|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 – ĐẮK LẮK |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 59/2025/HNGĐ-ST
Ngày 08/12/2025
V/v Tranh chấp ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 – ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Thùy Trân.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đào Thị Ngâm và bà Bùi Thị Lê;
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Lê Vũ Trang Nhi – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 11 – Đắk Lắk.
Ngày 08 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11 – Đắk Lắk mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 127/2025/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 10 năm 2025 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Hoàng C, sinh năm 1989. Địa chỉ: khu phố Đ, phường Đ, thành phố Đà Nẵng. Ông C có mặt.
- Bị đơn: Bà Phạm Lê Hoài N, sinh năm 1990. Địa chỉ: khu phố P, phường P, tỉnh Đắk Lắk. Bà N có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn xin ly hôn, bản tự khai nguyên đơn Nguyễn Hoàng Công trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Hoàng C và bà Phạm Lê Hoài N tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam (nay là phường Đ, tỉnh Đà Nẵng) theo Giấy chứng nhận kết hôn số 69, ngày 28/7/2020. Sau khi kết hôn, vợ chồng liên tục phát sinh nhiều mâu thuẫn liên quan đến quan điểm sống. Cả hai vợ chồng cũng nhiều lần cố gắng giải quyết tranh chấp nhưng không được. Nay ông C đề nghị Tòa án giải quyết được ly hôn với bà Phạm Lê Hoài N.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Hoàng Phương T, sinh ngày 16/11/2020. Ly hôn, bà N sẽ chăm sóc và nuôi dưỡng con (hiện nay con đang ở với bà N). Ông C tự nguyện cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000 đồng.
Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn bà Phạm Lê Hoài N trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Thống nhất như ông Công trình bày về quan hệ hôn nhân tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn vào ngày 28/7/2020, tại UBND xã Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam. Quá trình chung sống, vợ chồng đã xảy ra nhiều mâu thuẫn dẫn đến kình cãi, đánh đập do liên quan đến cuộc sống chung về tiền bạc, nhà cửa nên vợ chồng không có tiếng nói chung, ông C rất hay xem thường và xúc phạm bà N và tình trạng này kéo dài một thời gian. Vợ chồng cũng đã cố gắng hoà giải nhiều lần để có cuộc sống tốt hơn nhưng chồng và gia đình chồng có những hành xử không hay đến hai mẹ con. Bà N không thể chịu đựng được cuộc sống không có hạnh phúc nên đã dẫn con về nhà cha mẹ ruột ở Phú Yên sinh sống từ tháng 5/2024. Đến nay, bà N thấy tình cảm vợ chồng cũng không thể hàn gắn được. Nên ông C xin ly hôn thì bà N sau khi suy nghĩ kĩ đã đồng ý ly hôn.
Về con chung: Có 01 con chung là cháu Nguyễn Hoàng Phương T, sinh ngày 16/11/2020. Bà N đang nuôi dưỡng con chung nên ly hôn, bà N yêu cầu được chăm sóc nuôi dưỡng cháu T và yêu cầu ông C phải cấp dưỡng nuôi con 3.000.000 đồng/tháng.
Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên toà,
Nguyên đơn giữ nguyên ý kiến và xác định vợ chồng không thể đoàn tụ được vì trong thời gian sống ly thân, bà N đã có quan hệ tình cảm với người đàn ông khác và họ đã liên lạc với nguyên đơn nhiều lần. Sau ly hôn, nguyên đơn tự nguyện hỗ trợ cho bị đơn số tiền 30.000.000 đồng để lo cuộc sống.
Bị đơn trình bày về mâu thuẫn của vợ chồng và bà N thay đổi ý kiến về quan hệ hôn nhân: không đồng ý ly hôn vì muốn giành quyền nuôi con, quyền lợi về tài sản chung và muốn hàn gắn vợ chồng. Bà N cho biết khi về quê sống thì chỉ có bạn bè, còn người nào gọi cho nguyên đơn là việc của họ. Bà N giữ ý kiến về con chung. Đồng thời, bà N trình bày về công sức đóng góp trong thời kỳ hôn nhân, tuy nhiên tại phiên toà bị đơn không có tài liệu chứng cứ để cung cấp cho Toà án. Nên bị đơn xác định không yêu cầu về tài sản chung trong vụ án này và tách yêu cầu chia tài sản chung để giải quyết trong vụ án khác sau khi thu thập được tài liệu chứng cứ liên quan.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn cư trú tại Phường P, tỉnh Đắk Lắk nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân khu vực 11 – Đắk Lắk thụ lý thuộc thẩm quyền.
[2] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn Nguyễn Hoàng C và bị đơn Phạm Lê Hoài N tự nguyện tìm hiểu và đi đến đăng ký kết hôn, được Ủy ban nhân dân xã Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam (nay là thành phố Đà Nẵng) cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 69, ngày 28 tháng 7 năm 2020 nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp.
[2.2] Trong quá trình chung sống, vợ chồng đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống dẫn đến không có tiếng nói chung, không có hạnh phúc. Ông C và bà N đều thừa nhận trong cuộc sống chung, vợ chồng nhiều lần kình cãi, xô xát đánh đập lẫn nhau và kéo dài một thời gian nên tình cảm vợ chồng đã không thể hàn gắn được nữa dù các bên đã cố gắng thay đổi. Do bà N không thể tiếp tục chịu đựng cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc với ông C nên đã dẫn con về nhà cha mẹ ruột ở Phú Yên sinh sống từ tháng 5/2024 và các bên đã sống ly thân nhau từ đó cho đến nay. Bà N viện dẫn lý do không đồng ý ly hôn vì muốn giành quyền nuôi con và quyền lợi về tài sản là không chính đáng, bà N muốn vợ chồng đoàn tụ nhưng không đưa ra giải pháp để hàn gắn đời sống tình cảm vợ chồng, do đó Hội đồng xét xử không có căn cứ để xem xét. Xét thấy, bà N và ông C hiện nay không ai còn quan tâm đến nhau, tình cảm vợ chồng đã phai nhạt, mâu thuẫn giữa bà N và ông C đã đến mức trầm trọng, không thể hàn gắn và mục đích hôn nhân không đạt được. Nguyên đơn Nguyễn Hoàng C yêu cầu ly hôn với bị đơn Phạm Lê Hoài N là chính đáng, có căn cứ. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Nguyễn Hoàng C được ly hôn với bị đơn Phạm Lê Hoài N.
[2.3] Về con chung: Nguyên đơn Nguyễn Hoàng C và bị đơn Phạm Lê Hoài N thống nhất có 01 con chung là cháu Nguyễn Hoàng Phương T, sinh ngày 16/11/2020, hiện nay đang sống cùng bà N. Ly hôn, bà N và ông C thống nhất giao cháu T cho bà N tiếp tục nuôi dưỡng là đảm bảo về điều kiện sống của con nhỏ cần được mẹ chăm sóc và ổn định tâm sinh lý của con chung sau ly hôn. Nên Hội đồng xét xử ghi nhận ý kiến của các đương sự, giao con chung cho bà N trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, ông C tự nguyện cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000 đồng. Thời gian cấp dưỡng từ tháng 01/2026 cho đến khi phát sinh một trong các điều kiện về chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con quy định tại Điều 118 Luật Hôn nhân và gia đình.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Khi cần thiết, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con chung, mức cấp dưỡng nuôi con chung.
[2.4] Về tài sản chung: Nguyên đơn không yêu cầu giải quyết. Bị đơn đồng ý tách yêu cầu khởi kiện chia tài sản chung trong vụ án ly hôn sau khi thu thập được tài liệu chứng cứ liên quan. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết về tài sản chung. Các đương sự được quyền khởi kiện yêu cầu giải quyết về tài sản chung trong vụ án khác.
Ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn hỗ trợ cho bị đơn số tiền 30.000.000 đồng để lo cuộc sống.
[3] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, án phí cấp dưỡng nuôi con và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 107, 118 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147 của Bộ luật tố tụng Dân sự, Điều 26 và 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Hoàng C;
Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn Nguyễn Hoàng C được ly hôn với bị đơn Phạm Lê Hoài N.
Về con chung: Giao con Nguyễn Hoàng Phương T, sinh ngày 16/11/2020, hiện nay đang sống cùng bà N cho nguyên đơn Phạm Lê Hoài N trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Bị đơn Nguyễn Hoàng C tự nguyện cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000 (Ba triệu) đồng. Thời gian cấp dưỡng từ tháng 01/2026 cho đến khi phát sinh một trong các điều kiện về chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con quy định tại Điều 118 Luật Hôn nhân và gia đình.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở. Khi cần thiết, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con chung, mức cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Không xét.
Ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn hỗ trợ cho bị đơn số tiền 30.000.000 (Ba mươi triệu) đồng để lo cuộc sống.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí cấp dưỡng nuôi con và 1.500.000 (Một triệu năm trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm. Nhưng nguyên đơn đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0001337 ngày 02 tháng 10 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk nên được khấu trừ. Nguyên đơn phải còn phải nộp 1.800.000 (Một triệu tám trăm nghìn) đồng.
Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| Đào Thị Ngâm | Bùi Thị Thùy Trân |
| Bùi Thị Lê |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Bùi Thị Thùy Trân |
Bản án số 59/2025/HNGĐ-ST ngày 08/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 – ĐẮK LẮK về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 59/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 – ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: BẢN ÁN CÔNG - NAM
