|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
|
Bản án số: 598/2025/DSPT Ngày: 09-12-2025 V/v tranh chấp quyền sử dụng đất. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG.
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Duy Mỹ Ngọc;
Các Thẩm phán: Bà Đặng Thị Ánh Bình;
Bà Nguyễn Thị Kim Chi.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Xuân Mỹ - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Phấn - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 364/2025/TLPT- DS, ngày 02 tháng 10 năm 2025, về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 48/2025/DS-ST ngày 29 tháng 4 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Vĩnh Long (trước là Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh) bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 617/2025/QĐ-PT ngày 14 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lâm Thị Tuyết L, sinh ngày 09/8/1962.
Địa chỉ: Số C, đường K, Khóm B, phường N, tỉnh Vĩnh Long (trước là số C, đường K, Khóm B, Phường G, thành phố T, tỉnh Trà Vinh); vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Trương Bảo T, sinh năm 1985.
Địa chỉ: Số C, đường K, Khóm B, phường N, tỉnh Vĩnh Long (trước là số C, đường K, Khóm B, Phường G, thành phố T, tỉnh Trà Vinh), theo văn bản ủy quyền ngày 21/4/2025; có mặt.
- Bị đơn: Ông Khưu Quang K, sinh ngày 01/01/1960
Địa chỉ: Số E, đường K, khóm C, phường N, tỉnh Vĩnh Long (trước là số E, đường K, Khóm C, Phường G, thành phố T, tỉnh Trà Vinh); có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ngân hàng Đ – Chi nhánh T1 – Phòng G
Địa chỉ: Số D, đường N, phường T, tỉnh Vĩnh Long (trước là số 457, đường N, Phường F, thành phố T, tỉnh Trà Vinh); có đơn xin xét xử vắng mặt.
Do có kháng cáo của bị đơn ông Khưu Quang K.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Vĩnh Long (trước là Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh) nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bà Lâm Thị Tuyết L là chủ sử dụng thửa đất 425, tờ bản đồ số 53, diện tích 164.7m², loại đất ở diện tích 116.3m² và đất trồng cây lâu năm diện tích 48.4m², đất tọa lạc tại Khóm C, Phường G, thành phố T, tỉnh Trà Vinh (nay là phường N, tỉnh Vĩnh Long) đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CC796439, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CS04234, cấp ngày 24/12/20215.
Nguồn gốc đất là của cụ Khưu Hóc K1 (cha ruột bà L), ngày 19/11/2015 bà L được cụ Khưu Hóc K1, cụ Trần Minh N (mẹ ruột bà L), bà Lâm Thị Tuyết L1 (chị ruột bà L); bà Lâm Thị Yến X (em ruột bà L) ký hợp đồng tặng cho bà L thửa đất 425 nêu trên.
Ông Khưu Quang K (anh ruột của bà L) đã tự ý lấn chiếm phần đất của bà L để trồng một số cây như: me, dừa, sộp, làm chuồng nuôi gà và mái che lấn qua đất của bà L khoảng 10 m², với khoảng từ 4 đến 7 trụ bê tông, hiện nay đang chuẩn bị xây hàng rào kiên cố để sử dụng trên phần đất lấn chiếm. Bà L nhiều lần yêu cầu ông K tháo dỡ các công trình phụ và di dời cây trồng để trả lại đất nhưng ông K không đồng ý, cố tình chiếm đất.
Bà L khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Khưu Quang K phải tháo dỡ, di dời tất cả công trình xây dựng, cây trồng để trả lại đất thuộc thửa 425, tờ bản đồ số 53, diện tích 164.7m² cho bà L.
Ông K không đồng ý đối với yêu cầu khởi kiện của bà L vì ông K đã được cụ nội của ông tặng cho đất từ năm 1984. Sau đó, ông K được cụ K1 cho thêm diện tích đất phía sau nhà, từ đó ông K trồng táo, ổi, seri, me, dừa, sộp và đóng chuồng gà, thời gian sử dụng từ đó đến nay là 38 năm. Trong thời gian sử dụng không xảy ra tranh chấp hay lấn chiếm, quy hoạch qua tất cả 12 Trưởng Ban N1,
Phường G, thành phố T, tỉnh Trà Vinh đều biết diện tích đất ông K đang sử dụng có rào che chắn.
Bà Lâm Thị Tuyết L khởi kiện yêu cầu ông K phải di dời các cây trồng, vật nuôi, công trình chuồng gà trên đất, ông K không đồng ý di dời tài sản nêu trên. Ông K yêu cầu Tòa án xem xét và quyết định bác yêu cầu khởi kiện của L; công nhận quyền sử dụng đất thuộc thửa đất 425 cho ông K.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 48/2025/DS-ST ngày 29/4/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Vĩnh Long (trước là Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh), Quyết định:
Căn cứ khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; các Điều 91, 92, 143, 144, 147, 156, 157, 158, 159, 160, 161, 162, 163, 164, 165, 166, 227 và 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ các Điều 163, 164, 166, 189 của Bộ luật Dân sự.
Căn cứ Điều 99; 100; 188; 202 và 203 của Luật đất đai năm 2013 và Điều 236 Luật đất đai năm 2024.
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lâm Thị Tuyết L.
-
Buộc bị đơn ông Khưu Quang K tháo dỡ, di dời tài sản trên đất (theo biên bản thẩm định ngày 18/4/2023) để trả lại phần đất diện tích đất 164.7m² có ký hiệu (A1), (B1), (B2), trong đó đất ở 116.3m² và đất trồng cây lâu năm 48.4m², thuộc thửa đất số 425, tờ bản đồ số 53, đất tọa lạc tại khóm C, Phường G, thành phố T, tỉnh Trà Vinh cho bà Lâm Thị Tuyết L sử dụng.
- * Phần đất diện tích 118.6m² (ký hiệu chữ (A1)) có tứ cận như sau:
- Hướng Đông giáp phần đất có ký hiệu chữ (B2) có số đo 9.41m;
- Hướng Tây giáp phần đất có ký hiệu chữ (1) có số đo 10.9m;
- Hướng Nam giáp phần đất có ký hiệu chữ (B4) có số đo 10.8m;
- Hướng Bắc giáp phần đất có ký hiệu chữ (A2) có số đo 12.57m.
- * Phần đất diện tích 32.0m² (ký hiệu chữ (B1)) có tứ cận như sau:
- Hướng Đông giáp phần đất có ký hiệu chữ (A1) có số đo 10.9m;
- Hướng Tây giáp thửa 157 có số đo 4.93m, giáp thửa 421 có số đo 6.35m;
- Hướng Nam giáp thửa 202 có số đo 5.07m, giáp phần đất có ký hiệu chữ (B4) có số đo 0.87m;
- Hướng Bắc giáp thửa 421 có số đo 3.77m.
- * Phần đất diện tích 2.0m² (ký hiệu chữ (B2)) có tứ cận như sau:
- Hướng Đông thửa 425 có số đo 9.55m;
- Hướng Tây giáp phần đất có ký hiệu chữ (A1) có số đo 9.41m;
- Hướng Nam giáp phần đất có ký hiệu chữ (B4) có số đo 0.13m;
- Hướng Bắc giáp phần đất có ký hiệu chữ (B3) có số đo 0.29m;
Tài sản buộc ông Khưu Quang K di dời gồm:
- Mái che khung gỗ tạp, mái tol diện tích 10m x 3,5m = 35m², giá trị còn lại 40%.
- Chuồng gà khung lưới B40 mái tol nền xi măng, diện tích 1m x 1,5m = 1,5m², giá trị còn lại 40%.
- Nhà vệ sinh khung bê tông cốt thép, tường gạch, mái tol, nền gạch men, diện tích 1,2m x 1,2m = 4,44m², giá trị còn lại 40%.
- 01 cây me 30 năm, 01 cây me 05 năm, 100 cây trúc cao 06m, 02 cây mận 06 năm, 01 cây mít 07 năm, 01 cây khế 10 năm, 02 cây dừa 20 năm, 01 cây sộp đã đốn, 01 cây chanh 20 năm, 02 cây xoài 15 năm, 01 bụi chuối.
Buộc bà Lâm Thị Tuyết L trả cho ông Khưu Quang K giá trị tài sản phải di dời trên đất với tổng số tiền 23.492.418 đồng.
Ghi nhận sự tự nguyện của L đồng ý hỗ trợ tiền tôn tạo di dời cho ông K bằng 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng và bồi thường cây trái và tài sản trên đất bằng.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí, quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 02 tháng 6 năm 2025, ông Khưu Quang K kháng cáo bản án dân sự sơ thẩm số 48/2025/DS-ST ngày 29 tháng 4 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Vĩnh Long yêu cầu cấp phúc thẩm giải quyết: Sửa toàn bộ bản án sơ thẩm số 48/2025/DS-ST ngày 29 tháng 4 năm 2025 của của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Vĩnh Long, do vi phạm thủ tục tố tụng và yêu cầu công nhận phần đất diện tích đất 164.7m², trong đó đất ở 116.3m² và đất trồng cây lâu năm 48.4m², thuộc thửa đất 425, tờ bản đồ số 53 cho ông K.
Tại cấp phúc thẩm:
- - Bị đơn ông Khưu Quang K trình bày: Giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và không cung cấp, bổ sung tài liệu chứng cứ mới.
- - Đại diện hợp pháp của bà L trình bày:
- Yêu cầu công nhận quyền sở hữu của bà L đối với các cây trồng, tài sản của ông K mà bà L đã trả giá trị các cây trồng, tài sản cho ông K với số tiền 23.492.418 đồng. Đồng ý hỗ trợ thêm công sức tôn tạo đất cho ông K số tiền 20.000.000 đồng. Tổng cộng bà L đồng ý hỗ trợ công sức tôn tạo đất cho ông K là 40.000.000 đồng. Đối với yêu cầu kháng cáo của ông K bà L không đồng ý.
- - Trình bày phát biểu của kiểm sát viên tại phiên tòa:
Về việc tuân thủ theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ theo quy định tại các Điều 285, 286 khoản 2 Điều 290, khoản 1 Điều 292, Điều 297 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng gồm: nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại các Điều 70, 71, 72, 73, 234 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 148, khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- - Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Khưu Quang K;
- - Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 48/2025/DS-ST ngày 29 tháng 4 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Vĩnh Long (trước là Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh). Tuy nhiên, cần điều chỉnh một phần nội dung về việc buộc bị đơn giao tất cả các tài sản trên đất (theo biên bản thẩm định) cho nguyên đơn và nguyên đơn được quyền sở hữu các tài sản này.
- - Ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn về việc hỗ trợ thêm cho bị đơn với số tiền là 20.000.000 đồng, tổng cộng hỗ trợ là 40.000.000 đồng.
- - Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Khưu Quang K, bà Lâm Thị Tuyết L được miễn án phí phúc thẩm do là người cao tuổi.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ thể hiện tại hồ sơ được thẩm tra tại phiên tòa; Trên cơ sở xem xét toàn diện các chứng cứ; ý kiến trình bày của các đương sự. Căn cứ vào kết quả tranh luận và phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:
-
Về thủ tục tố tụng:
Ngày 13/9/2025 Tòa án cấp sơ thẩm xét xử vắng mặt ông K, ngày 28/5/2025 Tòa án sơ thẩm tống đạt bản án cho ông K; ngày 02/6/2025 ông Khưu Quang K có đơn kháng cáo nên kháng cáo của ông K là hợp lệ được xem xét tại cấp phúc thẩm theo quy định tại Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
-
Về nội dung:
Xét yêu cầu kháng cáo của ông K: Yêu cầu công nhận phần đất diện tích 164.7m², trong đó đất ở 116.3m² và đất trồng cây lâu năm 48.4m², thuộc thửa đất 425, tờ bản đồ số 53 cho ông K.
- Về nguồn gốc thửa đất 425 là của cụ K2 Hốc Khiên được ông, bà để lại. Cụ K1 đã thực hiện việc kê khai thửa đất nên trên (BL 102A). Đến năm 1997, hộ cụ K2 Hóc Khiên kê khai với số thửa 425 và được Ủy ban nhân dân thành phố T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BY 732877, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CH 02870, ngày 11/5/2015 đối với thửa đất 425, diện tích 164.7m², loại đất ở, trồng cây lâu năm cho hộ cụ K1. Ngày 19/11/2015, hộ cụ K1 và các thành viên trong hộ cụ K1 gồm cụ Trần Minh N (vợ cụ K1), bà Lâm Thị Tuyết L1, bà Lâm Thị Yến X đã ký hợp đồng tặng cho thửa đất 425 cho bà L (BL106) thể hiện ý chí, quyền định đoạt của hộ cụ K1 là cụ K1 và các thành viên trong hộ của cụ K1. Bà L đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa 425, diện tích 164.7m² là theo trình tự thủ quy định của pháp luật (BL 4, 5, 6, 7) không ai khiếu nại, không bị cơ quan có thẩm quyền thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Từ những căn cứ nêu trên thì bà Lâm Thị Tuyết L đã được công nhận là chủ sử dụng hợp pháp đối với thửa đất 425. Ông Khưu Quang K cho rằng ông K là người được cụ K1 tặng cho thửa đất 425 nhưng ông K không cung cấp được hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa cụ K1 và ông K hoặc tài liệu, chứng cứ khác chứng minh việc cụ K1 đã tặng cho ông K thửa đất 425. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà L buộc ông K trả lại thửa đất 425 cho bà L là có căn cứ theo quy định của pháp luật. Ông K kháng cáo yêu cầu công nhận thửa đất 425 nhưng ông K không cung cấp được tài liệu, chứng cứ mới tại cấp phúc thẩm để làm thay đổi nội dung vụ án nên yêu cầu kháng cáo của ông K là không có căn cứ chấp nhận.
Đối với các cây trồng, tài sản gắn liền trên thửa đất 425, bà L thừa nhận do ông K trồng, bà L đồng ý bồi thường giá trị cây trồng, tài sản trên đất cho ông K với giá trị tài sản, cây trồng là 23.492.418 đồng là có căn cứ (tài sản bao gồm mái che khung gỗ tạp, mái tol diện tích 35m² = 3.458.000 đồng; chuồng gà khung lưới B40, mái tol nền xi măng, diện tích 1,5m² = 228.000 đồng; nhà vệ sinh khung bê tông cốt thép, tường gạch, mái tol, nền gạch men, diện tích 4,44m² = 9.851.418 đồng; 01 cây me ( 30 năm) = 1.000.000 đồng; 01 cây me (05 năm) = 525.000 đồng; 100 cây trúc cao 06m= 1.000.000 đồng; 02 cây mận (06 năm) =1.060.000 đồng; 01 cây mít (07 năm)= 520.000 đồng, 01 cây khế (10 năm)= 150.000 đồng, 02 cây dừa (20 năm)= 4.880.000 đồng; 01 cây chanh (20 năm) =180.000 đồng, 02 cây xoài (15 năm) = 600.000 đồng; 01 bụi chuối = 40.000 đồng. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm buộc bà L trả giá trị tài sản, cây trồng cho ông K nhưng không công nhận quyền sở hữu về tài sản, cây trồng cho bà L là thiếu sót ảnh hưởng đến quyền lợi của bà L. Tại cấp phúc thẩm đại diện hợp pháp của bà L có yêu cầu công nhận quyền sở hữu về tài sản, cây trồng cho bà L để
đảm bảo quyền lợi của bà L, Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa án sơ thẩm công nhận quyền sở hữu tài sản, cây trồng cho bà L.
Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện hợp pháp của bà L hỗ trợ công sức tôn tạo đất cho ông K số tiền 20.000.000 đồng. Tổng cộng bà L đồng ý hỗ trợ công sức tôn tạo đất cho ông K là 40.000.000 đồng là hoàn toàn tự nguyện, không trái với luật, đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử công nhận sự tự nguyện của đại diện hợp pháp của bà L.
Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử quyết định sửa bản án dân sự sơ thẩm số 48/2025/DS-ST ngày 29/4/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Vĩnh Long (trước đây là Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh)
Do sửa án sơ thẩm nên ông K không phải nộp án phí dân sự phúc thẩm.
Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho ông K và bà L (người cao tuổi có đơn xin miễn án phí).
Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Khưu Quang K.
Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 48/2025/DS-ST ngày 29 tháng 4 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Vĩnh Long (trước là Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh).
Áp dụng các Điều 163, 164, 166, 189 của Bộ luật dân sự. Điều 99; 100; 188; 202 và 203 của Luật đất đai năm 2013 và Điều 236 Luật đất đai năm 2024.
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lâm Thị Tuyết L.
Buộc bị đơn ông Khưu Quang K tháo dỡ, di dời tài sản trên đất (theo biên bản thẩm định ngày 18/4/2023) để trả lại phần đất diện tích 164.7m² có ký hiệu (A1), (B1), (B2), trong đó đất ở 116.3m² và đất trồng cây lâu năm 48.4m², thuộc thửa đất số 425, tờ bản đồ số 53, đất tọa lạc tại khóm C, Phường G, thành phố T, tỉnh Trà Vinh cho bà Lâm Thị Tuyết L sử dụng.
- - Phần đất diện tích 118.6m² (ký hiệu chữ (A1))
- - Phần đất diện tích 32.0m² (ký hiệu chữ (B1))
- - Phần đất diện tích 2.0m² (ký hiệu chữ (B2))
-
Buộc bà Lâm Thị Tuyết L bồi thường cho ông Khưu Quang K giá trị tài sản, cây trồng số tiền 23.492.418 đồng (hai mươi ba triệu bốn trăm chín mươi hai ngàn bốn trăm mười tám đồng)
Bà Lâm Thị Tuyết L được quyền sở hữu các tài sản, cây trồng đã bồi thường giá trị cho ông Khưu Quang K.
- Công nhận sự tự nguyện của bà Lâm Thị Tuyết L (do người đại diện hợp pháp của bà L) hỗ trợ công sức tôn tạo đất cho ông Khưu Quang K số tiền 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng).
- Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
- Những quyết định khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không giải quyết, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
-
Về án phí.
- - Về án án dân sự sơ thẩm: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho ông Khưu Quang K và bà Lâm Thị Tuyết L (do bà L, ông K là người cao tuổi có đơn xin miễn án phí).
- - Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Khưu Quang K không phải nộp án phí phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a, 7b, 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 luật thi hành án dân sự.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Theo sơ đồ khu đất do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai khu vực 10 - Vĩnh Long (trước là Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố T, tỉnh Trà Vinh).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Đặng Duy Mỹ Ngọc |
Bản án số 598/2025/DSPT ngày 09/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 598/2025/DSPT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 09/12/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm
