Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 620/2025/DS-PT

Ngày: 16/12/2025

V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Hồng

Các Thẩm phán:Bà Sơn Nữ Phà Ca

Ông Đặng Văn Hùng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Vân Khanh – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Thanh Hoàng - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 377/2025/TLPT-DS ngày 02 tháng 10 năm 2025 về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 13/2025/DS-ST ngày 13 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 14 – Vĩnh Long bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 538/2025/QĐ-PT ngày 29 tháng 10 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1961; địa chỉ: Khóm C, xã T, tỉnh Vĩnh Long.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Lê Thụy Thanh S, sinh năm 1980; địa chỉ: Khóm D, xã T, tỉnh Vĩnh Long; là người đại diện theo ủy quyền (theo văn bản ủy quyền ngày 08/01/2025) có mặt.

- Bị đơn: Ông Đặng Văn V, sinh năm 1970; địa chỉ: ấp L, xã Đ, tỉnh Vĩnh Long.

Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Bà Lâm Thị T, sinh năm 1972; địa chỉ: ấp L, xã Đ, tỉnh Vĩnh Long; là người đại diện theo ủy quyền của bị đơn (theo văn bản ủy quyền ngày 26/8/2025) có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Trầm Bá V1, sinh năm 1986; địa chỉ: Khóm C, xã T, tỉnh Vĩnh Long.

2. Bà Trầm Yến N, sinh năm 1995; địa chỉ: Khóm C, xã T, tỉnh Vĩnh Long.

3. Bà Lâm Thị T, sinh năm 1972; địa chỉ: ấp L, xã Đ, tỉnh Vĩnh Long.

- Người kháng cáo: Bị đơn ông Đặng Văn V; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lâm Thị T

- Viện kiểm sát kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 14 – Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các đơn khởi kiện, bản tự khai, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là bà Lê Thụy Thanh S trình bày:

Vào ngày 19/5/2014 âm lịch, ông Đặng Văn V có đến nhà của vợ chồng bà Nguyễn Thị B và ông Trầm Kiến H (tên gọi khác Tư C) hỏi vay của ông Trầm Kiến H số tiền 800.000.000 đồng và ông Hòa đồng Ý cho vay. Hai bên thỏa thuận lãi suất là 2,5%/tháng, không thỏa thuận thời hạn trả, có làm giấy nhận nợ do chính ông V viết ra. Tiếp tục ngày 06/7/2014 âm lịch ông V hỏi vay thêm số tiền 200.000.000 đồng, ông Hòa đồng Ý, lãi suất thỏa thuận là 3%/tháng, không thỏa thuận thời hạn trả, có làm giấy nhận nợ do chính ông V viết ra. Sau khi vay, ông V vẫn trả lãi đầy đủ mỗi tháng cho ông H, nhưng đến tháng 5/2019 ông H chết thì ông V có chậm trễ việc trả lãi, tính từ khi ông H chết cho đến nay ông V gửi trả lãi cho bà B được số tiền 14.000.000 đồng. Vì vậy, bà Nguyễn Thị B yêu cầu ông Đặng Văn V trả cho bà Nguyễn Thị B số tiền 2.065.000.000 đồng. Trong đó, có 1.000.000.000 đồng nợ gốc và 1.065.000.000 đồng tiền lãi (theo mức lãi suất 1,66%/tháng, từ tháng 5/2019 âm lịch đến tháng 01/2025 dương lịch là 65 tháng là 1.079.000.000 đồng, trừ số tiền lãi đã trả 14.000.000 đồng).

Tại bản tự khai ngày 28/7/2025, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn ông Đặng Văn V trình bày:

Ông thừa nhận có vay tiền của ông Trầm Kiến H (tên gọi khác: ông Tư C) 02 (hai) lần với tổng số tiền là 1.000.000.000 đồng là đúng. Khi vay, ông V có tự tay viết giấy mượn tiền của ông H nên 02 (hai) giấy mượn tiền ngày 19/5/2014 âm lịch và ngày 6/7/2014 âm lịch mà nguyên đơn cung cấp cho Tòa án là do ông V viết và ký tên. Khi vay, giữa ông V và ông H không có thỏa thuận thời hạn trả, mục đích ông V vay tiền là để góp vốn mua xe cùng với hợp tác xã vận tải kinh doanh dịch vụ xe chở khách. Sau khi vay, Ông V có gửi trả lãi cho ông H đầy đủ mỗi tháng khoảng hơn 28.000.000 đồng. Đến năm 2016 hay năm 2017 ông V không nhớ, ông có bán xe trả được cho ông Trầm Kiến H số tiền 570.000.000 đồng, tại nhà của ông V ở thành phố Hồ Chí Minh. Đồng thời, ông H có hứa với ông V là số tiền còn nợ lại sẽ cho V trả từ từ, ông H không tính lãi, trả được bao nhiêu là thì tính vào nợ gốc. Vì vậy, mà từ năm 2016, 2017 cho đến nay ông V trả dần cho ông H rất nhiều lần, ngay cả khi ông H đã chết, ông vẫn gửi tiền về trả cho bà B. Tổng cộng nhiều lần ông H đã trả được số tiền 402.000.000 đồng. Như vậy, tổng cộng ông V đã trả được cho ông H là 972.000.000 đồng, còn nợ lại số tiền 28.000.000 đồng. Vì vậy, nay bà Nguyễn Thị B yêu cầu ông V trả số tiền 2.065.000.000 đồng. Trong đó, có 1.000.000.000 đồng nợ gốc và 1.065.000.000 đồng tiền lãi thì ông V không đồng ý. Ông V đồng ý trả cho bà B số tiền 28.000.000 đồng còn nợ.

Tại bản tự khai ngày 28/7/2025, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lâm Thị T trình bày:

Bà T không thống nhất cùng với ông Đặng Văn V trả số tiền 2.065.000.000 đồng theo yêu cầu của bà Nguyễn Thị B. Vì bà T cho rằng, bà T không có liên quan đến số tiền này. Trong quá trình vợ chồng sống chung, ông V làm nghề dịch vụ xe khách cùng với Hợp tác xã, riêng bà thì mua bán có thu nhập riêng, đồng thời việc ông V vay tiền của ông H bà không hay biết, khi vay ông V cũng không trao đổi với bà, đến khi ông H lên thành phố ghé nhà lấy số tiền 570.000.000 đồng mà ông V trả thì bà T mới biết nên bà không thống nhất trả tiền theo yêu cầu của nguyên đơn.

Tại bản tự khai ngày 11/6/2025, trong quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trầm Bá V1 và bà Trầm Yến N thống nhất trình bày:

Thống nhất theo yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị B là yêu cầu ông Đặng Văn V trả cho mẹ ruột là bà Nguyễn Thị B số tiền 2.065.000.000 đồng. Trong đó, có 1.000.000.000 đồng nợ gốc và 1.065.000.000 đồng tiền lãi (theo mức lãi suất 1,66%/tháng, từ tháng 5/2019 âm lịch đến tháng 01/2025 dương lịch là 65 tháng là 1.079.000.000 đồng, trừ số tiền lãi đã trả 14.000.000 đồng).

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 13/2025/DS-ST ngày 13 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 14 – Vĩnh Long đã quyết định (tóm tắt):

  1. Buộc ông Đặng Văn V và bà Lâm Thị T trả cho bà Nguyễn Thị B số tiền 2.065.000.000 (Hai tỷ không trăm sáu mươi lăm triệu) đồng. Trong đó, vốn gốc 1.000.000.000 (Một tỷ) đồng, tiền lãi 1.065.000.000 (Một tỷ không trăm sáu mươi lăm triệu) đồng.
  2. Dành cho ông Đặng Văn V một vụ kiện dân sự khác để yêu cầu bà Nguyễn Thị B, ông Trầm Bá V1, bà Trầm Yến N trả lại số tiền lãi mà ông V đã trả cho ông H theo mức lãi suất vượt quá mức lãi suất cho phép của Bộ luật dân sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về tiền lãi chậm trả, án phí dân sự sơ thẩm, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của đương sự.

Ngày 28/8/2025, bị đơn ông Đặng Văn V và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lâm Thị T kháng cáo và yêu cầu sửa toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 13/2025/DS-ST ngày 13 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 14 – Vĩnh Long theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bà T kháng cáo yêu cầu xem xét bà không có nghĩa vụ liên đới trả.

Ngày 26 tháng 8 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 14 – Vĩnh Long kháng nghị một phần bản án dân sự sơ thẩm số 13/2025/DS-ST ngày 13 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 14 – Vĩnh Long, đề nghị xét xử phúc thẩm vụ án theo hướng chấp nhận yêu cầu của bị đơn ông Đặng Văn V, cụ thể, trừ khoản tiền lãi quá hạn mà bị đơn đã thanh toán cho nguyên đơn vào nghĩa vụ thanh toán nợ mà bị đơn ông Đặng Văn V và bà Lâm Thị T có nghĩa vụ liên đới thanh toán cho nguyên đơn bà Nguyễn Thị B là 2.065.000.000 đồng.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án. Viện kiểm sát giữ nguyên kháng nghị.

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày ông V đã trả trước cho nguyên đơn từ năm 2017 số tiền 570.000.000 đồng nợ gốc không có làm biên nhận và sau đó có trả nợ thêm 402.000.000 đồng tiền nợ gốc, hiện tại chỉ còn nợ số tiền nợ gốc là 28.000.000 đồng nên yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng bị đơn chỉ trả 28.000.000 đồng. Bị đơn cũng cho rằng từ năm 2017 nguyên đơn có thỏa thuận bằng lời nói với bị đơn là không yêu cầu tính lãi nữa nên bị đơn không còn nợ lãi nguyên đơn.

Bà T với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cho rằng bà không liên quan đến việc vay nợ giữa ông V với nguyên đơn nên bà không đồng ý liên đới trả nợ.

Nguyên đơn cho rằng quá trình vay bị đơn đã trả được 420.000.000 đồng tiền lãi và đồng ý với kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát khu vực 14 – Vĩnh Long để Tòa án tính lại số nợ lãi đã trả, còn lại buộc bị đơn phải trả.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long phát biểu quan điểm:

Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và người tham gia tố tụng: Tất cả đều tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử phúc thẩm.

Về nội dung: Cần xem xét giải quyết toàn diện vụ án, xem xét số tiền lãi đã trả để xem xét số tiền còn lại và buộc bị đơn trả. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Đặng Văn V và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lâm Thị T; chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 14 – Vĩnh Long; sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số 13/2025/DS-ST ngày 13 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 14 – Vĩnh Long theo hướng xem xét lại số tiền lãi bị đơn đã trả theo quy định pháp luật để tính lại số tiền buộc bị đơn phải trả.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, căn cứ vào lời trình bày của các đương sự đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, xét kháng cáo của ông Đặng Văn V, bà Lâm Thị T và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 14 – Vĩnh Long, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Bị đơn ông Đặng Văn V, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lâm Thị T kháng cáo; Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 14 – Vĩnh Long kháng nghị và thực hiện các thủ tục kháng cáo, kháng nghị hợp lệ, trong thời hạn luật định nên được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về nội dung:

Bà Nguyễn Thị B khởi kiện ông Đặng Văn V và yêu cầu bà Lâm Thị T phải có nghĩa vụ liên đới trả vì cho rằng ông V có vay của ông Trầm Kiến H (tên gọi khác là Tư C; đã chết) là chồng bà B số tiền tổng cộng là 1.000.000.000 đồng với 02 lần vay. Tuy nhiên, đến nay ông V vẫn chưa trả đủ số tiền nợ vốn. Ông Trầm Bá V1 và bà Trầm Yến N là con của bà B, ông H thống nhất theo yêu cầu của bà B.

Nguyên đơn khởi kiện cung cấp 2 giấy mượn tiền số tiền 800.000.000 đồng với lãi suất 2,5%/tháng, vay ngày 19/5/2014 âm lịch; số tiền 200.000.000 đồng với lãi suất 3%/tháng, vay ngày 06/7/2014 âm lịch. Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn thừa nhận việc có vay của ông H 1.000.000.000 đồng với 02 lần vay và tự viết biên nhận, ký tên. Vì vậy, theo khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, đây là tình tiết không phải chứng minh.

Tòa án sơ thẩm đã ra tuyên xử buộc ông V và bà T phải trả toàn bộ số nợ gốc và lãi theo yêu cầu của nguyên đơn với tổng số tiền là 2.065.000.000 đồng.

[3] Xét kháng cáo của bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 14 – Vĩnh Long.

[3.1] Bị đơn ông V cho rằng bản thân đã trả cho bà B 02 lần, gồm 570.000.000 đồng trước khi ông H chết và 402.000.000 đồng trả vào ngày 15/2/2023, do vậy, ông chỉ còn nợ lại số tiền nợ gốc là 28.000.000 đồng. Tuy nhiên, theo lời trình bày của ông, các lần trả tiền này chỉ có vợ ông là bà T chứng kiến, ngoài ra, ông không cung cấp được bất kỳ tài liệu, chứng cứ nào chứng minh ông đã trả số tiền nói trên cho ông H, bà B.

Theo lời trình bày của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà T là vợ ông V, những lần ông V trả tiền bà đều có ghi lại trong sổ từ năm 2018 – 2023, tuy nhiên, do bà tự ghi vào sổ riêng của bà và phía bà B không có ký tên xác nhận vào sổ là đã nhận số tiền trên.

Đối với 4 tờ giấy nộp tiền qua Ngân hàng các ngày 18/6/2018; 20/9/2018; 14/11/2018; 20/02/2019 bị đơn cho rằng đã trả nợ gốc nhưng nguyên đơn cho rằng trả tiền lãi trước tháng 5/2019.

Như vậy, ông V không chứng minh được việc đã trả 570.000.000 đồng. Tờ giấy ghi chép về việc trả 402.000.000 đồng do bà T tự ghi không có sự xác nhận của bên cho vay nên không được xem là chứng cứ chứng minh việc trả nợ gốc.

Ông V cũng không có chứng minh được năm 2017 nguyên đơn không yêu cầu trả lãi nữa mà chỉ cho rằng thỏa thuận bằng lời nói và không được nguyên đơn thừa nhận nên không có cơ sở xem xét.

[3.2] Xét kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lâm Thị T, bà yêu cầu sửa bản án sơ thẩm theo hướng bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và bà không đồng ý liên đới cùng ông V trả nợ cho bà B.

Theo lời trình bày của ông V mục đích khoản vay là để góp vốn mua xe cùng với hợp tác xã vận tải kinh doanh dịch vụ xe chở khách, đồng thời, khoản tiền vay phát sinh trong thời kỳ hôn nhân, do đó, việc vay tiền của ông V là nhằm mục đích phục vụ cho nhu cầu thiết yếu của gia đình. Đây là khoản vay để kinh doanh dịch vụ xe khách, tạo ra thu nhập, kinh tế cho gia đình. Bà T cũng thừa nhận những lần ông V trả tiền cho ông H bà đều có ghi sổ lại từ năm 2018 đến năm 2023, và số tiền 570.000.000 đồng mà bà lấy để trả cho ông H là tiền bán xe của ông V, điều này chứng tỏ bà T có biết được khoản vay giữa ông V và ông H. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào khoản 2 Điều 37 Luật Hôn nhân gia đình 2014 tuyên xử buộc bà T có nghĩa vụ liên đới trả số nợ vay cho ông H cùng ông V là phù hợp.

[3.3] Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực. Đây là quy định của pháp luật nên Tòa án với trách nhiệm áp dụng pháp luật, phải xem xét phần không có hiệu lực vì đây là vi phạm điều cấm của pháp luật về lãi suất nên số tiền lãi đã trả vượt quá mức lãi suất quy định được trừ vào số tiền nợ gốc tại thời điểm trả lãi, số tiền lãi đã trả vượt quá còn lại sau khi đã trừ hết nợ gốc thì được trả lại cho bên vay.

Việc xem xét phần tiền lãi này phải được xem xét giải quyết trong cùng vụ án để đảm bảo cho việc giải quyết vụ án được chính xác về số tiền lãi và đúng pháp luật, như vậy mọi xác định được nghĩa vụ thực tế của bên vay. Tòa án sơ thẩm giành quyền khởi kiện vụ án khác là không giải quyết triệt để vụ án, không phù hợp quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự và Điều 9 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.

Tòa án cấp phúc thẩm xem xét và tính lại:

[3.4] Số tiền 800.000.000 đồng với lãi suất 2,5%/tháng, vay ngày 19/5/2014 âm lịch, là ngày 16/6/2014:

  • Số tiền 800.000.000 đồng với lãi suất 1,66%/tháng, vay ngày 16/6/2014 được tính lãi từ ngày cho vay 16/6/2014 đến ngày ông H mất (15/5/2019) là 4 năm 10 tháng 29 ngày, số tiền lãi được tính là: 783.077.333 đồng. Đây là số tiền lãi bị đơn không có nghĩa vụ phải trả.
  • Số tiền 800.000.000 đồng với lãi suất 2,5%/tháng, vay ngày 16/6/2014 được tính lãi theo lãi suất 2,5%/tháng từ ngày cho vay 16/6/2014 đến ngày ông H mất (15/5/2019) là 4 năm 10 tháng 29 ngày, số tiền lãi được tính là: 1.179.333.333 đồng. Đây là số tiền nguyên đơn thừa nhận đã nhận.
  • Số tiền lãi vượt quá là: 396.256.000 đồng.

[3.5] Số tiền 200.000.000 đồng với lãi suất 3%/tháng, vay ngày 06/7/2014 âm lịch, là ngày 01/8/2014:

  • Số tiền 200.000.000 đồng với lãi suất 1,66%/tháng, vay ngày 01/8/2014 được tính từ 01/8/2014 đến ngày ông H mất (15/5/2019) là 4 năm 9 tháng 14 ngày, số tiền lãi được tính là: 190.789. 333 đồng. Đây là số tiền lãi bị đơn có nghĩa vụ phải trả.
  • Số tiền 200.000.000 đồng với lãi suất 3%/tháng, vay ngày 01/8/2014 được tính từ 01/8/2014 đến ngày ông H mất (15/5/2019) là 4 năm 9 tháng 14 ngày, số tiền lãi được tính là: 344.800.000 đồng. Đây là số tiền nguyên đơn thừa nhận đã nhận.
  • Số tiền lãi vượt quá là: 154.010.667 đồng

[3.6] Như vậy, số tiền lãi bị đơn đã trả theo lãi suất trong các hợp đồng vay vượt quá số tiền lãi bị đơn phải trả theo lãi suất 1,66% là: 396.256.000 đồng + 154.010.667 đồng = 550.266.667 đồng.

Số tiền này được trừ vào 1.000.000.000 đồng nợ gốc, nợ gốc còn lại là 449.733.333 đồng.

[3.7] Tiền lãi của số tiền 449.733.333 đồng tính từ ngày ông H mất (15/5/2019) đến ngày xét xử sơ thẩm theo lãi suất 1,66%/tháng là 6 năm 2 tháng 29 ngày, được tính là: 559.669.147 đồng.

Cộng nợ gốc và nợ tiền lãi: 449.733.333 đồng + 559.669.147 đồng = 1.009.402.480 đồng.

[3.8] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số 13/2025/DS-ST ngày 13 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 14 – Vĩnh Long đối với nội dung tính lại tiền lãi để xem xét số tiền bị đơn phải trả.

[4] Kháng cáo của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.

[5] Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 14 – Vĩnh Long và quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tại phiên tòa phúc thẩm là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[6] Về án phí:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025);

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Đặng Văn V; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lâm Thị T.

Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 14 – Vĩnh Long

Sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số 13/2025/DS-ST ngày 13 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 14 – Vĩnh Long.

Cụ thể tuyên:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025);

Căn cứ Điều 357, Điều 463 và Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025);

Căn cứ khoản 2 Điều 37 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị B.

1. Buộc ông Đặng Văn V và bà Lâm Thị T trả cho bà Nguyễn Thị B số tiền 1.009.402.480 đồng (Một tỷ không trăm lẻ chín triệu bốn trăm lẻ hai nghìn bốn trăm tám mươi đồng); trong đó, nợ gốc là 449.733.333 đồng (Bốn trăm bốn mươi chín triệu bảy trăm ba mươi ba nghìn ba trăm ba mươi ba đồng), tiền lãi là 559.669.147 đồng (Năm trăm năm mươi chín triệu sáu trăm sáu mươi chín nghìn một trăm bốn mươi bảy đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án (tất cả các khoản tiền) theo mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

2. Về án phí:

2.1. Án phí dân sự sơ thẩm:

- Ông Đặng Văn V và bà Lâm Thị T phải nộp 26.386.766 đồng (Hai mươi sáu triệu ba trăm tám mươi sáu nghìn bảy trăm sáu mươi sáu đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Ông V và bà T còn phải nộp đủ số tiền này.

- Bà Nguyễn Thị B không phải chịu án phí; đồng thời, bà B là người cao tuổi nên được miễn nộp tiền tạm ứng án phí. Vì vậy, trong vụ án này không có tiền tạm ứng án phí để xử lý.

2.2. Án phí dân sự phúc thẩm:

Ông Đặng Văn V và bà Lâm Thị T mỗi người phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ông V và bà T đã nộp lần lượt theo các biên lai thu tạm ứng án phí số 0002364 ngày 28/8/2025 và số 0002365 ngày 28/8/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long. Ông V và bà T đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TANDTC + VKSNDTC: 02;
  • - TANDTCHCM: 01;
  • - VCT&KSXXPT: 01;
  • - VKSND TVL: 02;
  • - TAND KV14:01;
  • - THADS TVL: 01;
  • - Phòng THADS KV14: 01;
  • - Đương sự: 06;
  • - Lưu VP: 01;
  • - Phòng KTNV&THA KV14: 01;
  • - Lưu: 04.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA

Nguyễn Thế Hồng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 620/2025/DS-PT ngày 16/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 620/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 16/12/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Bạc - Đặng Văn Việt - Tranh chấp hợp đồng vay
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger