Hệ thống pháp luật

TÒA PHÚC THẨM

TAND TỐI CAO TẠI HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 613/2025/HS-PT

Ngày: 29/12/2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA PHÚC THẨM TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hải Thanh;

Các Thẩm phán: Ông Đặng Văn Hưng;

Ông Ngô Quang Dũng.

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Phạm Nữ Quỳnh Trâm - Thư ký viên Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội.

Đại diện Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn H, Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng, Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 412/2025/TLPT-HS ngày 02 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo Phạm Văn L và Vương Hoàng T. Do có kháng cáo của các bị cáo và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng đối với Bản án Hình sự sơ thẩm số 208/2025/HS- ST ngày 05 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

* Bị cáo có kháng cáo:

1. Phạm Văn L; giới tính: Nam; sinh ngày: 27/3/2000 tại: Bình Phước; nơi ĐKHKTT: Tổ E T, quận K (nay phường K), thành phố Hải Phòng. Nơi ở: Số A T, T, quận K (nay phường K), thành phố Hải Phòng; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; con ông Phạm Văn D và bà Võ Thị Kim D1; bị cáo chưa có vợ; có 01 con sinh năm 2018.

Tiền án, tiền sự:

  • - Bản án số 36 ngày 31/10/2017 của Tòa án nhân dân quận Kiến An, Hải Phòng xử phạt 12 tháng cải tạo không giam giữ về tội Trộm cắp tài sản, quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự (Khi phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi);
  • - Bản án số 03 ngày 21/02/2019 của Tòa án nhân dân quận Kiến An, Hải Phòng xử 30 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” (Chưa được xóa án tích).
  • - Bản án số 25 ngày 07/6/2022 của Tòa án nhân dân quận Kiến An, Hải Phòng xử 02 năm tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” (Chưa được xóa án tích). Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/01/2025, đến ngày 21/01/2025 chuyển tạm giam đến nay tại Trại tạm giam số 1, Công an thành phố H.

2. Vương Hoàng T; giới tính: Nam; sinh ngày: 27/9/1993 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn M, xã M, huyện A (nay là xã A), thành phố Hải Phòng; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; con ông Vương Gia Đ (đã chết) và bà Bùi Thị T1; bị cáo có vợ Đỗ Thị N; có 02 con, con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2020.

Tiền án, tiền sự:

  • - Bản án số 09/HSST ngày 22/3/2010 của Tòa án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng xử phạt 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích”, quy định tại khoản 3 Điều 104 Bộ luật Hình sự (Khi phạm tội bị cáo14 tuổi 02 tháng 22 ngày).
  • - Bản án số 52/HSST ngày 06/4/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, 12 tháng tù về tội “Chiếm giữ trái phép tài sản”. Tổng hợp hình phạt buộc chấp hành hình phạt chung là 21 tháng tù (Chưa được xóa án tích).
  • Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/01/2025, đến ngày 21/01/2025 chuyển tạm giam đến nay tại Trại tạm giam số 1, Công an thành phố H.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do cần tiền chi tiêu và trả nợ cá nhân, Phạm Văn L rủ Vương Hoàng T đi tìm xem có ai sơ hở để chiếm đoạt tài sản. Khoảng 19 giờ ngày 09/01/2025, Phạm Văn L điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner X, màu đen, BKS: 24B3 - 055.63 (đã tháo BKS) đến đón Vương Hoàng T tại khu vực chân cầu N thuộc xã V, thành phố Hải Phòng rồi điều khiển xe đi lòng vòng qua các tuyến đường mục đích tìm đối tượng có tài sản để chiếm đoạt.

Khoảng 02 giờ ngày 10/01/2025, Vương Hoàng T điều khiển xe chở Phạm Văn L đi đến khu vực ngã tư Quốc lộ A - T, thành phố Hải Phòng thì phát hiện chị Lê Thị H1, sinh năm 1988, trú tại: T, phường L, thành phố Hải Phòng đang điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda SH, màu đen, BKS: 15D1 - 356.56 lưu thông trên Quốc lộ A theo hướng từ Hưng Yên => Hải Phòng. Thấy chị H1 điều khiển xe đi một mình, đường vắng, nên cả hai bàn nhau đi theo để chiếm đoạt xe của chị H1. Vương Hoàng T điều khiển xe vòng lại đi cùng chiều với chị H1, khi đến khu vực chân cầu T thuộc địa phận xã Đ, thành phố Hải Phòng, Vương Hoàng T điều khiển xe áp sát bên phải xe của chị H1 rồi ép đầu xe làm xe chị H1 bị đổ nghiêng về phía lề đường. Phạm Văn L nhảy xuống, giằng tay lái nhưng bị chị H1 chống trả. Chị H1 cầm vào tay ga của xe giằng lại nên xe chồm lên quay đầu ngược lại phía sau làm cả Phạm Văn L và chị H1 đều ngã ra đường. Vương Hoàng T xuống xe đi đến hỗ trợ Phạm Văn L, ôm giữ chị H1 để Phạm Văn L lấy xe và nổ máy để bỏ chạy nhưng không được. Nghĩ rằng chìa khóa xe để trong ba lô nên Phạm Văn L đã lấy ba lô chị H1 đang rơi trên đường đặt vào chỗ để chân của chiếc xe Honda SH thì nổ được máy. Sau đó, Phạm Văn L điều khiển chiếc xe của chị H1, Vương Hoàng T điều khiển chiếc xe Winner X, chạy vào khu vực bờ mương thuộc địa phận xã Đ, thành phố Hải Phòng thì dừng lại. Phạm Văn L và T kiểm tra trong cốp xe có 01 áo mưa, trong balo có: 01 thẻ căn cước công dân mang tên Lê Thị H1, 01 Giấy chứng nhận đăng ký Honda SH, 01 pin sạc dự phòng và 01 tai nghe bluetooth. Phạm Văn L giữ lại thẻ căn cước công dân và Giấy chứng nhận đăng ký xe, T giữ lại 01 pin sạc dự phòng, 01 tai nghe bluetooth và vứt balo xuống mương nước rồi cả hai điều khiển xe về hướng thị trấn T, Hải Phòng. Trên đường đi, cả hai dừng lại lấy cờ lê tháo biển kiểm soát xe máy của chị H1 cất vào cốp, sau đó Vương Hoàng T và Phạm Văn L ai về nhà nấy.

Sau khi về nhà, Phạm Văn L lên mạng xã hội Facebook tìm được cửa hàng của anh Vũ Văn Q, sinh năm 1997, trú tại xã K, thành phố Hải Phòng và liên hệ để bán xe của chị H1. Phạm Văn L nói với anh Q, bản thân không có nhu cầu sử dụng nên muốn bán 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda SH do chị gái mua cho đứng tên chính chủ là Lê Thị H1, thỏa thuận giá xe là 63.000.000 đồng.

Ngày 12/01/2025, Phạm Văn L điều khiển xe Honda SH đến đón Vương Hoàng T rồi cùng đi đến cửa hàng của anh Q bán xe với giá 63.000.000 đồng. Phạm Văn L mua của anh Q 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade màu xanh tím than không đeo biển kiểm soát, có hồ sơ gốc kèm theo với giá 37.000.000 đồng. Số tiền còn lại 26.000.000 đồng, anh Q chuyển vào tài khoản Ngân hàng của Vương Hoàng T. Sau đó, cả hai đi đến 01 cửa hàng điện thoại (không nhớ địa chỉ) để Vương Hoàng T rút tiền mặt số tiền 26.000.000 đồng, T đưa cho Phạm Văn L 500.000 đồng để đổ xăng xe, số tiền còn lại T chi tiêu hết cho mục đích cá nhân.

Cơ quan Cảnh sát điều tra công an thành phố H đã thu giữ: 01 xe mô tô Honda Winner BKS: 24B3 - 055.63 là phương tiện các đối tượng sử dụng để đi cướp tài sản (thuộc sở hữu của anh Phạm Văn P, sinh năm 1991, trú tại xã T, tỉnh Lào Cai đã cầm cố cho L trước đó); 01 xe mô tô Honda SH150 BKS: 15D1-356.56; 01 xe mô tô Honda Airblade không đeo biển kiểm soát; 01 đôi giày thể thao, loại vải màu đen đế trắng phía ngoài gót giày có nhãn hiệu DESIGNED 2020 tại nhà của Phạm Văn L; 01 sạc dự phòng nhãn hiệu Samsung loại 20.000mAh, kèm theo 01 dây cáp sạc màu đen, đã qua sử dụng; 01 tai nghe bluetooth bên phải nhãn hiệu Samsung màu đen, đã qua sử dụng do Vương Hoàng T giao nộp.

Tại Kết luận định giá tài sản số 04 ngày 16/01/2025 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện T xác định: 01 ba lô giả da, không nhãn hiệu màu đen, có quai đeo hai bên, đã qua sử dụng giá trị 270.000 đồng; 01 sạc dự phòng nhãn hiệu Samsung 20.000mAh, loại sạc nhanh 25w, 03 cổng sạc và kèm theo 01 cáp sạc màu đen, đã qua sử dụng giá trị 1.000.000 đồng; 01 đồng hồ nhãn hiệu Samsung Galaxy Watch 6 Classic, đã qua sử dụng giá trị 4.500.000 đồng; 01 tai nghe bên phải nhãn hiệu Samsung Galaxy Budsfe màu đen, đã qua sử dụng giá trị 300.000 đồng; 01 hộp kem dưỡng ẩm lô hội nhãn hiệu ALONINS có vỏ bằng nhựa cứng màu xanh, đã qua sử dụng giá trị 80.000 đồng; 01 kính mắt gọng bằng nhựa màu đen nhạt, đã qua sử dụng giá trị 900.000 đồng; 01 xe máy nhãn hiệu Honda SH 150, màu đen, BKS: 15D1-356.56, số máy KF42E1032214, số khung RLHKF4213LY023413, đã qua sử dụng giá trị 83.000.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là 90.050.000 đồng.

Cơ quan điều tra đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 488 ngày 24/02/2025 về tỷ lệ phần trăm tổn hại về sức khỏe của chị Lê Thị H1. Tại Kết luận giám định số 108/KLGĐ-TTPY ngày 03/3/2025 của Trung tâm P1 kết luận: “Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lê Thị H1 tại thời điểm giám định là 0%".

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 208/2025/HS-ST ngày 05 tháng 9 năm 2025, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng đã quyết định

Căn cứ điểm d, đ, h khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1 và 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38 và Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phạm Văn L;

Căn cứ điểm d, đ khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1 và 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38 và Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Vương Hoàng T;

Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố: Các bị cáo Phạm Văn L, Vương Hoàng T phạm tội “Cướp tài sản”.

Xử phạt Phạm Văn L 15 (Mười lăm) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 17/01/2025.

Xử phạt Vương Hoàng T 12 (Mười hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 17/01/2025.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

  • - Ngày 10/9/2025 bị cáo Phạm Văn L có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.
  • - Ngày 11/9/2025, bị cáo Vương Hoàng T có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.
  • - Ngày 10/09/2025, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng có quyết định kháng nghị số 08/QĐ-VKS-P3 với nội dung đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm giảm hình phạt cho các bị cáo Phạm Văn L và Vương Hoàng T.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

  • - Cả hai bị cáo đều giữ nguyên kháng cáo đề nghị được giảm nhẹ hình phạt. Không xuất trình thêm tài liệu, chứng cứ nào mới.
  • - Đại diện Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Hà Nội có quan điểm: Giữ nguyên quyết định kháng nghị số 08/QĐ-VKS-P3 ngày 10/09/2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng. Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Phạm Văn L và Vương Hoàng T mỗi bị cáo từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Kháng cáo của các bị cáo Phạm Văn L, Vương Hoàng T và Quyết định kháng nghị số 08/QĐ-VKS-P3 ngày 10/09/2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng trong thời hạn, có nội dung và hình thức phù hợp với quy định tại các Điều 331, 332, 333, 336, 337 Bộ luật Tố tụng hình sự nên được giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

[2] Những người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng của thành phố Hải Phòng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[3] Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, vật chứng thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 19h00' ngày 09/01/2025, Phạm Văn L điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Winner X, màu đen, BKS: 24B3 - 055.63 chở Vương Hoàng T đi lòng vòng trên các tuyến đường thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản. Đến khoảng 02 giờ ngày 10/01/2025, tại khu vực chân cầu T thuộc xã Q, thành phố Hải Phòng, hai bị cáo phát hiện chị Lê Thị H1, sinh năm 1988, trú tại: T, phường L, thành phố Hải Phòng đang điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda SH, BKS: 15D1 - 356.56, T điều khiển xe mô tô áp sát, ép đầu xe làm cho chị H1 bị đổ xe, ngã ra đường. Sau đó Phạm Văn L và Vương Hoàng T đã chiếm đoạt chiếc xe mô tô và một số tài sản khác trong túi xách của chị H1. Kết quả định giá đã xác định tổng trị giá tài sản các bị cáo đã chiếm đoạt được của bị hại là 90.050.000 đồng.

[4] Căn cứ vào giá trị tài sản các bị cáo chiếm đoạt, phương tiện, thủ đoạn nguy hiểm khi các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của cả hai bị cáo thuộc trường hợp quy định tại điểm d, đ khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự. Bị cáo L là đối tượng tái phạm nay lại phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý nên phạm tội thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm”, là tình tiết định khung được quy định tại điểm h khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự.

[5] Xét kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng và kháng cáo của các bị cáo về việc đề nghị giảm nhẹ hình phạt.

[5.1] Hội đồng xét xử xét thấy: Phạm Văn L là người khởi xướng, chuẩn bị phương tiện phạm tội và bàn bạc cùng với Vương Hoàng Trung thực H2 hành vi phạm tội, bị cáo Vương Hoàng T đã lập tức nhất trí và trực tiếp điều khiển xe ép sát xe của bị hại, hỗ trợ Phạm Văn L chiếm đoạt tài sản của bị hại. Sau khi chiếm đoạt được tài sản của bị hại, Phạm Văn L là người lên mạng xã hội Facebook để tìm nơi bán xe máy; Phạm Văn L được hưởng lợi nhiều hơn T. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định Phạm Văn L giữ vai trò chính, Vương Hoàng T là đồng phạm với vai trò giúp sức, từ đó quyết định hình phạt với Phạm Văn L cao hơn Vương Hoàng T là phù hợp.

[5.2] Cả hai bị cáo đều có nhân thân xấu đã nhiều lần, liên tục bị kết án nhưng không lấy đó làm bài học để tu dưỡng bản thân. Bị cáo Phạm Văn L phạm tội thuộc trường hợp “tái phạm nguy hiểm”, bị cáo Vương Hoàng T phạm tội thuộc trường hợp “tái phạm”; khi thực hiện tội phạm các bị cáo đã sử dụng xe máy phân khối lớn đi lòng vòng trên các tuyến đường trong thời gian dài nhằm tìm kiếm đối tượng yếu thế để chiếm đoạt tài sản thể hiện ý thức chủ động, quyết tâm phạm tội rất cao, việc lợi dụng trời khuya đêm tối, địa điểm vắng người chèn ép chiếm đoạt xe của phụ nữ khi đang lưu thông là thủ đoạn rất nguy hiểm có thể gây hậu quả xấu đến tính mạng, sức khỏe của bị hại. Bị cáo Phạm Văn L phải chịu 03 tình tiết định khung tại khoản 2 Điều 168 (d, đ, h), bị cáo Vương Hoàng T phải chịu 02 tình tiết định khung tại khoản 2 Điều 168 (d, đ) và 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” quy định tại điểm h Điều 52 Bộ luật hình sự. Vì vậy, khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo phải xem xét toàn diện các đặc điểm nhân thân, tính chất, thủ đoạn phạm tội, mức độ nguy hiểm do hành vi của các bị cáo đã gây ra cho xã hội, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 50 Bộ luật hình sự, không chỉ căn cứ vào giá trị tài sản chiếm đoạt để quyết định hình phạt. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét tháy: Mặc dù tài sản các bị cáo chiếm đoạt có giá trị chưa đến 50% giá trị tài sản cao nhất theo quy định tại khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự như đã nêu trong Quyết định kháng nghị, tuy nhiên mức hình phạt 15 năm tù đối với bị cáo Phạm Văn L, 12 năm tù đối với bị cáo T mà Tòa án cấp sơ thẩm đã quyết định là thỏa đáng, ngoài mục đích trừng phạt, còn giáo dục các bị cáo ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa họ phạm tội mới; giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm. Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm nào mới. Vì vậy, Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng và kháng cáo của các bị cáo về việc giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

[6] Về án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí tòa án: Do kháng cáo của các bị cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự;

1. Không chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng và kháng cáo của bị cáo Phạm Văn L, Vương Hoàng T về việc đề nghị giảm nhẹ hình phạt.

2. Giữ nguyên quyết định về hình phạt tại Bản án hình sự sơ thẩm số 208/2025/HS-ST ngày 05 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng như sau:

2.1. Căn cứ điểm d, đ, h khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38 và Điều 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Văn L 15 (Mười lăm) năm tù về tội “Cướp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 17/01/2025.

2.2. Căn cứ điểm d, đ khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38 và Điều 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Vương Hoàng T 12 (Mười hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 17/01/2025.

3. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Phạm Văn L, Vương Hoàng T mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.

4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Vụ 1 TAND Tối cao.
  • - VCT&KSXXPT tại Hà Nội;
  • - TAND, VKSND thành phố Hải Phòng;
  • - Công an thành phố Hải Phòng;
  • - THADS thành phố Hải Phòng;
  • - Các bị cáo (Qua TTG);
  • - Lưu HCTP, HSVA.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

(Đã ký)

Nguyễn Hải Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 613/2025/HS-PT ngày 29/12/2025 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội về hình sự phúc thẩm (tội cướp tài sản)

  • Số bản án: 613/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Tội Cướp tài sản)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 29/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tội cướp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger