|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - HƯNG YÊN TỈNH HƯNG YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 61/2025/HS-ST Ngày 18 tháng 12 năm 2025 |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – HƯNG YÊN, TỈNH HƯNG YÊN
– Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Đồng Dực
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Quang Chử
2. Bà Nguyễn Thị Kim Huyền
– Thư ký phiên tòa: Ông Chu Minh Khôi - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 – Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên.
– Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Minh Ngọc - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ân Thi (cũ), Tòa án nhân dân khu vực 1 – Hưng Yên mở phiên tòa xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 69/2025/TLST-HS ngày 25 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm Văn T; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không.
Sinh năm 1989 tại: xã P, tỉnh Hưng Yên.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không
Trình độ học vấn: 9/12
Nghề nghiệp: Lao động tự do
Nơi cư trú: Thôn Đ, xã P, tỉnh Hưng Yên.
Họ và tên cha: Phạm Văn Q Sinh năm: 1955 (Đã chết)
Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị Phượng S năm: 1955
Gia đình có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ tư.
Họ và tên vợ: Nguyễn Thị Kim Hậu S1 năm: 1992
Bị cáo có 01 con sinh năm 2017.
Tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân: Tại Bản án số 50/2012/HS-ST ngày 30/9/2013 Tòa án nhân dân huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên xử phạt 01 năm tù về tội Trộm cắp tài sản. Chấp hành xong ngày 30/4/2014.
1
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Trại tạm giam số 01, Công an tỉnh H từ ngày 17/9/2025 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
- Ông Bùi Văn T1, sinh năm: 1971 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn Đ, xã P, tỉnh Hưng Yên. - Ông Đặng Quang S2, sinh năm: 1964 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn Đ, xã Â, tỉnh Hưng Yên.
Vợ của ông S2 là bà Đoàn Thị K, sinh năm 1966, trú tại: Thôn Đ, xã Â, tỉnh Hưng Yên (có mặt). - Ông Hoàng Hữu K1, sinh năm: 1983 (có mặt)
Địa chỉ: Thôn Ấ, xã Â, tỉnh Hưng Yên.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Vũ Văn N1, sinh năm: 1981 (vắng mặt)
- Bà Lê Thị S3, sinh năm: 1983 (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Thôn A, xã P, tỉnh Hưng Yên. - Chị Vũ Thị Cẩm L, sinh năm: 2003 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn Đ, xã X, tỉnh Hưng Yên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Văn T là đối tượng nghiện ma túy, không có việc làm ổn định, do không có tiền tiêu sài nên T đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Trong các ngày 13/9/2025, 15/9/2025 và 17/9/2025 T mang theo 01 cờ lê, 01 vam phá khóa cất giấu ở túi quần bò phía trước bên phải đang mặc đi lang thang tìm tài sản để trộm cắp. Thường đã trộm cắp 03 chiếc xe mô tô trên địa bàn xã P và xã Â. Cụ thể như sau:
- Khoảng 05 giờ ngày 13/9/2025, T đi qua cánh đồng thôn Đ, xã P, tỉnh Hưng Yên thì quan sát thấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu GENTLE, biển số 89H7 - 2883 của ông Bùi Văn T1 đang dựng ở trên đường bê tông theo hướng đi từ thôn Đ ra đường gom đường cao tốc Hà Nội – Hải Phòng. Thấy chìa khóa vẫn cắm ở ổ khóa nên T ngồi lên xe và điều khiển xe đến cửa hàng mua phế liệu Nhân Sen ở thôn A, xã P gặp bà Lê Thị S3 (chủ cửa hàng) để hỏi vay 500.000 đồng và để lại chiếc xe trên, T nói khi nào có tiền sẽ quay lại lấy xe. Bà S3 đồng ý và yêu cầu T viết lại thông tin tên, địa chỉ và số căn cước công dân.
- Khoảng 12 giờ 15 phút ngày 15/9/2025, T đi đến thôn Đ, xã Â, tỉnh Hưng Yên thì thấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S màu đen – xám, biển số 89C1 – 003.84 của ông Hoàng Hữu K1 đang dựng trong sân nhà anh Trần Văn H. Thường quan sát thấy không có ai trông coi chiếc xe trên nên đã mở cổng đi vào trong sân. T dùng tay phải lấy vam phá khóa và cờ lê trong túi quần bò đang mặc rồi dùng tay phải cầm vam cắm vào ổ khóa và dùng cờ lê cắm vào vam để phá mở ổ khóa điện.
2
Thường quay đầu xe, ngồi lên dùng chân đẩy xe ra ngoài đường và nổ máy đi. T điều khiển xe đến một cửa hàng mua bán xe mô tô cũ tại xã N, tỉnh Hưng Yên (Thường không nhớ tên, địa chỉ cụ thể) để bán xe cho một người đàn ông khoảng 40 tuổi được số tiền 700.000 đồng.
- Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 17/09/2025, T đi đến thôn N, xã Â thì quan sát thấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ - đen biển số 89K1 – 6331 của ông Đặng Quang S2 đang dựng trong ngõ giáp với tường nhà văn hóa thôn N2. Thường lại gần, quan sát thấy tại ổ khóa của xe mô tô vẫn cắm chìa khóa xe, xung quanh không có người trông nom, quản lý nên T dùng hai tay quay đầu xe mô tô theo hướng vừa đi đến, ngồi lên xe dùng tay phải mở khóa điện của xe rồi nổ máy, điều khiển xe đi theo hướng ra đường QL38 đến cửa hàng T2. Tại đây T gặp chị Vũ Thị Cẩm L (là con gái bà S3). T nói với chị L “Nhà chị có mua xe máy không” thì chị L nói “nhà em chỉ mua xe đồng nát thôi”. Chị L hỏi xe của ai thì T nói là xe của T. Sau đó T mượn chiếc búa tạ để ở góc sân nhà chị L rồi dùng búa đập vào phần đầu, đuôi và máy của xe mô tô làm vỡ và hư hỏng xe. Chị L trả cho T số tiền 800.000 đồng.
Số tiền các lần vay, bán xe mô tô Thường đã tiêu sài cá nhân hết.
Ngày 17/9/2025, Phạm Văn T đã đến Công an xã Â đầu thú và giao nộp: 01 cờ lê 8, 01 vam phá khóa, 01 mũ vải loại lưỡi trai (Bút lục số 58, 59)
Ngày 17/9/2025, ông Vũ Văn N1 và bà Lê Thị S3 đã tự nguyện giao nộp: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, sơn màu đỏ - đen, mặt đồng hồ vỡ cụm chiếu sáng phía trước, dập vỡ vỏ máy; 01 xe mô tô nhãn hiệu GENLTE mầu nâu, đã qua sử dụng, không có biển số (Bút lục số 107-108).
Ngày 17/9/2025, ông Hoàng Hữu K1 đã giao nộp 01 USB nhãn hiệu HITP loại 8GB bên trong có lưu trữ 01 file video 7022623706732 – 001 ghi lại hình ảnh đối tượng trộm cắp xe mô tô của ông K1 được trích xuất tại camera an ninh của nhà anh Trần Văn H (niêm phong ký hiệu B1) (Bút lục số 110).
Ngày 17/9/2025, ông Đặng Quang S2 đã giao nộp 01 USB nhãn hiệu MOMVAN bên trong lưu trữ 01 file video 7022623706732 – 000 ghi lại hình ảnh đối tượng trộm cắp xe mô tô của ông S2 được trích xuất tại camera an ninh của nhà anh Lâm Văn M (niêm phong ký hiệu B2) (Bút lục số 109).
Cơ quan điều tra đã mở 02 video trên cho bị can Thường nhận diện đối tượng trộm cắp, kết quả: bị cáo T xác định người thực hiện hành vi trộm cắp tài sản ngày 15/9/2025 và 17/9/2025 trong đoạn video chính là T (Bút lục số 105, 106)
Tại Bản kết luận giám định số 1576/KL-KTHS ngày 12/11/2025 của Phòng K2 Công an tỉnh H kết luận: Không phát hiện thấy dấu hiệu cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong 02 file video gửi giám định (Bút lục số 27).
Kết luận định giá tài sản số 28 ngày 26/9/2025 và Công văn số 29/CV-HĐĐG ngày 29/9/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Hưng Yên-UBND tỉnh H kết luận: Xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ - đen, biển số 89K1 – 6331, đăng ký lần đầu ngày 22/8/2007, đã qua sử dụng, có nhiều vết trầy xước trị
3
giá 4.000.000 đồng; Xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S màu đen – xám, biển số 89C1 – 003.84, đăng ký lần đầu ngày 18/02/2011, đã qua sử dụng, có nhiều vết trầy xước trị giá 3.700.000 đồng; Xe mô tô vỏ bên ngoài dán nhãn hiệu GENTLE, màu nâu bị dập vỡ phần đuôi xe, xe không có biển số, đã qua sử dụng, có nhiều vết trầy xước trị giá 800.000 đồng (Bút lục số 24 - 25).
Quá trình điều tra, bị cáo Phạm Văn T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Về vật chứng của vụ án: Ngày 12/11/2025, Cơ quan điều tra đã trả lại ông Đặng Quang S2 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ đen biển số 89K1 – 6331; trả lại ông Bùi Văn T1 chiếc xe mô tô biển số 89H7 – 2883 (Bút lục số 41C, 42C). Đối với: 01 cờ lê, 01 mũ vải loại lưỡi trai, 01 vam phá khóa được quản lý tại kho vật chứng Công an tỉnh H; 02 USB ghi lại hình ảnh đối tượng trộm cắp xe mô tô của ông S2, ông K1 đưa vào hồ sơ vụ án (Bút lục số 34).
Về trách nhiệm dân sự:
Ông Hoàng Hữu K1 yêu cầu bị cáo T phải trả lại chiếc xe mô tô biển số 89C1 – 003.84 cho ông hoặc trả lại bằng số tiền tương đương với giá trị xe mô tô thời điểm hiện tại (Bút lục số 86). Gia đình ông Vũ Văn N1 không yêu cầu bị cáo T phải trả lại số tiền đã vay của bà S3 và tiền ông N1, chị L mua chiếc xe mô tô của T (Bút lục 90). Ông Đặng Quang S2 và ông Bùi Văn T1 không yêu cầu bị cáo T phải bồi thường gì (Bút lục 41A, 42A)
Đối với ông Vũ Văn N1, chị Vũ Thị Cẩm L khi mua xe mô tô nhãn hiệu Honda, sơn màu đỏ - đen, biển số 89K1 – 6331 không biết chiếc xe là do bị cáo T trộm cắp mà có nên không có căn cứ xử lý đối với ông N1 và chị L (Bút lục số 90 – 96).
Đối với bà Lê Thị S3 cho bị cáo T vay số tiền 500.000 đồng, bị cáo T đã để lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu GENLTE, màu nâu và hẹn có tiền sẽ đến lấy xe. Bà S3 không biết đây là xe mô tô do bị cáo T trộm cắp mà có nên không có căn cứ xử lý đối với bà S3 (Bút lục số 87 – 89).
Tại bản Cáo trạng số 43/CT-VKSKV1 ngày 24/11/2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Hưng Yên đã truy tố bị cáo Phạm Văn T về tội Trộm cắp tài sản, quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
* Tại phiên tòa: Bị cáo Phạm Văn T đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất, để sớm trở về với gia đình và xã hội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Hưng Yên giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích, đánh giá hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo đã giữ nguyên quan điểm
4
truy tố như nội dung bản Cáo trạng số 43/CT-VKSKV1 ngày 24/11/2025. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:
* Về trách nhiệm hình sự:
- - Hình phạt chính: Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 BLHS. Xử phạt bị cáo Phạm Văn T từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam.
- - Hình phạt bổ sung : bị cáo làm nghề lao động tự do, thu nhập không ổn định nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
* Xử lý vật chứng: Áp dụng Khoản 1 Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 vam phá khóa, 01 cờ lê, 01 mũ lưỡi trai.
- - Đưa vào hồ sơ vụ án 02 usb
* Trách nhiệm dân sự : Áp dụng Điều 584, 585, 589 Bộ luật dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho ông Hoàng Hữu K1 số tiền 3.700.000 đồng. Áp dụng Công văn số 233/TANDTC – PC ngày 01/10/2019 của Tòa án nhân dân tối cao ghi nhận việc ông N1, bà S3 không yêu cầu bị cáo T bồi thường số tiền vay và mua tài sản và tự nguyện cho bị cáo số tiền là 1.300.000 đồng
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an tỉnh H; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Hưng Yên; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Những người vắng mặt đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ vụ án, sự vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Căn cứ khoản 1 Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục xét xử vụ án.
[3] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo T đã thành khẩn khai nhận hành vi trộm cắp tài sản như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Hưng Yên đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với Biên bản hỏi cung bị can, lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, biên bản khám xét nơi ở, kết luận giám định và định giá tài sản cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong
5
hồ sơ vụ án đã được kiểm tra, tranh tụng tại phiên tòa. Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Trong các ngày 13, 15, 17 tháng 9 năm 2025 tại địa bàn xã P và xã Â, tỉnh Hưng Yên, Phạm Văn T đã có hành vi trộm cắp 03 xe mô tô, cụ thể: Ngày 13/9/2025 trộm cắp 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu GENTLE, biển số 89H7 – 2883 của ông Bùi Văn T1 trị giá 800.000 đồng. Ngày 15/9/2025 trộm cắp 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S màu đen – xám, biển số 89C1 - 003.84 của ông Hoàng Hữu K1 trị giá 3.700.000 đồng. Ngày 17/9/2025 trộm cắp 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ - đen biển số 89K1 - 6331 của ông Đặng Quang S2 trị giá 4.000.000 đồng. Tổng giá trị tài sản trộm cắp là 8.500.000 đồng.
Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Hành vi của bị cáo T là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật trị an xã hội và hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự nên có đủ nhận thức để biết rằng hành vi của mình là trái pháp luật nhưng bị cáo vẫn thực hiện với lỗi cố ý. Bản thân bị cáo có sức khỏe, đang độ tuổi lao động, lẽ ra bị cáo phải kiếm tiền bằng lao động chân chính, nhưng do lười lao động lại muốn kiếm tiền một cách dễ dàng để thỏa mãn nhu cầu của bản thân nên bị cáo đã chiếm đoạt tài sản của người khác một cách trái pháp luật. Do vậy, hành vi của các bị cáo Phạm Văn T đã cấu thành tội Trộm cắp tài sản được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Như vậy, việc Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Hưng Yên truy tố bị cáo T về tội danh và điều khoản nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt ngoài việc đánh giá tính chất mức độ của hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử còn cân nhắc, xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo.
[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo nhiều lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nên bị cáo phải chịu một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội, bị cáo Phạm Văn T đầu thú. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo T đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình và có thái độ ăn năn, hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo T có nhân thân xấu, bị cáo đã bị Tòa án xét xử về tội Trộm cắp tài sản.
[5] Về hình phạt chính: Bị cáo đã bị kết án về tội trộm cắp tài sản nhưng không lấy đó làm bài học để tiếp thu cải tạo mình, nay bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản có giá trị, điều đó chứng tỏ bị cáo rất coi thường pháp luật.
6
Do vậy, ở lần phạm tội này xét thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo, bắt bị cáo cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội. Hội đồng xét xử nhận thấy mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Hưng Yên đề nghị là phù hợp nên cần chấp nhận.
[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có việc làm ổn định, không có tài sản chung, riêng có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Về trách nhiệm dân sự:
Ông Hoàng Hữu K1 yêu cầu bị cáo T phải trả lại chiếc xe mô tô biển số 89C1 – 003.84 cho ông K1 hoặc trả lại bằng số tiền tương đương với giá trị xe mô tô thời điểm hiện tại. Hiện nay, chiếc xe mô tô biển số 89C1 – 003.84 chưa được tìm thấy, không thu hồi được và bị cáo cũng chưa bồi thường cho ông K1 nên cần buộc bị cáo bồi thường cho ông K1 số tiền tương đương với giá trị xe mô tô thời điểm hiện tại là 3.700.000 đồng.
Đối với tài sản bị cáo chiếm đoạt là 01 xe môtô nhãn hiệu GENTLE, màu nâu, biển số 89H7 – 2883 của ông Bùi Văn T1 và 01 xe môtô nhãn hiệu Honda Wave, màu đỏ - đen, biển số 89K1 – 6331 của ông Đặng Quang S2, cơ quan Công an đã thu hồi toàn bộ và trả lại cho các bị hại là đúng pháp luật. Các bị hại không yêu cầu bị cáo T phải bồi thường gì nên không đặt ra giải quyết.
[8] Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp
- - Đối với 01 cờ lê, 01 mũ vải loại lưỡi trai, 01 vam phá khóa là tài sản của bị cáo T, bị cáo đã sử dụng làm công cụ phương tiện phạm tội, xét giá trị không lớn nên cho tịch thu, tiêu huỷ.
- - Gia đình ông Vũ Văn N1 không yêu cầu bị cáo T phải trả lại số tiền đã vay của bà S3 và tiền ông N1, chị L mua chiếc xe mô tô của Thường tổng cộng là 1.300.000 đồng. Tại phiên tòa, bà S3 cũng có đơn không yêu cầu bồi thường thiệt hại. Do đó, Hội đồng xét xử ghi nhận việc ông N1, bà S3 không yêu cầu bị cáo T bồi thường số tiền vay và mua tài sản và tự nguyện cho bị cáo số tiền là 1.300.000 đồng.
- - Đối với 02 USB ghi lại hình ảnh đối tượng trộm cắp xe mô tô của ông S2, ông K1 đã đưa vào hồ sơ vụ án nên tiếp tục lưu tại hồ sơ vụ án.
[9] Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí theo quy định.
[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của khoản 1, khoản 4 Điều 331; Điều 332 và khoản 1, khoản 3 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
7
[11] Về các vấn đề khác có liên quan:
- - Ông Vũ Văn N1, chị Vũ Thị Cẩm L khi mua xe mô tô nhãn hiệu Honda, son màu đỏ - đen không biết chiếc xe là do bị cáoThường trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý đối với ông N1 và chị L
- - Bà Lê Thị S3 cho bị cáo T vay số tiền 500.000 đồng, bị cáo T đã để lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu GENLTE, màu nâu và hẹn có tiền sẽ đến lấy xe. Bà S3 không biết đây là xe mô tô do bị cáo T trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý đối với bà S3.
[12] Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo thi hành án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, khoản 1 và khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136; khoản 1, khoản 4 Điều 331; Điều 332; khoản 1, khoản 3 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 584, 585, 589 Bộ luật dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án đối với bị cáo Phạm Văn T.
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phạm Văn T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 17/9/2025.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
- - Tịch thu tiêu hủy 01 cờ lê, 01 mũ vải loại lưỡi trai, 01 vam phá khóa .
(Đặc điểm chi tiết các vật chứng được thể hiện theo Quyết định chuyển vật chứng số 35/QĐ-VKSKV1 ngày 24/11/2025 của VKSND Khu vực 1 - Hưng Yên và được lưu giữ tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1- Hưng Yên theo Biên bản giao, nhận vật chứng chứng ngày 02/12/2025). - - Lưu tại hồ sơ vụ án 02 USB đã đưa vào hồ sơ vụ án
- - Ghi nhận việc ông N1, bà S3 không yêu cầu bị cáo T bồi thường số tiền vay và mua tài sản và tự nguyện cho bị cáo số tiền là 1.300.000 đồng
Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo T phải trả lại ông Hoàng Hữu K1 số tiền tương đương với giá trị chiếc xe môtô thời điểm hiện tại là 3.700.000 đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án khoản tiền bồi thường, cơ quan thi hành án ra quyết định thi hành án khoản tiền bồi thường và truy thu mà người phải thi hành án không thi hành thì phải chịu lãi suất đối với số tiền chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng N3 công bố tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.
Về án phí: Bị cáo Phạm Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại và người có quyền lợi,
8
nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự, quyết định tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo thi hành án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cường chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Đồng Dực |
9
Bản án số 61/2025/HS-ST ngày 18/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - HƯNG YÊN, TỈNH HƯNG YÊN về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 61/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - HƯNG YÊN, TỈNH HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn Th - Trộm cắp tài sản
