Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 588/2025/DS-PT

Ngày: 01/12/2025

V/v “tranh chấp quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Đăng

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hữu Lương

Ông Đặng Văn Hùng

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Kim Ni - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long: Bà Trần Thị Kim Ngân - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 01 tháng 12 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 374/2025/TLPT-DS ngày 02 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 03/2025/DS-ST ngày 11 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 11-Vĩnh Long bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 535/2025/QĐ-PT ngày 29 tháng 10 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Hoàng O, sinh năm 1974. Địa chỉ: ấp M, phường A, thành phố Cần Thơ. (Có mặt)

- Bị đơn: Bà Phạm Thị M, sinh năm 1939. Địa chỉ: Khóm E, xã C, tỉnh Vĩnh Long. (Vắng mặt)

Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Bà Bùi Thị Thu T, sinh năm 1983. Địa chỉ: ấp M, xã C, tỉnh Vĩnh Long. (Có mặt)

(Theo văn bản ủy quyền ngày 12/4/2024)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Huỳnh Ngọc S, sinh năm 1968. (Vắng mặt)

2. Chị Nguyễn Huỳnh Mẫn N, sinh năm 2007. (Vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Ấp M, xã C, tỉnh Vĩnh Long.

Do có kháng cáo của: Ông Nguyễn Văn H – Là người đại diện hợp pháp của nguyên đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Theo đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị Hoàng O; bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa ông Nguyễn Văn H trình bày: Bà Nguyễn Thị Hoàng O là chủ sử dụng thửa đất số 91, tờ bản đồ số 36, diện tích 138,8m², loại đất ở đô thị, đất tọa lạc Khóm E, thị trấn C, huyện C, tỉnh Trà Vinh (sau sáp nhập là Khóm E, xã C, tỉnh Vĩnh Long) được được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng cho bà đứng tên ngày 16/7/2010. Nguồn gốc thửa đất số 91 là của ông Phạm Văn T1 khai phá sử dụng và tự kê khai đăng ký, năm 2001 được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Phạm Văn T1 đứng tên. Năm 2004, hộ ông T1 để thừa kế cho bà Nguyễn Thị T2, đến năm 2010, bà T2 chuyển nhượng thửa đất 91 cho bà O. Trong quá trình sử dụng đất, bà Phạm Thị M là chủ sử thửa đất số 94, diện tích 101m² liền kề tiếp giáp thửa đất số 91 đã tự ý lấn chiếm xây dựng nhà vệ sinh diện tích theo hiện trạng đo đạc là 9,1m² trên thửa đất số 91 không được sự đồng ý của bà O. Mặc dù bà O nhiều lần yêu cầu bà M tháo dỡ, di dời công trình trên đất và trả lại phần đất lấn chiếm nhưng bà M không trả.

Với lý do trên, ông yêu cầu hộ bà M gồm bà M, bà S và chị N tháo dỡ nhà vệ sinh trả lại cho bà O diện tích đất lấn chiếm là 9,1m² thuộc thửa đất số 91, tờ bản đồ số 36, diện tích 138,8m², đất tọa lạc tại Khóm E, thị trấn C, huyện C, tỉnh Trà Vinh (sau sáp nhập là Khóm E, xã C, tỉnh Vĩnh Long). Đồng thời chấm dứt hành vi lấn chiếm, sử dụng trái phép quyền sử dụng đất của bà O. Đối với phần diện tích chênh lệch so với đơn khởi kiện khoảng 10,9m² ông xin rút lại, không yêu cầu Tòa án giải quyết phần này. Ngoài ra không còn yêu cầu nào khác.

*Theo đơn khởi kiện của bị đơn bà Phạm Thị M; bản tự khai quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bà Bùi Thị Thu T trình bày: Bà là đại diện theo uỷ quyền của bà Phạm Thị M. Sau giải phóng năm 1975, bà Phạm Thị M được cha ruột ông Phạm Văn P cho tặng một phần đất toạ lạc tại khóm E, thị trấn C, huyện C, tỉnh Trà Vinh (sau sáp nhập là Khóm E, xã C, tỉnh Vĩnh Long) để cất nhà ở làm ăn sinh sống. Năm 1999, bà M kê khai đăng ký, năm 2001 được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh T(sau sáp nhập là Ủy ban nhân dân tỉnh V) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 94, tờ bản đồ số 20-3, diện tích 101m² do hộ bà Phạm Thị M đứng tên. Phần đất tranh chấp diện tích đất 9,1m² cũng được ông P cho tặng bà M chung với thửa thửa 94. Trước đây, không có nước máy sinh hoạt, bà M lấy nước dưới sông C L lên sử dụng nên khi xây dựng nhà bà M có trổ cửa hông ở phía sau để đi ra con hẻm (hẻm nối liền từ quốc lộ E chạy dài xuống đường giữa) xuống sông lấy nước lên sử dụng. Thời điểm năm 1975, ngay phần đất tranh chấp bà M làm mái che bằng lá, cột cây để làm sàn nước sinh hoạt (để lu chứa nước, rửa chén, tắm giặt) đến năm 2008 mới xây nhà vệ sinh (nhà tắm bằng cột bê tông cốt thép, tường xây gạch không tô, nền ximăng, mái tol), đến năm 2012 mới lót nền gạch men, tô vữa vách tường nhà vệ sinh sử dụng cho đến nay. Khi xây nhà vệ sinh bằng tường gạch bà Nguyễn Thị T2 chủ sử dụng thửa đất số 91 vẫn còn sống không có ý kiến, hay tranh chấp. Sau khi bà T2 chuyển nhượng thửa đất 91, diện tích 138,8m² cho bà O thì bà O tranh chấp cho rằng bà M lấn chiếm đất.

Nay bà đại diện cho bà M không đồng ý với toàn bộ yêu cầu của bà Nguyễn Hoàng O buộc hộ bà M di dời tài sản nhà vệ sinh trả lại diện tích đất 9,1m² và buộc chấm dứt hành vi lấn chiếm, sử dụng trái phép quyền sử dụng đất của bà O vì hộ bà M không lấn chiếm đất của bà O. Bà yêu cầu Tòa án công nhận cho hộ bà M quyền sử dụng diện tích đất 9,1m² thuộc thửa đất số 91, đất tọa lạc tại Khóm E, thị trấn C, huyện C, tỉnh Trà Vinh(sau sáp nhập là Khóm E, xã C, tỉnh Vĩnh Long).

Tại bản tự khai ngày 13/6/2024 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Huỳnh Ngọc S trình bày: Bà là con ruột bà Phạm Thị M và sống chung nhà với bà M từ năm 1975 đến nay. Thửa đất 94, diện tích 101m² có nguồn gốc của ông P cho tặng bà M, quá trình sử dụng không lấn chiếm đất của bà O nên không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà O.

Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ của Tòa án thể hiện tại sơ đồ khu đất kèm theo công văn số 281/CNCL của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện C( sau sáp nhập là Chi nhánh Văn phòng Đ) diện tích 9,1m² thuộc một phần thửa 91. Tại phiên tòa, ông H, bà T thống nhất với kết quả đo đạc.

Về tài sản trên đất: Nhà vệ sinh kết cấu nền gạch men, tường gạch, mái tol, dán gạch men(có hầm tự hoại) xây dựng năm 2008, diện tích 9,1m².

Về giá: Hội đồng định giá xác định đất tranh chấp có giá 3.500.000 đồng/m²; nhà vệ sinh có giá 13.118.000 đồng. Tại phiên tòa, ông H không có ý kiến về giá đất và tài sản trên đất, bà T thống nhất giá đất và tài sản trên đất đã được Hội đồng định giá đã định, không có yêu cầu định giá lại.

* Tại bản án dân sự sơ thẩm số 03/2025/DS-ST ngày 11/7/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 11-Vĩnh Long) đã quyết định:

Căn cứ vào khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, 147, 157, 165, 227, 228, 244 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2, 3 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án;

Căn cứ các Điều 164, 166, 175 và Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 5, 17, 26, 99, 100, 101, 166, 167, 202 và Điều 203 Luật Đất đai năm 2013; Điều 260 Luật Đất đai năm 2024;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Hoàng O.
  2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị M.
  3. Công nhận cho bà Phạm Thị M, bà Huỳnh Ngọc S, chị Nguyễn Huỳnh Mẫn N được tiếp tục sử dụng diện tích đất 9,1m² thuộc một phần thửa đất số 91, tờ bản đồ số 36, loại đất ở tại đô thị, đất tọa lạc tại Khóm E, thị trấn C, huyện C, tỉnh Trà Vinh (sau sáp nhập là Khóm E, xã C, tỉnh Vĩnh Long) cùng toàn bộ tài sản gắn liền với diện tích đất. Vị trí đất có tứ cận như sau:

Phần A:

  • Hướng Đông Nam giáp phần C có số đo 4,59 mét;
  • Hướng Đông Bắc giáp hẻm có số đo 2,00 mét;
  • Hướng Tây Nam giáp thửa đất số 94 có số đo 2,00 mét;
  • Hướng Tây Bắc giáp phần B có số đo 4,55 mét;

[Có sơ đồ khu đất kèm theo công văn số 281/CNHCL ngày 29/7/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện C (sau sáp nhập là Chi nhánh Văn phòng Đ)]

Để đảm bảo đến khi án có hiệu lực pháp luật và thi hành án nghiêm cấm các bên làm thay đổi hiện trạng, mục đích sử dụng đất hoặc hủy hoại đất dưới bất kỳ hình thức nào khi chưa được sự đồng ý của cơ quan có thẩm quyền.

Các đương sự có quyền và nghĩa vụ liên hệ Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để đăng ký, kê khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc điều chỉnh cập nhật biến động giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quyết định của bản án.

  1. Buộc bà Phạm Thị M, bà Huỳnh Ngọc S, chị Nguyễn Huỳnh Mẫn N có nghĩa vụ giao trả giá trị diện tích đất cho bà Nguyễn Thị Hoàng O số tiền là 31.850.000 đồng (Ba mươi mốt triệu, tám trăm năm mươi nghìn đồng).

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về việc đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chi phí tố tụng, án phí sơ thẩm và quyền kháng cáo của đương sự theo quy định.

Ngày 11/7/2025, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Nguyễn Văn H có đơn kháng cáo với nội dung: không đồng ý với bản án sơ thẩm, đề nghị buộc bị đơn tháo dỡ nhà vệ sinh xây dựng lấn chiếm để trả lại nguyên hiện trạng cho bị đơn, yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất của nguyên đơn.

Tại phiên tòa hôm nay:

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hoàng O yêu cầu bị đơn trả lại phần đất diện tích 9,1m², bà O đồng ý nhận nhà vệ sinh và đồng ý hỗ trợ giá trị tài sản là nhà vệ sinh và vật kiến trúc cho bà M số tiền 13.118.000 đồng.

Người đại diện hợp pháp của bị đơn đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và người tham gia tố tụng: Tất cả đều tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử phúc thẩm.

Về nội dung: Kiểm sát viên trình bày nội dung, chứng cứ, căn cứ pháp luật và đề nghị chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị Hoàng O, buộc bvaf Mỹ giao trả phần đất 9,1m² có gắn nhà vệ sinh cho bà O sử dụng, bà O giao cho bà M số tiền 13.118.000 đồng. Bà O không phải nộp án phí phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH VỤ ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ được thể hiện tại hồ sơ được thẩm tra tại phiên tòa; Trên cơ sở xem xét toàn diện các chứng cứ; ý kiến trình bày của các đương sự; Căn cứ vào kết quả tranh luận và phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của ông H còn trong hạn luật định theo quy định tại Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung: Phần đất thửa 91, tờ bản đồ số 36, diện tích 138,8m² loại đất ở đô thị, tọa lạc khóm E, thị trấn C, huyện C, tỉnh Trà Vinh (nay là khóm E, xã C, tỉnh Vĩnh Long) có nguồn gốc của ông Phạm Văn T1 đứng tên, năm 2004 bà Nguyễn Thị T2 nhận thừa kế từ ông T1, đến năm 2010 bà T2 chuyển nhượng cho bà O, phần đất nằm giáp ranh thửa 94, diện tích 101m² của bà Phạm Thị M, phần đất tranh chấp giữa thửa 94 của bà M và thửa 91 của bà O có diện tích 9,1m², hiện bà M làm nhà vệ sinh, nền gạch men, vách tường.

Xét thấy, phần đất tranh chấp diện tích 9,1m² do bà Nguyễn Thị Hoàng O đứng tên, thể hiện tại Công văn số 281/CNHCL ngày 29/7/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C (nay là Chi nhánh Văn phòng Đ) xác định diện tích 9,1m² (sơ đồ khu đất ký hiệu là A) thuộc một phần thửa 91 của bà Nguyễn Thị Hoàng O, cấp sơ thẩm xử xác định phần đất 9,1m² của bà Nguyễn Thị Hoàng O là đúng thực tế, phù hợp pháp luật.

Xét kháng cáo của bà Nguyễn Thị Hoàng O về việc yêu cầu bà M di dời tài sản trên đất là có căn cứ, bởi lẽ phần đất 9,1m² là của bà O được cơ quan có thẩm quyền xác định, phía bà M cũng thống nhất không kháng cáo nên phần đất 9,1m² thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bà O, việc cấp sơ thẩm giao phần đất 9,1m² cho bà M quản lý do việc tháo dỡ nhà vệ sinh sẽ gây lãng phí là chưa phù hợp, án sơ thẩm xử giao 9,1m² cho bà M sử dụng gây ảnh hưởng lớn đến việc sử dụng đất thửa 91 còn lại của bà O nên buộc bà M trả lại phần đất 9,1m² cho bà O sử dụng, đồng thời tại phiên tòa bà O đồng ý nhận nhà vệ sinh do bà M xây và hỗ trợ giá trị tài là nhà vệ sinh và vật kiến trúc cho bà M số tiền 13.118.000 đồng, đây là sự tự nguyện nên ghi nhận sự tự nguyện trên.

Như nhận định trên, chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị Hoàng O và chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên, giao nhà vệ sinh cho bà O sử dụng, bà O trả giá trị cho bà M số tiền 13.118.000 đồng.

Về án phí dân sự phúc thẩm: do sửa án sơ thẩm nên các đương sự không phải nộp.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời kháng cáo, kháng nghị.

Bởi các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Chấp nhận đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thị Hoàng O; Sửa bản án sơ thẩm số 03/2025/DS-ST ngày 11/7/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 11 – Vĩnh Long.

Căn cứ vào khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, 147, 157, 165, 227, 228, 244 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 166 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 5, 17, 26, 99, 100, 101, 166, 167, 202 và Điều 203 của Luật Đất đai năm 2013; Điều 260 của Luật Đất đai năm 2024; Điều 29 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của UBTV Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Hoàng O.

Không chấp nhận yêu cầu của bà Phạm Thị M.

  1. Buộc bà Phạm Thị M, bà Huỳnh Ngọc S, chị Nguyễn Huỳnh Mẫn N giao trả phần đất diện tích đất 9,1m² cùng toàn bộ tài sản gắn liền với đất thuộc một phần của thửa đất số 91, tờ bản đồ số 36, loại đất ở tại đô thị, đất tọa lạc tại Khóm E, thị trấn C, huyện C, tỉnh Trà Vinh (nay là khóm E, xã C, tỉnh Vĩnh Long).

(Kèm theo sơ đồ khu đất theo công văn số 281/CNHCL ngày 29/7/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C).

  1. Buộc bà Nguyễn Thị Hoàng O có nghĩa vụ giao cho bà Phạm Thị M, bà Huỳnh Ngọc S, chị Nguyễn Huỳnh Mẫn N số tiền là 13.118.000 đồng (Mười ba triệu một trăm mười tám nghìn đồng).

Kể từ khi có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành còn phải chịu thêm cho bên được thi hành khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

  1. Về án phí phúc thẩm: Hoàn trả cho bà Nguyễn Thị Hoàng O số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm, theo biên lai số 0000554 ngày 21/7/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long.
  2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời kháng cáo, kháng nghị.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải chịu thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, được quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND TC: 01;
  • - VKSND TC: 01;
  • - VKSNDTVL: 01;
  • - TAND KV11: 01;
  • - THADS KV11: 01;
  • - Các đương sự: 04;
  • - VP, KTNV&THA: 02;
  • - Lưu hồ sơ vụ án 04.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA

Nguyễn Thành Đăng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 588/2025/DS-PT ngày 01/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 588/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 01/12/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger