|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG Bản án số: 607/2025/DS-PT Ngày: 10 - 12 - 2025 V/v Yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Trang.
Các Thẩm phán: Ông Ngô Đê;
Ông Nguyễn Thế Hồng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Tín - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Kim Tuyền - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số: 500/2025/TLPT-DS ngày 04 tháng 11 năm 2025 về việc “Yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 53/2025/DS-ST ngày 25 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Vĩnh Long bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 625/2025/QĐ-PT ngày 17 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1961; (có mặt)
Địa chỉ: Số Cấp P, xã P, huyện B, tỉnh Bến Tre (nay là xã T, tỉnh Vĩnh Long).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Bà Đỗ Thị T1 - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm T7 tỉnh Vĩnh Long. (có mặt)
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1964; (có mặt)
Địa chỉ: 029/PT, ấp P, xã P, huyện B, tỉnh Bến Tre (nay là xã T, tỉnh Vĩnh Long). (có mặt)
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn:
Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1989; (có mặt)
Địa chỉ: 029/PT, ấp P, xã T, tỉnh Vĩnh Long. (có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
-
Bà Hạ Thị T3, sinh năm 1964;
Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện B, tỉnh Bến Tre (nay là xã T, tỉnh Vĩnh Long).
Người đại diện theo ủy quyền của bà Hạ Thị T3:
Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1961; (có mặt)
Địa chỉ: Số Cấp P, xã P, huyện B, tỉnh Bến Tre (nay là xã T, tỉnh Vĩnh Long).
-
Anh Nguyễn Hoàng B, sinh năm 1986; (có mặt)
Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện B, tỉnh Bến Tre (nay là xã T, tỉnh Vĩnh Long).
-
Chị Nguyễn Thị Kiều T4, sinh năm 1987; (có mặt)
Địa chỉ: Ấp G, xã A, tỉnh Vĩnh Long.
- Người kháng cáo: Ông Nguyễn Văn T2, là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung bản án sơ thẩm,
* Tại đơn khởi kiện đề ngày 03/4/2023, biên bản hòa giải ngày 06/8/2025, nguyên đơn ông Nguyễn Văn T trình bày:
Đất của ông thuộc thửa số 128, tờ bản đồ số 12, diện tích được cấp 770m², có nguồn gốc của ông bà để lại cho cha ông là Nguyễn Văn T5, sau đó ông T5 để lại cho ông. Đất của ông Nguyễn Văn T2 hiện nay cũng là đất của ông bà chung để lại cho ông nội ông T2 rồi để lại cho cha ông T2 rồi ông T2 (ông nội của ông là thứ 6, ông cố ông T2 là thứ 2). Vào năm 2013, khi đoàn đo đạc theo dự án Vlap tiến hành đo đạc thì ông Nguyễn Văn T2 tranh chấp không cho đo đạc nên sự việc đã được Ủy ban nhân dân xã P giải quyết nhiều lần nhưng vẫn không thành nên ông đã khởi kiện đến Tòa án vào năm 2024.
Đất của ông không có giáp ranh với ông Nguyễn Tấn M mà chỉ có giáp với ông Nguyễn Hữu T6 (con ông Nguyễn Văn S), bà Nguyễn Thị L, Lê Văn S1. Hiện nay ông T2 vẫn cản trở không cho ông xây dựng hàng rào, xây dựng nhà ở nên ông yêu cầu ông Nguyễn Văn T2 phải chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất của ông tại thửa đất số 128, tờ bản đồ số 12, tọa lạc tại xã P, huyện B, tỉnh Bến Tre (nay là xã T, tỉnh Vĩnh Long).
* Tại biên bản hòa giải ngày 06/8/2025, bị đơn là ông Nguyễn Văn T2 trình bày:
Đất của ông hiện nay thì lúc trước là bằng khoán điền thổ thời Pháp, từ trước đến nay ông chưa có làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, người đứng bộ thửa 128 là ông Nguyễn Văn N (ông nội ông T2) rồi ông N để lại cho ông Nguyễn Văn K bằng cách thể hiện giao lại bằng khoán điền thổ và đất, còn ông làm sổ đỏ như thế nào thì ông không biết chứ diện tích đất của ông nội ông để lại là 1280m².
Do hòa giải không thành, Tòa án nhân dân khu vực 8 - Vĩnh Long đưa vụ án ra xét xử.
Tại Bản án sơ thẩm số 53/2025/DS-ST ngày 25 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Vĩnh Long quyết định (tóm tắt):
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T.
Buộc ông Nguyễn Văn T2 phải chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất có diện tích đất qua đo đạc thực tế 686.8m² thuộc thửa số 128, tờ bản đồ số 12, tọa lạc tại xã P, huyện B, tỉnh Bến Tre (nay là xã T, tỉnh Vĩnh Long). (có họa đồ ngày 26/11/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện B kèm theo).
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng khác, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 08/9/2025, bị đơn ông Nguyễn Văn T2 có đơn kháng cáo đề nghị sửa bản án sơ thẩm theo hướng bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn ông T trình bày: Ông Thuận giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và không đồng ý với kháng cáo của bị đơn.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn trình bày: Đề nghị Hồi đồng xét xử bác kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Người đại diện theo ủy quyền của ông T2 là ông P trình bày: Ông T2 không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông T. Ông T cho rằng đất của ông bà để lại cho ông T nhưng hộ ông T ngụ ở huyện G chứ không phải ở huyện B; bản đồ đất của ông T hiển thị đường đi là B - Giồng Trôm thuộc tỉnh lộ 885 chứ không phải hương lộ B - P; giáp với đất ông Nguyễn Tấn M là hộ ông T2 chứ không phải hộ ông T, đất ông Nguyễn Hữu T6 có một phần giáp ông T, một phần giáp ông T2 nhưng bản đồ ông T thì phía sau là ông M nên sai thực tế với vị trí địa lý.
Bị đơn ông T2 và người đại diện theo ủy quyền của bị đơn là ông P trình bày:
Bị đơn không rút đơn kháng cáo, không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đề nghị sửa bản án sơ thẩm theo hướng bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bị đơn kháng cáo bổ sung yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của nguyên đơn.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh B và chị T4 trình bày: Thống nhất với ý kiến của nguyên đơn, không đồng ý với kháng cáo của bị đơn.
Các đương sự không thỏa thuận được về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.
Về nội dung:
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 148, khoản 3 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, khoản 3 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Hủy toàn bộ Bản án sơ thẩm số 53/2025/DS-ST ngày 25 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Vĩnh Long và chuyển hồ sơ vụ án về Tòa án nhân dân khu vực 8 - Vĩnh Long giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm theo quy định tại khoản 3 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về án phí dân sự sơ thẩm, án phí dân sự phúc thẩm: Do hủy án nên các đương sự không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm và xem xét lại án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa; kết quả tranh tụng tại phiên tòa; ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên; xét kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn T2, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Ông Nguyễn Văn T2 kháng cáo và thực hiện thủ tục kháng cáo hợp lệ, trong thời hạn luật định nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[1.2] Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn T2 là ông Nguyễn Văn P yêu cầu kháng cáo bổ sung hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Văn T, đối với yêu cầu này chưa được Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết và không thuộc phạm vi xét xử phúc thẩm quy định tại Điều 293 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử không chấp nhận việc kháng cáo bổ sung của ông P.
[1.3] Nguyên đơn ông Nguyễn Văn T khởi kiện bị đơn ông Nguyễn Văn T2 nội dung yêu cầu ông Nguyễn Văn T2 chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 128, tờ bản đồ số 12, tọa lạc tại xã P, huyện B, tỉnh Bến Tre (nay là xã T, tỉnh Vĩnh Long) do ông Nguyễn Văn T đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp là “Yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất” nhưng tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự đều cho rằng thửa đất nêu trên thuộc quyền sử dụng của mình. Tại Biên bản hòa giải ngày 23/02/2023 của Ủy ban nhân dân xã P (BL 15-16), ông T2 cho rằng đất nhà ông T sử dụng là đất thuộc quyền sử dụng của ông T2 và không đồng ý cho ông T xây dựng hàng rào kiên cố; ông T thì yêu cầu xác định lại ranh. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông P cho rằng thửa đất 128 của ông T đang sử dụng nằm trong bằng khoán số 177 của ông T2. Như vậy, nguyên đơn cho rằng thửa đất 128 thuộc quyền sử dụng của nguyên đơn, bị đơn cũng cho rằng thửa đất 128 thuộc quyền sử dụng của bị đơn, bản chất của vụ án là tranh chấp quyền sử dụng đất, việc Tòa án sơ thẩm xác định không chính xác quan hệ pháp luật tranh chấp dẫn đến việc thu thập chứng cứ chưa toàn diện và áp dụng pháp luật nội dung không đúng.
Về tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ chưa thể hiện rõ phần đất mà các đương sự chỉ ranh có thuộc thửa đất 128 hay không để xác định có việc ông T2 cản trở quyền sử dụng đất của ông T trên phần đất thửa 128 hay không. Nguyên đơn cho rằng giữa phần đất thửa 128 của nguyên đơn và phần đất thửa 122 của bị đơn có trụ ranh nhưng các tài liệu trong hồ sơ, biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ cũng chưa xác định rõ giữa hai thửa đất có trụ ranh hay không.
Trong hồ sơ vụ án có Đơn phản tố (bút lục 46) ghi người đứng đơn là ông Nguyễn Văn T2 nhưng Tòa án sơ thẩm không xem xét đối với đơn phản tố của ông T2 để hướng dẫn sửa đổi bổ sung và thực hiện các thủ tục tố tụng liên quan yêu cầu phản tố là chưa đảm bảo quyền lợi cho ông T2.
Những thiếu sót trên cấp phúc thẩm không thể khắc phục được nên cần hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ về Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo thủ tục chung.
[3] Quan điểm của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn là không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.
[4] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng khác sẽ được giải quyết lại khi Tòa án nhân dân khu vực 8 - Vĩnh Long giải quyết lại vụ án.
[6] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do hủy án sơ thẩm nên ông T2 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 308, Điều 310 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 53/2025/DS-ST ngày 25 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Vĩnh Long.
Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân khu vực 8 - Vĩnh Long giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
Về án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng khác sẽ được giải quyết lại khi Tòa án nhân dân khu vực 8 - Vĩnh Long giải quyết lại vụ án.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Do hủy án sơ thẩm nên ông Nguyễn Văn T2 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Thu Trang |
Bản án số 607/2025/DS-PT ngày 10/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG về yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất
- Số bản án: 607/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 10/12/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp QSDĐ
