|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – HẢI PHÒNG Bản án số: 62/2025/HNGĐ-ST Ngày: 05/12/2025 V/v tranh chấp: “Ly hôn, nuôi con chung” |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc _______________________ |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Nhan.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Công Nhận, bà Phạm Thị Hoan.
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hà – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8 – Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Thành - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở, Toà án nhân dân khu vực 8 – Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 370/2025/TLST- HNGĐ ngày 23 tháng 10 năm 2025 về tranh chấp: “Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 12/11/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 39/2025/QĐST-HNGĐ ngày 28/11/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Bùi Phương T, sinh năm 1998; ĐKHTT và cư trú: Thôn Đ, xã G, thành phố Hải Phòng. CCCD số [...]. Vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Phan Văn D, sinh năm 1996; ĐKHTT và cư trú: Thôn Đ, phường T, thành phố Hải Phòng. CCCD số [...]. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Bùi Phương T trình bày: Chị với anh Phan Văn D được tự do tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã G (nay là phường T, thành phố Hải Phòng) ngày 01/01/2018. Sau khi kết hôn, vợ chồng sinh sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không cùng quan điểm sống, gia đình hai bên đã hòa giải nhiều lần nhưng không khắc phục được. Vợ chồng đã ly thân từ tháng 01/2025 đến nay, mỗi người một nơi không ai quan tâm đến ai. Nay chị nhận thấy tình cảm vợ chồng với anh D không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh D; Vợ chồng chị có 02 con chung là Phan Gia H, sinh ngày 29/9/2018 và Phan Tuấn K, sinh ngày 11/9/2020. Từ khi ly thân, các con ở cùng chị, do vậy khi ly hôn chị đề nghị được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cả hai con chung và tự nguyện không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung, nợ chung, công sức không đề nghị Tòa án giải quyết. Chị xin vắng mặt tại phiên tòa.
Tại biên bản lấy lời khai, bị đơn anh Phan Văn D trình bày: Về thời gian và điều kiện kết hôn thống nhất như chị T trình bày. Anh xác định vợ chồng có mâu thuẫn, anh cũng không hiểu lý do vì sao chị T bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống. Vợ chồng đã ly thân mỗi người một nơi. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng với chị T không còn, chị T xin ly hôn, anh đồng ý; Vợ chồng anh chị có 02 con chung thống nhất như chị T trình bày, chị T xin nuôi cả hai con và tự nguyện không yêu cầu anh cấp dưỡng nuôi con, anh đồng ý; Vợ chồng không có tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại đơn trình bày của cháu Phan Gia H thể hiện: Cháu có nguyện vọng ở cùng mẹ khi bố mẹ ly hôn.
Tại biên bản lấy lời khai bà Phạm Thị Q trình bày: Bà là mẹ đẻ của anh D. Anh D, chị T lấy nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn theo quy định. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, đã ly thân mỗi người một nơi, chị T không về nhà và cũng không còn quan tâm đến anh D. Nay chị T xin ly hôn là do chị T, anh D quyết định; Về con chung đề nghị giải quyết đảm bảo quyền lợi cho các cháu; vợ chồng anh chị không có tài sản chung.
Tại biên bản xác minh tại chính quyền địa phương thể hiện: Chị T, anh D lấy nhau trên cơ sở tự nguyện, quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc đến khoảng tháng 01 năm 2025 thì chị T về gia đình nhà bố mẹ đẻ sinh sống còn nguyên nhân cụ thể như thế nào địa phương không nắm được. Vợ chồng ly thân từ đó đến nay đề nghị Toà án giải quyết đơn ly hôn chị T theo quy định. Vợ chồng anh chị có hai con chung thống nhất như chị T trình bày, đề nghị giải quyết theo quy định. Vợ chồng có tài sản chung, nợ chung gì không địa phương không nắm được.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật TTDS năm 2015; Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của tòa án. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Phương T, xử cho chị T ly hôn anh Phan Văn D; Về quan hệ con chung: Giao cháu Phan Gia H, sinh ngày 29/9/2018 và Phan Tuấn K, sinh ngày 11/9/2020 cho chị T chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi, anh D không phải cấp dưỡng tiền nuôi con; Về án phí: Chị T phải chịu án phí sơ thẩm ly hôn theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của các đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Anh D đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú tại phường T, thành phố Hải Phòng. Do vậy vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân khu vực 8 – Hải Phòng theo quy định tại Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 35 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, khoản 1 Điều 4 Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị T, anh D được tự do tìm hiểu và có đăng ký kết hôn theo quy định. Do vậy, quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Lời khai chị T, anh D và người làm chứng là mẹ đẻ anh D và kết quả xác minh tại chính quyền địa phương thể hiện quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có sự tin tưởng, yêu thương, chăm sóc nhau và đã sống ly thân. Nay chị T, anh D xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị T xin ly hôn, anh D đồng ý nên cần căn cứ cho chị T ly hôn anh D là phù hợp quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình.
[2.2] Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung Phan Gia H, sinh ngày 29/9/2018 và Phan Tuấn K, sinh ngày 11/9/2020. Chị T có nguyện vọng được nuôi cả hai con và tự nguyện không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con, anh D đồng ý. Hiện các con đều ở cùng mẹ, cháu H có nguyện vọng ở cùng mẹ khi bố mẹ ly hôn. Do vậy cần giao cho chị T tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cả hai con chung cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, chấp nhận sự tự nguyện của chị T về việc không yêu cầu anh D cấp dưỡng tiền nuôi con chung là phù hợp quy định tại Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân gia đình.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp cho gia đình hai bên: Chị T, anh D không yêu cầu Tòa án giải quyết do vậy HĐXX không xem xét giải quyết.
[2.4] Về án phí: Chị T xin ly hôn nên phải chịu án phí sơ thẩm ly hôn theo quy định tại điểm a mục 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 35 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, khoản 1 Điều 4 Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Phương T.
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Bùi Phương T ly hôn anh Phan Văn D.
- Về nuôi con chung: Giao cháu Phan Gia H, sinh ngày 29/9/2018 và Phan Tuấn K, sinh ngày 11/9/2020 cho chị Bùi Phương T tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Chấp nhận sự tự nguyện của chị T về việc không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con chung. Anh D được quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.
- Về án phí: Buộc chị Bùi Phương T phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm Hôn nhân và gia đình nhưng được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị T đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0004189 ngày 17/10/2025 của Phòng thi hành án dân sự khu vực 8 – Hải Phòng. Chị T đã thực hiện xong nghĩa vụ về án phí ly hôn sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Chị Bùi Phương T và anh Phan Văn D vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận: - VKSND khu vực 8 – Hải Phòng; - Phòng THADS khu vực 8 – Hải Phòng; - Các đương sự; - UBND phường Thạch Khôi, TP Hải Phòng (ĐKKH ngày 01/01/2018); - Lưu hồ sơ. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Nhan |
Bản án số 62/2025/HNGĐ-ST ngày 05/12/2025 của Toà án nhân dân khu vực 8 – Hải Phòng về ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 62/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Toà án nhân dân khu vực 8 – Hải Phòng
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bùi Phương T - Phan Văn D tranh chấp ly hôn, con chung
