|
TÒA ÁN NHÂN DÂN K 6 - SƠN LA Bản án số: 55/2025/HSST Ngày 17 - 12 - 2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN K 6 - SƠN LA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bàn Văn Hoàng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lò Anh Đông, Bà Hoàng Thị Mai Hương
Thư ký phiên tòa: Ông Bàn Văn Sơn - Thư ký Toà án nhân dân k 6 - Sơn La.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân k 6 - Sơn La tham gia phiên toà:
Bà Hoàng Thị Thanh Nga - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân k 6 - Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 54/2025/TLST - HS ngày 14 tháng 11 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 61/2025/QĐXXST - HS ngày 04 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo.
Lường Văn T, tên gọi khác: Không; sinh ngày 09/02/2002; Tại xã L, tỉnh Sơn La; Nơi cư trú: Bản L, xã T, tỉnh Sơn La: Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Đảng phái đoàn thể: Không; Trình độ học vấn: Lớp 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Lường Văn S và con bà Vì Thị N; Bị cáo chưa có vợ con.
Tiền án, Tiền sự; Không. Nhân thân: Tại quyết định số 32/QĐ - TA ngày 17/3/2020 bị Tòa án nhân dân Quận Đ, thành phố Hà Nội áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn là 12 tháng. (Đã được xóa tiền sự).
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 19/9/2025 tại Phân trại tạm giam khu vực Vân Hồ - PC 11 Công an tỉnh Sơn La cho đến nay có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, vụ án được tóm tắt như sau:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Lường Văn T khai nhận như sau: Bản thân nghiện ma túy. Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 19/9/2025 Tinh đi xe khách từ nhà tại bản L, xã T đến khu vực M tìm việc làm thuê. Đến ngã ba P khu vực M tinh xuống xe rồi nảy sinh ý định tìm mua ma túy để sử dụng. T đi bộ đến đường dân sinh thuộc xã L, tỉnh Sơn La thì gặp và hỏi mua được của người đàn ông không quen biết 01 gói nilon màu trắng, bên trong đựng 01 viên hồng phiến và Heroine với giá 400.000đ. Sau khi mua được ma túy T lấy 01 viên hồng phiến ra nghiền trộn cùng một ít Heroine rồi sử dụng. Sử dụng xong, T gói số ma túy còn lại cất giấu vào túi quần bên trái rồi đi bộ quay về, trên đường đi đến tổ dân phố T, phường M, tỉnh Sơn La thì bị công tác kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang. Vật chứng thu giữ: 01 gói nilon màu trắng bên trong chứa cục chất bột màu trắng, nghi là ma túy.
Ngày 19/9/2025 Công an tỉnh Sơn La cân tịnh, xác định khối lượng cục chất bột màu trắng thu giữ của Lường Văn T được 0,38 gam, lấy toàn bộ làm mẫu gửi giám định, mẫu ký hiệu T.
Cùng ngày, tiến hành Test thử ma túy đối với Lường Văn T cho kết quả dương tính với chất ma túy loại Methamphetamine và Heroine. Qua xác minh Lường Văn T không thuộc các diện theo quy định tại Điều 256a Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2025. Do đó không tiến hành lấy mẫu giám định chất ma túy đối với Lường Văn T.
Tại bản kết luận giám định số: 1155/KL - KTHS ngày 23/9/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận “Mẫu ký hiệu T gửi giám định là ma túy, loại Heroine; có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (Sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/NĐ – CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất. Khối lượng chất ma túy gửi giám định là 0,38 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,38 gam loại Heroine”.
Tại bản cáo trạng số 52/CT - VKS ngày 13/11/2025 của Viện kiểm sát nhân k 6 - Sơn La đã truy tố Lường Văn T về tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2025.
Tại phiên toà Kiểm sát viên phát biểu luận tội vẫn giữ nguyên quyết định như cáo trạng truy tố đối với bị cáo Lường Văn T về tội danh, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lường Văn T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy:
a, Về trách nhiệm hình sự:
- - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự Bộ luật hình sự, sửa đổi bổ sung năm 2025 theo Luật sửa đổi số 86/2025/QH15 của Quốc hội; Xử phạt bị cáo Lường Văn T từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Thời hạn tù tính từ ngày 19/9/2025.
- - Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
b, Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; đề nghị tuyên tịch thu tiêu huỷ: - 01 phong bì do Bưu điện Việt Nam phát hành. Mặt trước phong bì ghi: “Vật chứng còn lại vụ Lường Văn T, (gói nilon màu trắng), bắt ngày 19/9/2025”. Tại mép dán giáp lai Mặt sau được dán giấy niêm phong do Công an tỉnh Sơn La phát hành số 0000246.
c, Về án phí: Đề nghị căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 21 điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Buộc bị cáo Lường Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.
Do hành vi của bị cáo đã rõ, nên bị cáo Lường Văn T không có ý kiến gì tranh luận, đối đáp lại với Kiểm sát viên tại phiên tòa.
Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ mức án cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Sơn La, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân k 6 - Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa về thời gian, địa điểm và diễn biến sự việc phù hợp với bản cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát, bị cáo không có ý kiến gì thay đổi hay bổ sung gì và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng vật chứng thu giữ. Kết luận giám định “Khối lượng chất ma túy bị thu giữ là 0,38 gam loại Heroine”. Như vậy: Có đủ căn cứ kết luận: Ngày 19/9/2025 bị cáo Lường Văn T, sinh năm 2002 bị bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép 0,38 gam Heroine.
[3] Xét tính chất hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo đã cố tình phạm tội nghiêm trọng, tàng trữ 0,38 gam Heroine đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy làm lây lan phát sinh các tệ nạn xã hội khác, nhất là tội phạm về ma túy. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương, nên cần có mức án phù hợp đối với bị cáo nhằm răn đe, giáo dục phòng ngừa chung và thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tệ nạn ma tuý nói chung tại địa phương hiện nay. Do bị cáo Lường Văn T thực hiện hành vi phạm tội sau 0 giờ 00 phút ngày 01/7/2025; Do đó áp dụng Bộ luật hình sự được sửa đổi bổ sung theo luật số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số Điều năm 2025, để xét xử bị cáo Lường Văn T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 của bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung của Bộ luật hình sự, quy định khung hình phạt tù từ 03 năm đến 05 năm tù là đúng với quy định của pháp luật.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Không có.
[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
[7] Về hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Qua xác minh, bị cáo hiện nay làm vào nghề lao động tự do, không có tài sản riêng có giá trị, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[8] Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo Lường Văn T, do không xác định được lai lịch, địa chỉ. Nên Cơ quan điều tra Công an tỉnh Sơn La không có cơ sở điều tra xử lý đối với đối tượng đã bán ma túy cho bị cáo. Buộc bị cáo Lường Văn T phải chịu trách nhiệm hình sự đối với số ma túy bị thu giữ là 0,38 gam Heroine.
[9] Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo Lường Văn T không thuộc diện nào quy định tại khoản 1 Điều 256a Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025 nên không tiến hành lấy mẫu để giám định chất ma túy. Công an tỉnh Sơn La đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với bị cáo, theo quy định tại khoản 1 Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ - CP ngày 31/12/2021 của Chính Phủ là có căn cứ.
[10] Xét quan điểm luận tội của Kiểm sát viên - đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Sơn La tại phiên tòa về việc giải quyết toàn bộ vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[11] Vật chứng vụ án: Đối với 01 phong bì niêm phong, mặt trước phong bì ghi: “Vật chứng còn lại vụ Lường Văn Tinh, Tàng trữ trái phép chất ma túy, bắt ngày 19/9/2025 (Một mảnh nilon màu trắng)”. Mặt sau được dán giấy niêm phong do Công an tỉnh Sơn La phát hành số 0000246, vật không có giá trị sử dụng, nên cần tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
[12] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 21 điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo Lường Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
[13] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của tại Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Thời hạn tạm giam đối với bị cáo Lường Văn T còn lại dưới 45 ngày, do đó Hội đồng xét xử ra quyết định tạm giam bị cáo để đảm bảo cho việc thi hành án.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự sửa đổi bổ sung năm 2025.
- Vật chứng vụ án: Căn cứ khoản 1 điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
- Về án phí: Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 21 điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo Lường Văn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Bị cáo Lường Văn T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
Tuyên bố bị cáo Lường Văn T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
- Xử phạt bị cáo Lường Văn T 42 (Bốn mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/9/2025.
Không áp dụng hình phạt bổ sung - phạt tiền đối với bị cáo.
Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong, mặt trước phong bì ghi: “Vật chứng còn lại vụ Lường Văn T, Tàng trữ trái phép chất ma túy, bắt ngày 19/9/2025 (Một mảnh nilon màu trắng)”. Mặt sau được dán giấy niêm phong do Công an tỉnh Sơn La phát hành số 0000246.
Theo biên bản bàn giao vật chứng số: 44/BBVC - THA ngày 19/11/2025 của Phòng Thi hành án dân sự khu vực 6, tỉnh Sơn La.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Bàn Văn Hoàng |
7
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Lò Anh Đông Hoàng Thị Mai Hương |
Bàn Văn Hoàng |
Bản án số 55/2025/HSST ngày 17/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN K 6 - SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 55/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN K 6 - SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lường Văn T bị xét xử về tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự
