TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI Bản án số: 576/2025/HS-PT Ngày: 19/12/2025 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Phạm Đình Khánh; |
| Các Thẩm phán: | Ông Bùi Xuân Trọng; |
| Bà Lê Thị Mai. | |
| Thư ký phiên tòa: | Ông Phan Nhật Phong, Thư ký viên. |
| Đại diện Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Hà Nội tham gia phiên tòa: | Bà Lê Thị Lý - Kiểm sát viên cao cấp. |
Ngày 19 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội mở phiên tòa công khai xét xử vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 535/2025/TLPT-HS ngày 28 tháng 10 năm 2025, đối với bị cáo Nguyễn Văn T bị Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm về các tội “Giết người”, “Cướp tài sản” và “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 616/2025/HS-ST ngày 04 tháng 9 năm 2025.
* Bị cáo có kháng cáo:
NGUYỄN VĂN T, sinh ngày 26/6/1989 tại Hà Nội; Số CCCD: [...]; nơi cư trú: Thôn Q, xã H, huyện P, thành phố Hà Nội (nay là thôn Q, xã H, thành phố Hà Nội); nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn H (đã chết) và bà Nguyễn Thị N; có vợ là Đỗ Thị N1 (đã ly hôn), có 02 con (con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2012); tiền án: Có 03 tiền án: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 19/2008/HSST ngày 09/6/2008, Toà án nhân dân huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 29 tháng 18 ngày; tại Bản án hình sự sơ thẩm số 53A/2010/HSST ngày 09/12/2010, Toà án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 24 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, buộc chấp hành 24 tháng tù của Bản án hình sự sơ thẩm số 19/2008/HSST ngày 09/6/2008 của Toà án nhân dân huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội, tổng hợp hình phạt là 48 tháng tù, được trừ đi 276 ngày đã bị tạm giữ còn 38 tháng 24 ngày tù; tại Bản án hình sự sơ thẩm số 53/2012/HSST ngày 18/9/2012, Toà án nhân dân huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội xử phạt 36 tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc”, tổng hợp hình phạt 38 tháng 24 ngày tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” và “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 53A/2010/HSST ngày 09/12/2010 của Toà án nhân dân thành phố Hà Nội, buộc chấp hành hình phạt chung là 74 tháng 24 ngày tù; ra trại ngày 25/01/2017; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 29/8/2017, bị Công an huyện P, thành phố Hà Nội xử phạt hành chính về hành vi xâm hại đến sức khoẻ của người khác; bị tạm giữ, tạm giam ngày 15/12/2024; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố H; có mặt tại phiên toà.
* Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Anh T1 - Luật sư Công ty L thuộc Đoàn luật sư thành phố H; có mặt.
Ngoài ra, trong vụ án còn có các bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác không có kháng cáo, kháng nghị, không liên quan đến nội dung kháng cáo nên Tòa án cấp phúc thẩm không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Năm 2011, Nguyễn Văn T cho anh Nguyễn Văn M vay 40.000.000 đồng. Sau khi cho anh M vay tiền thì T đi chấp hành án phạt tù về các tội Trộm cắp tài sản, Gây rối trật tự công cộng và Tổ chức đánh bạc nên anh M chưa trả tiền cho T được. Ngày 25/01/2017, T chấp hành xong án phạt tù và được ra trại, T đến gặp anh M để đòi tiền và yêu cầu anh M mỗi tháng phải trả T 2.000.000 đồng cho đến khi hết nợ. Anh M đồng ý và đã trả được cho T 10.000.000 đồng thì không còn tiền để trả nợ nên đã thỏa thuận với T khi nào có tiền sẽ trả tiếp nhưng T không đồng ý.
Khoảng 22 giờ ngày 03/11/2017, anh M đến quán Cà phê - Karaoke “Hát cho nhau nghe” ở đường R, xã H, thành phố Hà Nội để uống nước. Khi anh M vừa đến trước cửa quán C2 thì gặp T cùng 01 nam thanh niên tên H1 và 01 người phụ nữ (là bạn T, chưa xác định được lai lịch) từ trong quán đi ra. Nhìn thấy anh M, T liền đòi tiền và nói: “Mày trả tiền tao không”. Anh M trả lời: “Cho tôi khất thêm vài hôm nữa”. Tùng không đồng ý mà yêu cầu anh M phải trả tiền ngay, nên nói: “Không khất gì cả, mày phải trả tao trong đêm nay” đồng thời dùng chân, tay đấm đá anh M. T nói với anh M: “Mày không trả hôm nay tao giết bỏ”. Lúc này, anh Nguyễn Xuân T2 là công an viên xã H đang ăn đêm gần đó nhìn thấy sự việc nên chạy đến can ngăn ôm T lại, còn anh M bỏ chạy xuống ruộng ngô đường R. Sau khi bỏ chạy, anh M gọi điện thoại cho anh Nguyễn Văn H2 (là em trai anh M) kể về việc anh M bị T đánh. Anh H2 đang ở quán K của anh H2 (cách quán “Hát cho nhau nghe” khoảng 600m) nên anh H2 bảo anh M đi đến quán K để anh H2 gọi xe taxi đưa đến bệnh viện khám thương.
Sau khi được anh T2 can ngăn, T thấy anh M bỏ chạy nên đã cùng nam thanh niên và người phụ nữ đi đến đứng trước quán cầm đồ của anh Nguyễn Xuân C trên đường R (cách quán “Hát cho nhau nghe” khoảng 580m) và chửi về phía quán K của anh H2: “Đ.mẹ mày không cướp được tiền của tao đâu, hôm nay tao bắn chết thằng Hải Ngạnh”. Chị Nguyễn Thị H3 (sinh năm 1990; là vợ anh H2) ở trong quán nghe được T chửi bới đã gọi điện thoại cho anh Nguyễn Văn M1 biết và bảo anh M1 đến quán. Anh M1 đến quán K và đứng trước cửa quán cùng anh M, anh M1 để đợi xe ô tô đến đưa anh M đi bệnh viện. Lúc này T đi bộ cùng H1 tiến đến quán K, tay trái T rút trong người ra 01 khẩu súng thuộc một trong các loại súng quân dụng K59, CZ83, P64... vừa đi vừa bắn 04 phát liên tiếp về phía anh M, anh M1 và anh H2, làm anh M bị trúng 01 viên đạn vào bắp chân phải; anh M1 bị trúng 01 viên đạn vào đùi chân trái. Anh M và anh M1 bị trúng đạn đã nhảy bằng một chân vào bên quán K để anh H2 đóng cửa quán lại. Khi thấy 3 anh em anh M vào trong quán, T cùng H1 và người phụ nữ đi cùng bỏ trốn khỏi hiện trường. Anh M và anh M1 được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Q1 điều trị từ ngày 04/11/2017 đến ngày 17/11/2017.
Tại bản Kết luận giám định pháp y thương tích số 35/TTPY ngày 16/01/2018 của Trung tâm pháp y, Sở Y về thương tích của Nguyễn Văn M1, như sau:
“...Tại chỗ:
- + Mặt trước ngoài và mặt sau ngoài 1/3 dưới đùi trái đều có 01 vết thương đường kính 1cm, máu chảy rỉ rả qua miệng vết thương, mạch mu chân, ống gót bắt rõ.
- + Xquang xương đùi trái ngày 04/11/2017: Không thấy hình ảnh tổn thương xương, không có dị vật cản quang.
- + Xquang ngực thẳng ngày 04/11/2017: Không thấy gãy các cung xương sườn lồng ngực, hình tim bình thường.
- Biên bản phẫu thuật ngày 04/11/2017:
- + Chẩn đoán trước và sau phẫu thuật: Vết thương xuyên phần mềm 1/3 dưới đùi trái.
V. PHẦN KHÁM GIÁM ĐỊNH
Thương tích: Hai sẹo vết thương, vết mổ mặt trước và mặt sau 1/3 dưới vùng đùi trái hình dấu cộng, kích thước sẹo mặt trước (2,5cm + 2,5cm) x 0,3cm; kích thước sẹo mặt sau (3cm + 3,5cm) x 0,3cm. Sẹo lồi, thâm, cứng nhẹ. Vận động và cảm giác cẳng – bàn ngón chân trái bình thường.
Căn cứ vào các kết quả nghiên cứu hồ sơ, khám giám định và các xét nghiệm. Căn cứ vào Thông tư số 20/2014/TT-BYT ngày 12/6/2014: Quy định tỷ lệ tổn thương cơ thể sử dụng trong Giám định Pháp y, Giám định Pháp y tâm thần của Bộ Y1.
Kết luận tại thời điểm giám định:
- Các sẹo vết thương mổ đùi trái: 05%.
- Nhiều khả năng các thương tích do vật cứng rắn có đường kính khoảng 1cm xuyên thủng gây nên.
Tỷ lệ tổn hại sức khoẻ: 05%”.
Tại bản Kết luận giám định pháp y thương tích số 36/TTPY ngày 16/01/2018 của Trung tâm pháp y, Sở Y về thương tích của Nguyễn Văn M, như sau:
“...Tại chỗ:
- + Cằm sưng nề nhẹ, ấn không đau chói.
- + T3 ngực phải ấn đau nhẹ, không đau chói.
- + Khuỷu tay trái nề nhẹ, vận động bình thường.
- + Vết thương mặt sau 1/3 trên cẳng chân phải kích thước 2,5cm x 1cm, tổn thương đến lớp cơ, bờ mép nham nhở, ít dị vật.
- Biên bản phẫu thuật ngày 04/11/2017:
- + Chẩn đoán trước và sau phẫu thuật: Vết thương phần mềm mặt sau 1/3 trên cẳng chân phải do bị bắn, chấn thương phần mềm thành ngực phải.
V. PHẦN KHÁM GIÁM ĐỊNH
Thương tích: Cằm không sưng nề, không bầm tím, ăn nhai bình thường, khớp cắn đúng; Sẹo vết thương vết mổ mặt sau 1/3 trên cẳng chân phải kích thước 4cm x 0,5cm. Sẹo thâm, lồi nhẹ, mềm, vận động gối phải bình thường.
Căn cứ vào các kết quả nghiên cứu hồ sơ, khám giám định và các xét nghiệm. Căn cứ vào Thông tư số 20/2014/TT-BYT ngày 12/6/2014: Quy định tỷ lệ tổn thương cơ thể sử dụng trong Giám định Pháp y, Giám định Pháp y tâm thần của Bộ Y1.
Kết luận tại thời điểm giám định:
- Sẹo vết thương vết mổ cẳng chân phải: 03%.
- Các chạm thương phần mềm vùng cằm, ngực phải, khuỷu tay trái không tổn thương xương, không ảnh hưởng chức năng: Thông tư số 20/2014/TT-BYT ngày 12/6/2014 không có chương mục nào cho điểm tỷ lệ tổn hại sức khoẻ đối với các chạm thương này.
- Nhiều khả năng các chạm thương do vật tày, thương tổn mặt sau cẳng chân phải do vật cứng rắn có đường kính khoảng 1cm xuyên sượt gây nên.
Tỷ lệ tổn hại sức khoẻ: 03%”.
Tại bản Kết luận giám định số 5612/C54(P3) ngày 16/11/2017 của V, T7, kết luận:
- “- 03 vỏ đạn có kí hiệu lần lượt là 21-68; 71-94; 71-95 gửi đến giám định là của loại đạn quân dụng cỡ 9x18mm. 03 vỏ này do cùng một khẩu súng bắn ra.
- - 04 đầu đạn có kích thước lần lượt là 9,7x12mm; 10,7x10mm; 13,6x10,7mm; 12,4x 9,3mm, gửi đến giám định là đầu đạn của loại đạn quân dụng cỡ 9x18mm. 04 đầu đạn này do cùng một khẩu súng bắn ra.
- - 10 viên đạn gửi giám định, trong đó:
- + 02 viên đạn có kí hiệu 21- 66; 71- 95 là loại đạn quân dụng cỡ 9x18mm, sử dụng để bắn cho các loại súng quân dụng K59, CZ83, P64...
- + 07 viên đạn có cùng kí hiệu C, là đạn thể thao cỡ 5,6x 15mm, sử dụng để bắn cho súng thể thao, súng thể thao bị cắt ngắn nòng và các loại súng tự chế lắp vừa đạn cỡ 5,6mm. Súng thể thao bị cắt ngắn nòng và các loại súng tự chế lắp vừa đạn cỡ 5,6mm có tính năng, tác dụng tương tự như vũ khí quân dụng.
- + 01 viên đạn màu vàng, có đường kính 12,5mm là đạn ghém cỡ 32, sử dụng để bắn cho súng săn cỡ 32. Súng săn cỡ 32 bị cắt ngắn nòng và báng có tính năng tác dụng tương tự như vũ khí quân dụng.
- Khi sử dụng súng bắn các loại đạn gửi đến giám định nêu trên vào cơ thể người sẽ gây sát thương (chết hoặc bị thương)”.
Tại bản Kết luận giám định số 5613/C54(P3) ngày 16/11/2017 của V, T7 kết luận:
“Dấu vết do súng bắn để lại trên 03 vỏ đạn và 04 đầu đạn ghi thu trong vụ trên với dấu vết do súng bắn để lại trên các vỏ đạn, đầu đạn của các vụ án khác hiện đang lưu trong tàng thư súng đạn V có các đặc điểm không giống nhau”.
Tại bản Kết luận giám định số 6208/C54(P3) ngày 04/01/2018 của V, T7, kết luận:
- “- 02 viên đạn gửi đến giám định đã được lắp trên cùng một khẩu súng bắn ra 03 vỏ đạn ghi thu trong vụ trên.
- - Dấu vết thủng kí hiệu A2, A3 trên quần bò ghi thu của Nguyễn Văn M1 có đặc điểm giống với đặc điểm của dấu vết do đạn bắn tạo ra.
- - Dấu vết thủng được kí hiệu A1 trên quần bò ghi thu của Nguyễn Văn M không đủ đặc điểm để xác định có phải do đạn bắn tạo ra không”.
Sau khi phạm tội, T đã bỏ trốn vào sinh sống tại tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu nay là thành phố Hồ Chí Minh. Trong quá trình sinh sống tại đây, T tự nhận tên là Trần Văn T4. Ngày 26/4/2024, T tiếp tục thực hiện 01 vụ án Giết người khác, như sau: Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 26/4/2024, ông Phan Đình C1 ngồi nhậu với bạn là ông Trần Ngọc Đ tại bàn số 21 của quán M2 ở số H phố B, phường R, thành phố V, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu. Khi mọi người đang nhậu thì Nguyễn Văn T gọi điện thoại cho ông Đ hỏi đang ở đâu để đến đòi tiền và đánh ông Đ do trước đó có sự mâu thuẫn với ông Đ về chuyện tiền bạc. Ông Đ nghe điện thoại của T xong thì nói lại với ông C1: “Tí nữa thằng T4 ra đây xử tôi”. Đến khoảng 18 giờ 40 phút cùng ngày, T nhờ một người tên Q (chưa xác định nhân thân) chở đến quán M2. Khi đến, T vào bàn nhậu số 21 cạnh ông C1, đối diện với ông Đ để uống bia, Tại đây, T bắt đầu to tiếng chửi ông Đ về việc nhiều lần đi ăn nhậu ông Đ bắt T trả tiền nhưng đến khi T hỏi vay tiền thì ông Đ lại không cho vay. Thấy vậy, ông C1 nhắc T: “Thôi ở quán xá nói nhỏ, anh em từ từ giải quyết” thì T chỉ tay vào mặt ông C1 nói: “Ông tin tôi đấm vào mặt ông không”, rồi T đứng lên, tay trái cầm chai bia sài gòn xanh đập vào đầu ông C1 làm vỡ chai bia. Sau đó, T dùng thanh menu tiếp tục đập vào đầu ông C1 làm ông C1 bị choáng úp mặt xuống mặt bàn và dùng 2 tay ôm đầu. T tiếp tục cầm chai bia khác đánh vào đầu ông Đ. Ông Đ dùng tay đỡ thì bị trúng vào khuỷ tay trái. Sau đó, T quay sang dùng cốc thủy tinh của quán đập liên tiếp nhiều cái vào đầu ông C1, dùng tay đấm vào đầu, bóp cổ, vật ngửa ông C1 xuống đất rồi dùng chân đạp vào ngực ông C1. Vừa đánh, T vừa nói: “Mày láo tao giết mày luôn”. Thấy ông C1 bị đánh, anh Nguyễn Thanh T5 là quản lý quán Mai N2 đã ra can ngăn nên T không đánh ông C1 nữa mà bỏ đi. Ông C1 được mọi người đưa đến Bệnh viện V1 cấp cứu. Sau khi phạm tội, T tiếp tục bỏ trốn.
Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 196/KLTTCT-PYBRVT ngày 28/5/2024 của Trung tâm pháp y, Sở Y tế tỉnh B về thương tích của ông Phan Đình C1, như sau:
“...
II. Nghiên cứu hồ sơ
- - Chảy máu tai trái.
- - CT scan sọ não không cản quang: Xuất huyết dưới nhện thái dương phải; Theo dõi vỡ xương đá trái.
III. Phương pháp giám định, kết quả
- - Kết quả cận lâm sàng:
- + ST scan: Không ghi nhận bất thường đậm độ nhu mô não. Nứt xương chẩm trái, d # 60mm.
IV. Phần kết luận
1. Các kết quả chính:
- - Kết quả khám giám định và cận lâm sàng:
- + Xuất huyết dưới nhện thái dương phải, hiện không còn trên hình ảnh CT scan.
- + Nứt xương chẩm trái, d #60mm.
2. Kết luận:
Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y1 quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong thời giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Phan Đình C1 tại thời điểm giám định là 23% (Hai mươi ba phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
Cơ chế hình thành vết thương, vật gây thương tích: Thương tích của nạn nhân được gây ra do sự tác động tương hỗ của vật rắn tày, cơ chế: Va đập”.
Ngày 15/12/2024, Nguyễn Văn T đến Công an xã H, huyện P, thành phố Hà Nội (nay là công an xã H) đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội. Ngoài ra, T khai, sau khi ra tù, khoảng tháng 3/2017, T đặt mua một khẩu súng trên mạng Internet để phòng thân với giá 5.000.000 đồng. Sau đó người bán súng hẹn gặp T để giao súng và nhận tiền mặt. T không biết mặt và thông tin của người bán và giao súng. Khi giao súng, người giao đưa cho T 01 khẩu súng ngắn màu đen, dài khoảng 25cm, bên trong có kèm theo 5-6 viên đạn để dùng cho khẩu súng và 08 viên đạn khác loại. T mang về và cất giấu súng tại khu vực nghĩa trang thôn H, xã H (nay là xã H). Sau khi T sử dụng súng để bắn anh H2, anh M1 và anh M, T đã bỏ trốn và vứt khẩu súng xuống sông H nên Cơ quan điều tra không có cơ sở truy tìm.
Đối với người tên H1 và người phụ nữ đi cùng với T khi T sử dụng súng bắn anh H2, anh M1 và anh M là bạn xã hội của T, T không biết nhân thân và địa chỉ ở đâu nên Cơ quan điều tra đã tách phần hồ sơ liên quan để xử lý sau.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, anh Nguyễn Văn T6 (là anh trai của T) đã tự nguyện bồi thường cho anh M1 số tiền 65.000.000 đồng, cho anh M số tiền 115.000.000 đồng và ông Phan Đình C1 số tiền 80.000.000 đồng. Anh M1, anh M và ông C1 đã nhận tiền và không yêu cầu bồi thường gì khác về dân sự. Anh Nguyễn Văn H2 không bị thương tích nên không yêu cầu bồi thường về dân sự.
Đối với ông Trần Ngọc Đ, sau khi bị T đánh vào phần đầu và phần tay, ông Đ không đi khám thương. Sau đó, ông Đ bị bệnh xơ gan và đã tử vong vào ngày 07/6/2024. Ông Trần Ngọc Đ1 (là em trai, đại diện cho gia đình của ông Đ) không có yêu cầu gì về bồi thường dân sự.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm 616/2025/HS-ST ngày 04 tháng 9 năm 2025, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã áp dụng điểm a, h, n khoản 1 Điều 123; điểm h khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự 2015; điểm đ khoản 2 Điều 230 Bộ luật Hình sự năm 1999; điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm h khoản 2 Điều 52; Điều 38; Điều 55 Bộ luật Hình sự 2015, xử phạt Nguyễn Văn T 13 (mười ba) năm tù về tội Giết người, 07 (bảy) năm tù về tội Cướp tài sản, 05 (năm) năm tù về tội Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng. Tổng hợp hình phạt phải chấp hành là 25 (hai mươi lăm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/12/2024.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí sơ thẩm và thông báo quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 18/9/2025 bị cáo Nguyễn Văn T có đơn kháng cáo xin giảm hình phạt với lý do cho rằng mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo là quá nặng.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Văn T giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Đại diện Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Hà Nội có ý kiến: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, xét thấy việc Tòa án cấp sơ thẩm kết án bị cáo Nguyễn Văn T về các tội “Giết người”, “Cướp tài sản” và “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ các tình tiết của vụ án, nhân thân của bị cáo để xử phạt bị cáo 1 (mười ba) năm tù về tội Giết người, 07 (bảy) năm tù về tội Cướp tài sản, 05 (năm) năm tù về tội Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng; tổng hợp hình phạt phải chấp hành là 25 (hai mươi lăm) năm tù là phù hợp. Về áp dụng pháp luật, bị cáo phạm tội giết người thuộc trường hợp “Giết 02 người trở lên”, “Có tính chất côn đồ”, “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại các điểm a, n, p khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự nhưng Tòa án cấp sơ thẩm lại áp dụng các điểm a, n, h (Để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân) là không chính xác; ngoài ra, bị cáo phạm tội giết người thuộc trường hợp chưa đạt nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không áp dụng Điều 15 và Điều 57 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo là thiếu sót. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không có tình tiết gì mới để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên quyết định về tội danh và hình phạt đối với bị cáo, sửa phần áp dụng pháp luật, cụ thể: Áp dụng các điểm a, n, p khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự về tội “Giết người”; áp dụng thêm Điều 15 và Điều 57 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.
Luật sư bào chữa cho bị cáo có ý kiến: Thống nhất về tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo trình bày tại phiên tòa đã được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét và áp dụng; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét và quyết định theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Văn T có đơn kháng cáo trong hạn luật định theo đúng quy định tại các Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự nên kháng cáo là hợp pháp, được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về tội danh và điều luật áp dụng: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Văn T khai nhận hành vi phạm tội, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm, tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của các bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:
Xuất phát từ mâu thuẫn trong việc anh Nguyễn Văn M nợ Nguyễn Văn T 40.000.000 đồng không trả nên khoảng 23 giờ ngày 03/11/2017, khi T gặp anh M ở trước cửa quán Cà phê - Karaoke “Hát cho nhau nghe” ở đường R, xã H, thành phố Hà Nội, T đã dùng chân, tay đấm, đá anh M để đòi tiền. Khi được anh Nguyễn Xuân T2 can ngăn, anh M bỏ chạy về phía quán K của anh Nguyễn Văn H2 (là em trai của anh M) cách đó khoảng 600m để anh H2 và anh Nguyễn Văn M1 (là em trai của anh M) đưa đi khám thương thì bị T đuổi theo. Nhìn thấy anh M, anh H2 và anh M1 đang đứng trước cửa quán K, T rút từ trong người ra 01 khẩu súng quân dụng (thuộc một trong các loại súng quân dụng K59, CZ83, P64) bên trong có 06 viên đạn mà T đã mua trên mạng Internet từ tháng 3/2017 để sử dụng, bắn 04 phát liên tiếp về phía anh M, anh M1 và anh H2 rồi bỏ trốn. Hậu quả: Anh M bị trúng 01 viên đạn vào mặt sau 1/3 cẳng chân phải kích thước 2,5cm x 1cm, tổn thương đến lớp cơ, tổn hại sức khoẻ 03%. Anh M1 bị trúng 01 viên đạn xuyên phần mềm vào mặt trước ngoài và mặt sau ngoài 1/3 dưới đùi trái, đường kính 1cm, tổn hại sức khoẻ 05%. Sau khi bỏ trốn, khoảng 18 giờ ngày 26/4/2024, tại quán M2 ở số H phố B, phường R, thành phố Hồ Chí Minh, T đã dùng chai bia Sài Gòn màu xanh, dùng thanh menu đập vào đầu ông Phan Đình C1 nhiều nhát làm ông C1 bị choáng, úp mặt xuống mặt bàn và dùng 02 tay ôm đầu. T tiếp tục lấy cốc thuỷ tinh trong quán đập liên tiếp nhiều cái vào đầu ông C1 rồi dùng tay bóp cổ, đấm vào đầu, vật ngửa ông C1 xuống đất. Sau đó, T dùng chân đạp vào ngực ông C1 làm ông C1 xuất huyết dưới nhện thái dương phải và nứt xương chẩm trái khoảng 60mm, tỷ lệ tổn hại sức khoẻ 23%. Việc các bị hại không chết nằm ngoài ý muốn chủ quan của bị cáo. Do có hành vi nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã kết án bị cáo Nguyễn Văn T về các tội “Giết người”, “Cướp tài sản” và “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Tuy nhiên, bị cáo phạm tội “Giết người” thuộc trường hợp “Giết 02 người trở lên”, “Có tính chất côn đồ” và “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại các điểm a, n, p khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm lại áp dụng các điểm a, n, h (Để lấy bộ phận cơ thể nạn nhân) là không chính xác. Ngoài ra, theo quy định tại Điều 15 và Án lệ số 45/2021 AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 25/11/2021 thì trong vụ án mà bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi nhằm tước đoạt tính mạng của bị hại nhưng hậu quả chết người không xảy ra thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt. Trong vụ án này, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Giết người” thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không áp dụng Điều 15 và Điều 57 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo là thiếu sót. Bị cáo phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm nên Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng điểm p khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đối với tội Giết người), điểm h khoản 1 Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đối với tội Cướp tài sản), điểm d khoản 2 Điều 230 Bộ luật Hình sự năm 1999 (đối với tội Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng) là chính xác, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm lại áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 2 Điều 52 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo là không chính xác và không đúng với quy định tại khoản 2 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy cần bổ sung và sửa đổi các nội dung này theo đúng quy định của pháp luật.
[3] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:
Mặc dù quá trình giải quyết vụ án, bị cáo đã thành khẩn khai báo, tích cực tác động gia đình để bồi thường cho bị hại và được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, sau khi phạm tội bị cáo ra đầu thú, nhưng hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, thể hiện sự côn đồ, hung hãn, quyết liệt, coi thường tính mạng của người khác, bị cáo có nhân thân xấu, đã 03 lần bị kết án và 01 lần bị xử phạt vi phạm hành chính. Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ, toàn diện các tình tiết của vụ án, nhân thân của bị cáo và tính chất đặc biệt nghiêm trọng của vụ án để xử phạt bị cáo 1 (mười ba) năm tù về tội Giết người, 07 (bảy) năm tù về tội Cướp tài sản, 05 (năm) năm tù về tội Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng; tổng hợp hình phạt phải chấp hành là 25 (hai mươi lăm) năm tù là tương xứng với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử xét thấy không có tình tiết gì mới để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo như đề nghị của đại diện Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Hà Nội.
[4] Về án phí, do không được chấp nhận kháng cáo, căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội “Quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp quản lý, và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án”, bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực thi hành.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T, giữ nguyên quyết định về tội danh và hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn T tại Bản án hình sự sơ thẩm số 616/2025/HS-ST ngày 04 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
- Áp dụng các điểm a, n, p khoản 1 Điều 123; điểm h khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự 2015; điểm đ khoản 2 Điều 230 Bộ luật Hình sự năm 1999; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 15; Điều 38; Điều 55; Điều 57 Bộ luật Hình sự 2015, xử phạt Nguyễn Văn T 13 năm tù về tội “Giết người”, 07 (bảy) năm tù về tội “Cướp tài sản”, 05 (năm) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”; tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung cho cả 03 tội là 25 (hai mươi lăm) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày 15/12/2024.
- Về án phí, bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Đình Khánh | ||
CÁC THẨM PHÁN | THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | ||
| Phạm Đình Khánh |
Bản án số 576/2025/HS-PT ngày 19/12/2025 của TOÀ PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI về hình sự phúc thẩm
- Số bản án: 576/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 19/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Giết người, Cướp tài sản
