|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 14 – CẦN THƠ Bản án số: 56/2025/HNGĐ-ST Ngày: 28 – 11 – 2025 V/v: Ly hôn. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 14 – CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Thanh
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Văn Thanh
- Bà Lê Thanh Xuân
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Tuấn Vũ – Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân khu vực 14 – Cần Thơ.
Trong ngày 28 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 14 – Cần Thơ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 158/2025/TLST-HNGĐ, ngày 23 tháng 10 năm 2025 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông L, C, sinh ngày 02/3/1968; Quốc tịch: Trung Quốc (Đài Loan); Hộ chiếu số: [...] do Đài Loan cấp ngày 16/04/2024 (vắng mặt);
Địa chỉ: Số D, lộ H, khóm B, phường Q, khu Đ, thành phố Đ, Đài Loan.
Người đại diện theo ủy quyền nhận văn bản tố tụng (Giấy ủy quyền ngày 07/8/2025): Lâm Vũ T, sinh năm 1982;
Địa chỉ: Số C, đường N, phường D, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn: Bà Trần Thu N, sinh ngày 27/01/1999; Căn cước công dân số: [...] (vắng mặt);
Địa chỉ thường trú: Ấp C, thị trấn B, huyện C, tỉnh Hậu Giang (nay là ấp F, xã T, thành phố Cần Thơ).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn xin ly hôn và quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn là ông L, C trình bày:
Vào năm 2023, được người thân giới thiệu quen biết và tìm hiểu, tôi và bà Trần Thu N quyết định tiến tới hôn nhân, làm thủ tục đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Hậu Giang cấp Giấy chứng nhận kết hôn, vào Số đăng ký kết hôn số 112 vào ngày 12/12/2023.
Thời gian đầu, vợ chồng cố gắng tìm hiểu để có hạnh phúc. Sau khi kết hôn, tôi trở về Đài Loan sinh sống, bà Trần Thu N ở lại Việt Nam sinh sống. Tôi làm thủ tục bảo lãnh bà N sang Đài Loan sinh sống để xây dựng gia đình hạnh phúc, nhưng khi chưa hoàn thành thủ tục cấp visa thì giữa tôi và bà N bắt đầu xảy ra mâu thuẫn, bà N không đến làm thủ tục phỏng vấn xin visa. Sau đó, tình cảm vợ chồng ngày càng xa cách, lạnh nhạt khiến cho không còn quan tâm lẫn nhau, đến nay tình cảm vợ chồng đã phai nhạt, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể hàn gắn. Tôi cho rằng, hôn nhân của chúng tôi quá vội vàng, hai bên không có thời gian tìm hiểu rõ, tình cảm vợ chồng lạnh nhạt khó hòa hợp. Do xa cách địa lý, bất đồng ngôn ngữ và phong tục tập quán, khác biệt quá lớn, tình yêu của chúng tôi không đủ để vượt qua khó khăn. Do đó, cuộc hôn nhân này không thể tồn tại, nếu kéo dài sẽ đem lại bất hạnh cho cả hai. Tôi quyết định chấm dứt cuộc hôn nhân này.
Trong thời gian chung sống, chúng tôi không có con chung, không có tài sản chung và không có nợ chung.
Do xa cách về địa lý nên ông L, C xin vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
Tại Bản tự khai ngày 23/10/2025, bị đơn là bà Trần Thu N trình bày:
Do mai mối, tôi và ông L, C tự tìm hiểu và tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật hôn nhân gia đình và đã được Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Hậu Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số: 112 ký ngày 12/12/2023. Sau khi kết hôn tôi và ông L, C chưa sống với nhau chung một nhà một ngày nào hết. Vì lý do, ông L, C về Đài Loan sinh sống và làm việc, còn tôi ở lại Việt Nam học tiếng Hoa (để đợi ngày ông L, Chiang-Chuan bảo lãnh để vợ chồng được đoàn tụ) nhưng từ khi ông L, C về Đài Loan cho tới nay chúng tôi chủ yếu hỏi thăm nhau qua tin nhắn nhưng rất ít. Tuy nhiên, giữa chúng tôi thường xuyên bất đồng ngôn ngữ nói chuyện không hiểu nhau, không có tiếng nói chung dẫn đến mục đích hôn nhân không đạt được. Thiết nghĩ nếu kéo dài cuộc hôn nhân (chồng vợ ở hai quốc gia) cũng không có được hạnh phúc.
Do đó, chồng tôi là ông L, C có làm đơn khởi kiện ly hôn với tôi. Tôi thống nhất các nội dung có trong đơn khởi kiện của ông L, C những vấn đề sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Tôi đồng ý ly hôn với ông L, C.
- Về con chung: Giữa tôi với ông L, C không có con chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: Giữa tôi với ông L, C không có tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bà N có đơn yêu cầu vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn là ông L, C là người nước ngoài khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với bị đơn là bà Trần Thu N, là công dân Việt Nam, cư trú tại xã T, thành phố Cần Thơ. Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, điểm d khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án năm 2025 thì đây là vụ án hôn nhân và gia đình về việc ly hôn, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 14 – Cần Thơ.
[2] Tại phiên tòa, ông L, C và bà Trần Thu N vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.
[3] Xét yêu cầu ly hôn của ông L, C:
[3.1] Giữa ông L, C và bà Trần Thu N tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên được xem là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, ông L, Chiang-Chuan trở về Đài Loan sinh sống, còn bà N ở lại Việt Nam sinh sống và ông L, C1 làm thủ tục bảo lãnh bà N sang Đài Loan sinh sống để xây dựng gia đình hạnh phúc.
[3.2] Ông L, C cho rằng khi chưa hoàn thành thủ tục cấp visa thì giữa ông và bà N bắt đầu xảy ra mâu thuẫn, bà N không đến làm thủ tục phỏng vấn xin visa. Sau đó, tình cảm vợ chồng ngày càng xa cách, lạnh nhạt, đã phai nhạt, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể hàn gắn. Do xa cách địa lý, bất đồng ngôn ngữ và phong tục tập quán nên hôn nhân không thể tồn tại, nếu kéo dài sẽ đem lại bất hạnh cho cả hai nên ông L, C yêu cầu được ly hôn với bà N.
[3.3] Bà N cho rằng do bất đồng ngôn ngữ nói chuyện không hiểu nhau, không có tiếng nói chung dẫn đến mục đích hôn nhân không đạt được. Bà N đồng ý ly hôn với ông L, C.
[3.4] Xét thấy, ông L, C1 và bà N tiến tới hôn nhân trên cơ sở M, chưa có thời gian yêu thương, tìm hiểu nhau, nền tảng hôn nhân chưa vững chắc. Sau khi kết hôn, do xa cách về địa lý, bất đồng ngôn ngữ và phong tục tập quán nên tình cảm vợ chồng nhạt phai. Trên thực tế quan hệ hôn nhân giữa bà N và ông L, C không tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự thuận tình ly hôn giữa ông L, C và bà Trần Thu N.
[4] Về con chung: Ông L, C và bà N xác định không có nên không xem xét giải quyết.
[5] Về tài sản chung và nợ chung: Ông L, C và bà N xác định không có nên không xem xét giải quyết.
[6] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của L, C.
[7] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, ông L, C và bà Trần Thu N mỗi người phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm với số tiền là 75.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 271, Điều 273, Điều 469, Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án năm 2025;
- Các Điều 51, 55 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của L, C.
- Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa ông L, C và bà Trần Thu N.
- Về con chung: Ông L, C và bà N xác định không có nên không xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Ông L, C và bà N xác định không có nên không xem xét giải quyết.
- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm:
- Ông L, C phải chịu 75.000 (bảy mươi lăm nghìn) đồng, được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí ông L, C đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0006438 ngày 20/10/2025 của Chi thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ. Ông L, C được nhận lại số tiền chênh lệch là 225.000 (hai trăm hai mươi lăm nghìn) đồng.
- Bà Trần Thu N phải chịu 75.000 (bảy mươi lăm nghìn) đồng.
- Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết theo quy định.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
* Nơi nhận: - TAND TP Cần Thơ; - Đương sự; - Thi hành án dân sự TP Cần Thơ; - VKSND Khu vực 14-Cần Thơ; - UBND xã Tân Hòa, TP Cần Thơ; - Lưu: VT, Hồ sơ vụ án. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hồng Thanh |
Bản án số 56/2025/HNGĐ-ST ngày 28/11/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 14 – Cần Thơ về ly hôn
- Số bản án: 56/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 14 – Cần Thơ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
