước đây ông Q1 và ông M1 có hùn tiền chuyển nhượng thửa đất số 110, ông Q1 chuyển nhượng 01 công giá 400.000.000 đồng, ông M1 bỏ ra 1.200.000.000 đồng để chuyển nhượng 03 công thuộc thửa 110. Sau đó ông M1 để bà H đứng tên đồng sở hữu với ông Q1 thửa đất số 110, tờ bản đồ số 11, diện tích 3.944m², loại đất chuyên trồng lúa nước do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh V cấp cho ông Q1 và bà Phan Thị Hồng H đứng tên giấy Chứng nhận ngày 29/8/2022, đất tọa lạc tại xã H, huyện M, tỉnh Vĩnh Long nay là xã B, tỉnh Vĩnh Long. Việc ông M1 và bà H thế chấp giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 110 để vay tiền của ông Đông Q1 hoàn toàn không hay biết. Hiện nay thửa đất số 110 này ông Q1 và bà H đang quản lý sử dụng.
Nay đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu ông M1 và bà H phải trả cho ông Đ số tiền vay tạm tính đến ngày 22/4/2025 là 608.939.000 đồng thì ông Q1 không có ý kiến gì đối với yêu cầu này của nguyên đơn vì đây là tranh chấp giữa nguyên đơn và bị đơn, không liên quan đến ông Q1. Đối với việc nguyên đơn vẫn giữ giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 110 và có ý kiến khi nào bị đơn trả tiền vay xong thì mới trả giấy ông Q1 không có ý kiến gì đối với lời trình bày này của nguyên đơn. Ông Q1 xác định ông không có yêu cầu gì trong vụ án này, trường hợp có yêu cầu đối với thửa đất số 110 ông Q1 sẽ khởi kiện một vụ án khác.
Tại Bản tự khai ngày 24/6/2025 người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Ngọc Thảo M trình bày:
Bà M là vợ của ông Nguyễn Văn Đ. Do quen biết nên ông M1 và bà H có vay của vợ chồng ông Đ và bà M số tiền nợ gốc là 500.000.000 đồng, khi lập hợp đồng vay chỉ có ông Đ đứng tên trong hợp đồng do bà M có thai nên đi lại bất tiện nên bà để ông Đ là người đại diện đứng tên. Bà M xác định nguồn tiền vay là tài sản chung của vợ chồng bà. Bà không có ý kiến hay yêu cầu gì, mọi việc do ông Đ toàn quyền quyết định. Bà M không có yêu cầu gì đối với số tiền 500.000.000 đồng cũng như tiền lãi suất. Mọi ý kiến của ông Đ cũng là ý kiến của bà M, bà cam kết không khiếu nại về sau.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 01/2025/DS-ST ngày 02 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Vĩnh Long quyết định (tóm tắt):
- Buộc ông Thái Minh M1 có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Văn Đ số tiền vay là 561.420.000 đồng (trong đó nợ gốc là 500.000.000 đồng, nợ lãi 61.420.000 đồng) (Năm trăm sáu mươi mốt triệu, bốn trăm hai mươi nghìn đồng).
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Văn Đ về việc yêu cầu anh Thái Minh M1 và bà Phan Thị Hồng H trả số tiền lãi là 62.160.000 đồng (Sáu mươi hai triệu, một trăm sáu mươi nghìn đồng).
- Không chấp nhận đối với yêu cầu buộc bà Phan Thị Hồng H phải có nghĩa vụ liên đới cùng anh Thái Minh M1 trả tiền cho anh Nguyễn Văn Đ.
- Buộc anh Nguyễn Văn Đ có trách nhiệm trả lại cho bà Phan Thị Hồng H giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DG 795809, vào sổ cấp giấy chứng nhận số CS07696 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh V cấp ngày 29/8/2022 đối với thửa đất số 110, tờ bản đồ số 11, diện tích 3.944,0m², loại đất chuyên trồng lúa nước; tọa lạc tại xã H, huyện M, tỉnh Vĩnh Long nay là xã B, tỉnh Vĩnh Long do bà Phan Thị Hồng H đứng tên đồng sở hữu với anh Nguyễn Vũ Q1 trong giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về tiền lãi chậm trả, án phí dân sự sơ thẩm, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của đương sự.
Ngày 10/07/2025, bị đơn ông Thái Minh M1 kháng cáo yêu cầu sửa bản án dân sự sơ thẩm số 01/2025/DS-ST ngày 02 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Vĩnh Long theo hướng chỉ chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cụ thể, chỉ buộc ông trả cho nguyên đơn số tiền gốc đã vay là 140.000.000 đồng và tiền lãi tính theo mức lãi suất 0,83%/tháng.
Ngày 14/7/2025, nguyên đơn ông Nguyễn Văn Đ kháng cáo yêu cầu sửa bản án dân sự sơ thẩm số 01/2025/DS-ST ngày 02 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Vĩnh Long theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với yêu cầu buộc bà H có nghĩa vụ liên đới với ông M1 trả khoản tiền nợ vay cho ông.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án; bị đơn rút kháng cáo, yêu cầu Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị đơn.
Nguyên đơn cho rằng mục đích ông M1 vay để làm gì thì bị đơn chứng minh và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với yêu cầu buộc bà H có nghĩa vụ liên đới với ông M1 trả khoản tiền nợ vay cho ông Đ.
Bị đơn cho rằng khoản vay không liên quan đến bà H nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và người tham gia tố tụng: Tất cả đều tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử phúc thẩm.
Về nội dung: tại hợp đồng vay tiền ngày 12/3/2024 và hợp đồng vay tiền ngày 26/4/2024 được ông M1 ký trong thời kỳ hôn nhân hợp pháp với bà H nhưng hoàn toàn không thể hiện bà H đồng tình để ông M1 vay số tiền theo 02 hợp đồng vay trên. Về nghĩa vụ chứng minh theo quy định tại các Điều 91, 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì bà H không phải có nghĩa vụ chứng minh. Do đó, căn cứ khoản 3 Điều 45 của Luật Hôn nhân và gia đình quy định “nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do một bên xác lập, thực hiện vì nhu cầu của gia đình; ………” thì không có căn cứ buộc bà H phải có trách nhiệm cùng ông M1 liên đới trả nợ. Vì vậy, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của ông Đ. đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 148; Điều 295, khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn Đ; đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của ông Thái Minh M1; giữ nguyên số bản án dân sự sơ thẩm số 01/2025/DS-ST ngày 02 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Vĩnh Long.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, căn cứ vào lời trình bày của các đương sự đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, xét kháng cáo của bị đơn ông Thái Minh M1 và nguyên đơn Nguyễn Văn Đ, Hội đồng xét xử nhận định:
- [1] Về tố tụng: Bị đơn ông Thái Minh M1 và nguyên đơn ông Nguyễn Văn Đ kháng cáo và thực hiện các thủ tục kháng cáo hợp lệ, trong thời hạn luật định nên được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
- [2] Về nội dung:
- [2.1] Nguyên đơn ông Nguyễn Văn Đ khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Thái Minh M1 và bà Phan Thị Hồng H có nghĩa vụ liên đới trả cho ông Đ số tiền nợ gốc là 400.000.000 đồng và tiền lãi với mức lãi suất là 1,67%/tháng tính từ ngày 12/3/2024 đến ngày 12/6/2025, lãi suất là 1,67%/tháng, tạm tính số tiền nợ lãi là 100.200.000 đồng; yêu cầu trả số tiền nợ gốc là 100.000.000 đồng với mức lãi suất là 1,67%/tháng tính từ ngày 26/4/2024 đến ngày 26/6/2025, lãi suất là 1,67%/tháng, tạm tính số tiền nợ lãi là 23.380.000 đồng, tổng số tiền nợ gốc và lãi ông M1 và bà H phải trả cho ông Đ là 623.580.000 đồng. Căn cứ khởi kiện của nguyên đơn là 02 hợp đồng vay tài sản: hợp đồng vay tiền ngày 12/3/2024 với số tiền 400.000.000 đồng và hợp đồng vay tiền ngày 26/4/2024 với số tiền 100.000.000 đồng, có chữ ký của bị đơn ông Thái Minh M1 và có công chứng chứng thực, theo các hợp đồng thể hiện tổng cộng số tiền vay 500.000.000 đồng là số tiền nợ gốc.
- [2.2] Bị đơn ông M1 không thừa nhận việc này và cho rằng số tiền trên đã bao gồm lãi suất. Tuy nhiên, ngoài lời trình bày, ông M1 không cung cấp được chứng cứ chứng minh số tiền trên đã bao gồm lãi suất và số tiền nợ gốc giữa ông và ông Đ là 140.000.000 đồng.
- [2.3] Tòa án cấp sơ thẩm xem xét việc các bên không thống nhất được mức lãi suất và có tranh chấp về lãi suất nên căn cứ theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, và buộc bị đơn ông Thái Minh M1 trả cho nguyên đơn ông Nguyễn Văn Đ số tiền nợ gốc và lãi theo mức lãi suất 0,83%/tháng với số tiền tổng cộng là 561.420.000 đồng (trong đó nợ gốc là 500.000.000 đồng, lãi 61.420.000 đồng).
- [3] Xét kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Văn Đ về việc yêu cầu sửa bản án dân sự sơ thẩm theo hướng chấp nhận buộc bà H phải có nghĩa vụ liên đới với ông M1 trả khoản tiền nợ vay cho ông.
- [3.1] Xét các hợp đồng vay tiền ngày 12/3/2024 và ngày 26/4/2024 không thể hiện việc bà H tham gia giao dịch, ký tên vào hợp đồng và nhận tiền; cũng không thể hiện mục đích ông M1 vay tiền để dùng vào mục đích gì.
- [3.2] Ngoài ra, bà H khai không biết việc ông M1 vay tiền của ông Đ và bà H không đồng ý trả tiền cho ông Đ, đồng thời ông M1 thừa nhận chỉ có mình ông vay tiền của ông Đ, bà H không biết việc này.
- [3.3] Như vậy, tuy các biên nhận được thực hiện trong thời kỳ hôn nhân nhưng không có chứng cứ chứng minh (lời khai, thỏa thuận khác) rằng số tiền ông M1 vay của ông Đ đã được sử dụng để nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình nên Tòa án cấp sơ thẩm không buộc bà H có nghĩa vụ liên đới trả nợ với ông M1 là phù hợp quy định tại các Điều 27, 37 Luật Hôn nhân và gia đình.
- [4] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn rút toàn bộ kháng cáo, thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều 289, Điều 312 Bộ luật Tố tụng dân sự nên Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị đơn.
- [5]. Các nội dung khác của bản án sơ thẩm (việc trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) không kháng cáo nên không xem xét.
- [6]. Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy nguyên đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh cho yêu cầu kháng cáo là có căn cứ nên không có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- [7]. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tại phiên tòa phúc thẩm là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
- [8]. Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận, nên nguyên đơn phải chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 đồng. Bị đơn rút kháng cáo tại phiên tòa phúc thẩm nên phải chịu toàn bộ án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1, khoản 5 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Văn Đ.
Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị đơn ông Thái Minh M1.
Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 01/2025/DS-ST ngày 02 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Vĩnh Long.
Cụ thể tuyên:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 217, Điều 219, Điều 227, Điều 228, Điều 244, Điều 273, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 5 Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các Tòa án nhân dân.
Căn cứ các Điều 463, 466, 468, 470 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 4, Điều 5 Nghị định số 102/2017/NĐ-CP ngày 01/9/2017 của Chính phủ về đăng ký biện pháp bảo đảm;
Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
Căn cứ khoản 4 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn Đ.
- Buộc ông Thái Minh M1 có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Văn Đ số tiền vay là 561.420.000 đồng (Năm trăm sáu mươi mốt triệu bốn trăm hai mươi nghìn đồng); trong đó: nợ gốc là 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng), nợ lãi là 61.420.000 đồng (Sáu mươi mốt triệu bốn trăm hai mươi nghìn đồng).
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn Đ về việc yêu cầu ông Thái Minh M1 và bà Phan Thị Hồng H trả số tiền lãi là 62.160.000 đồng (Sáu mươi hai triệu một trăm sáu mươi nghìn đồng).
- Không chấp nhận đối với yêu cầu buộc bà Phan Thị Hồng H phải có nghĩa vụ liên đới cùng ông Thái Minh M1 trả tiền cho ông Nguyễn Văn Đ.
- Buộc ông Nguyễn Văn Đ có trách nhiệm trả lại cho bà Phan Thị Hồng H giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DG 795809, vào sổ cấp giấy chứng nhận số CS07696 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh V cấp ngày 29/8/2022 đối với thửa đất số 110, tờ bản đồ số 11, diện tích 3.944,0m², loại đất chuyên trồng lúa nước; tọa lạc tại xã H, huyện M, tỉnh Vĩnh Long nay là xã B, tỉnh Vĩnh Long do bà Phan Thị Hồng H đứng tên đồng sở hữu với ông Nguyễn Vũ Q1 trong giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Về án phí:
- Án phí dân sự sơ thẩm:
- - Buộc ông Nguyễn Văn Đ phải nộp án phí dân sự sơ thẩm số tiền 3.108.000 đồng. Trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 12.713.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001586 ngày 24/10/2024, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Hồ. Hoàn trả cho ông Nguyễn Văn Đ số tiền án phí là 9.605.000 đồng (Chín triệu, sáu trăm lẻ năm nghìn đồng) tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1-Vĩnh Long.
- - Buộc bị đơn ông Thái Minh M1 phải nộp 26.456.800 đồng (Hai mươi sáu triệu, bốn trăm năm mươi sáu nghìn, tám trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1-Vĩnh Long.
- Án phí dân sự phúc thẩm:
- - Nguyên đơn ông Nguyễn Văn Đ phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) biên lai thu số 0000591 ngày 22/7/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long.
- - Bị đơn ông Thái Minh M1 phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) biên lai thu số 0000315 ngày 16/7/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long.
- Án phí dân sự sơ thẩm:
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA Nguyễn Thế Hồng |
Bản án số 626/2025/DS-PT ngày 17/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 626/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 17/12/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Đầy - Thái Minh Mẫn - Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
