Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 54/2025/HNGĐ-PT

Ngày: 30 - 12 - 2025

V/v Tranh chấp chia tài sản

sau khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Trang.

Các Thẩm phán: Ông Ngô Đê;

Bà Ngô Thị Kim Châu.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Tín - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Phiên - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 51/2025/TLPT-HNGĐ ngày 28 tháng 10 năm 2025 về “Tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 05/2025/HNGĐ-ST ngày 23 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Vĩnh Long bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 59/2025/QĐ-PT ngày 17 tháng 11 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 55/2025/QĐ-PT ngày 10 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1980; (có mặt)

Địa chỉ: Tổ D, ấp H, xã M, tỉnh Vĩnh Long.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn:

Chị Dương Thị Cẩm H, sinh năm 1979; (có mặt)

Địa chỉ: ấp Q, xã T, tỉnh Vĩnh Long.

- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Thanh T (C1), sinh năm 1985; (có mặt)

Địa chỉ: Tổ D, ấp H, xã M, tỉnh Vĩnh Long.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Nguyễn Quyết Q - Luật sư Công ty L - Chi nhánh V2 thuộc đoàn Luật sư Thành phố H; Địa chỉ: Số B đường P, phường P, tỉnh Vĩnh Long. (có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Lê Thị T1, sinh năm 1949;
  2. Anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 1982;
  3. Anh Nguyễn Văn T3, sinh năm 1985;
  4. Chị Nguyễn Thị T4, sinh năm 1974;
  5. Anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 1970;

Cùng địa chỉ: Tổ D, ấp H, xã M, tỉnh Vĩnh Long.

  1. Anh Nguyễn Văn V, sinh năm 1977;

Địa chỉ: Số A, khu V, đường N, phường N, thành phố Cần Thơ.

(Bà T1, anh T2, anh T3, chị T4, anh H1, anh V đều có yêu cầu xét xử vắng mặt)

- Người kháng cáo: Nguyên đơn anh Nguyễn Văn N và bị đơn chị Nguyễn Thị Thanh T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung bản án sơ thẩm,

Theo đơn khởi kiện, bản khai ngày 28/10/2022 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là anh Nguyễn Văn N trình bày:

Anh và chị Nguyễn Thị Thanh T đã ly hôn theo Bản án số 44/2022/HNGĐ-ST ngày 22/7/2022 của Tòa án nhân dân huyện Bình Tân; Về con chung giữa anh N và chị T đã được giải quyết theo Bản án số 97/2023/HNGĐ-ST ngày 15/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Bình Tân hiện đã có hiệu lực pháp luật, theo đó, anh N được trực tiếp chăm sóc cả 02 con chung là Nguyễn Ngọc Tường V1 (sinh ngày 22/12/1997) và Nguyễn Thị Bảo C (sinh ngày 26/3/2016). Về tài sản chung vẫn còn tranh chấp. Trong thời kỳ hôn nhân, anh và chị T tạo lập các tài sản chung gồm:

Quyền sử dụng đất thửa số 33, tờ bản đồ số 37, diện tích 101,1m² loại đất ở tại nông thôn, tọa lạc tại ấp H, xã M, tỉnh Vĩnh Long, gắn liền với thửa 33 là căn nhà cấp 4, nhà này dùng làm cơ sở kinh doanh đồ điện gia dụng, do anh đứng tên quyền sử dụng đất và đứng tên kinh doanh. Anh thống nhất thửa đất 33 và căn nhà cấp 4 trị giá hiện nay là 1.000.000.000 đồng và thống nhất các đồ điện gia dụng đang kinh doanh có trị giá là 40.000.000 đồng.

Căn nhà cấp 04 cất trên thửa đất số 234, tờ bản đồ số 19, diện tích 145,7m² loại đất ONT + CLN thì mẹ anh là bà Lê Thị T1 cho mượn ở, anh được mẹ tách cho riêng thửa đất 234 sau khi ly hôn với chị T. Căn nhà trên thửa 234 là tài sản chung của vợ chồng, thống nhất trị giá là 33.337.768 đồng.

Bờ kè trên thửa 59 xây dựng năm nào anh không nhớ (xây dựng cách nay khoảng 04-05 năm). Thửa 59 thì bà T1 tặng cho riêng anh sau khi ly hôn vào năm 2023, hiện nay do anh đứng tên quyền sử dụng đất. Anh thống nhất giá trị bờ kè là 25.977.600 đồng theo định giá của Công ty Cổ phần T7 (sau đây viết tắt là Công ty T7).

Về quyền sử dụng đất theo ý kiến trình bày của chị T có diện tích 5.000m² (trong đó gồm có 2.000m² do cha mẹ anh tặng cho anh và chị T trong thời kỳ hôn nhân; còn lại 3.000m² do chị T và anh anh nhận chuyển nhượng lại từ mẹ anh là bà Lê Thị T1 1.000m²; từ anh em của anh là anh Nguyễn Văn T2 1.000m², anh Nguyễn Văn T3 là 1.000m²). Phần đất 3.000m² này hiện nay vợ chồng anh Nguyễn Văn H1, chị Nguyễn Thị T4 đang thuê thì anh và vợ chồng anh H1, chị T4 không tranh chấp việc thuê đất. Anh xác định bà T1 tặng cho riêng 2.000m² vào năm nào không nhớ, anh được cấp quyền sử dụng nhưng không nhớ thửa nào. Về phần 3.000m² thì trước đây anh và chị T nhận chuyển nhượng của bà T1 01 công (1.000m²), chị T2 1.000m², anh T3 là 1.000m² thì anh và bà T1, anh T2, anh T3 không có tranh chấp, phần 3.000m² này thì anh đồng ý tách cho chị T 1.500m² theo kết quả đã được đo đạc.

Anh yêu cầu chia tài sản chung với chị T: Anh yêu cầu được hưởng tài sản là nhà, đất tại thửa đất số 33, đồng ý hoàn lại cho chị T một nửa trị giá tài sản nhà, đất tại thửa đất số 33 bằng 500.000.000 đồng. Anh đồng ý giao lại cho chị T hưởng các đồ điện gia dụng đang kinh doanh, anh được nhận lại một nửa trị giá là 20.000.000 đồng. Trường hợp chị T không có nhu cầu sử dụng 1.500m² thuộc thửa 243-1 loại đất LUC do anh đứng tên quyền sử dụng thì anh nhận đất để sử dụng và hoàn lại chị T trị giá đất theo giá do Công ty T7 đã định bằng 285.000.000 đồng. Về trị giá bờ kè trên thửa 59 (thửa cũ), tờ bản đồ số 19, diện

tích 570,8m² do anh đứng tên thuộc thửa 234, loại đất ở và đất trồng cây lâu năm, được cấp quyền sử dụng ngày 06/7/2023 và thửa 237-1 diện tích 425,1m², loại đất trồng cây lâu năm, do anh, chị Nguyễn Thị T4, anh Nguyễn Văn V đứng tên quyền sử dụng đất, được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 21/7/2023 bằng 25.977.600 đồng, do anh tiếp tục sử dụng thửa đất 234 và sử dụng chung thửa đất 237 nên anh đồng ý hoàn lại chị T một nửa trị giá bờ kè bằng 12.988.800 đồng, một nửa trị giá căn nhà trên thửa 234 bằng 16.668.884 đồng. Các phần đất tọa lạc tại tổ D, ấp H, xã M, tỉnh Vĩnh Long.

Tại đơn yêu cầu ngày 21/6/2023, đơn yêu cầu sửa đổi, bổ sung ngày 29/10/2024 (ghi là đơn phản tố) và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn chị Nguyễn Thị Thanh T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân, con cái là đúng như anh N trình bày.

Qua yêu cầu của anh N về tài sản thì chị không thống nhất. Tài sản chung giữa chị và anh N trong thời kỳ hôn nhân gồm có:

Quyền sử dụng đất tại thửa 33, tờ bản đồ số 37, diện tích 101,1m² loại đất ONT; căn nhà cấp 4 trên thửa đất 33 do anh Nguyễn Văn N đứng tên. Chị thống nhất trị giá nhà, đất tại thửa 33 là 1.000.000.000 đồng.

Căn nhà tại thửa 33, chị sử dụng từ thời điểm chị và anh N ly hôn, việc kinh doanh đồ điện gia dụng lúc vợ chồng còn chung sống thì do anh N đứng tên trên giấy đăng ký kinh doanh, anh N là người giao hàng và sửa chữa điện tử cho khách. Sau khi ly hôn thì anh N thuê căn nhà ở đối diện thửa đất 33 để tiếp tục kinh doanh đồ điện gia dụng và sửa chữa điện tử. Vì vậy, chị đã đăng ký kinh doanh sang tên chị. Tại căn nhà này, hiện nay 02 con chị vẫn ở chung, hiện tại việc kinh doanh của chị diễn ra bình thường.

Trị giá đồ điện gia dụng tại cơ sở kinh doanh lúc ly hôn có giá khoảng 40.000.000 đồng, chị đồng ý giao lại anh N một nửa là 20.000.000 đồng và đề nghị tiếp tục được hưởng và sử dụng.

Phần đất diện tích 5.000m² (trong đó gồm có 2.000m² do cha mẹ anh N tặng cho anh N và chị trong thời kỳ hôn nhân thuộc thửa 161 do anh N đang đứng tên được cấp quyền sử dụng ngày 09/10/2012; còn lại 3.000m² do chị và anh N nhận chuyển nhượng lại từ mẹ anh N là bà Lê Thị T1 1.000m²; từ anh em của anh N là anh Nguyễn Văn T2 1.000m², anh Nguyễn Văn T3 là 1.000m²). Phần đất này hiện nay vợ chồng anh Nguyễn Văn H1, chị Nguyễn Thị T4 đang thuê, chị không có tranh chấp tiền thuê, chỉ yêu cầu chia đôi quyền sử dụng đất. Do không có điều kiện canh tác và không có nhu cầu sử dụng nên chị giao lại

anh N được hưởng và yêu cầu anh N hoàn lại ½ trị giá 3.000m² bằng 285.000.000 đồng.

Về quyền sử dụng đất 2.000m² thì cha mẹ anh N tặng cho không lập giấy tờ; phần 3.000m² đất chuyển nhượng thêm cũng không lập giấy tờ; hiện nay 5.000m² đất này thuộc thửa đất số 229 diện tích chung là 15.401,5m² do anh N đứng tên, được cấp quyền sử dụng ngày 10/10/2023. Chị không xác định được vị trí 5.000m² trên thực tế. Về vị trí 3.000m² đất đã nhận chuyển nhượng từ bà T1, anh T2, anh T3, khi đo đạc, xem xét, thẩm định tại chỗ, anh N đã chỉ ranh trên thực tế (1.500m² thuộc thửa 243-1 loại đất LUC) thì chị không có ý kiến.

Thửa đất 59, tờ bản đồ số 19, diện tích 570,8m², loại đất ONT và CLN, do anh N đứng tên, thửa 234, thửa 243-1 thống nhất trị giá theo giá do Công ty T7 đã định. Về bờ kè theo trị giá còn lại 30% nên chị xác định giá trị lúc xây dựng 80.000.000 đồng là phù hợp.

Chị T yêu cầu được nhận tài sản là nhà và đất tại thửa 33; hoàn lại anh N một nửa trị giá nhà, đất tại thửa 33 bằng 500.000.000 đồng và đồ gia dụng trong nhà đang kinh doanh là 20.000.000 đồng và yêu cầu anh N giao trả lại 1/2 trị giá bờ kè bằng 40.000.000 đồng; trị giá căn nhà trên thửa 234 thống nhất theo giá đã định là 33.337.768 đồng, anh N hoàn trả một nửa bằng 16.668.884 đồng. Các thửa đất còn lại gồm thửa 59 (hiện nay là thửa 234 diện tích 145,7m² loại đất ONT+ CLN và 237 - 1 diện tích 425,1m² loại đất CLN), 243-1 diện tích 1.500m² và 2.000m² loại đất LUC do không có nhu cầu, không có điều kiện canh tác nên chị đồng ý giao lại anh anh N được hưởng, yêu cầu anh N hoàn lại một nửa trị giá theo giá đất đã định của Công ty T7.

Về cây trồng trên thửa 234, sau khi ly hôn, anh N cho chị T4 mượn trồng một số cây mít nên chị không tranh chấp số cây trồng này.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 05/5/2025, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Lê Thị T1 trình bày: Trước khi chồng bà mất có ý nguyện sẽ tách cho các con trong gia đình mỗi người con 2.000m² đất ruộng, tuy nhiên việc này chỉ mới nói, thực tế thì các con chưa ai được tách chia 2.000m² để đứng tên trong đó có phần của anh Nguyễn Văn N. Do bà lớn tuổi, đất ruộng bà giao lại cho con là anh Nguyễn Văn T3 trực tiếp quản lý canh tác, vì anh T3 ở chung nhà với bà. Phần này chị T tranh chấp yêu cầu chia để hưởng bà không đồng ý vì thực tế anh N chưa nhận đất, chưa đứng tên và không canh tác.

Phần một công đất ruộng thì bà có chuyển nhượng cho vợ chồng anh N, chị T nhưng chưa tách bộ sang tên, bà đã nhận đủ tiền 65.000.000 đồng, việc

này bà thống nhất để anh N, anh T3, anh T2 tách chia cho chị T ½ bằng 1.500m² khi chị T có yêu cầu (vì anh T3, anh T2 mỗi người chuyển nhượng cho vợ chồng anh N một công đất ruộng), thực tế bà đã giao cho anh Nguyên canh T5 một công đất này.

Đối với thửa đất 234 (có căn nhà cũ trước đây của anh N, chị T) bà chỉ cho anh N mượn sử dụng để cất nhà cho các cháu là con của anh N có chỗ ở, chỉ cho mượn. Thửa đất phía sau liền kề thửa đất 234 là thửa 237 thì bà tặng cho chị T4, anh V và anh N đứng tên chung sau khi anh N và chị T đã ly hôn nên việc chị T yêu cầu chia 02 thửa đất 234 và 237 bà không đồng ý vì không phải là tài sản chung của anh N và chị T.

Các con của anh N thì hiện nay do anh N chăm sóc, nuôi dưỡng, lo chi phí ăn học, buổi tối các con anh N thường về ngủ ở nhà của cô ruột (chị của anh N) là chị Nguyễn Thị T4 ở kế nhà của bà.

Do tuổi đã lớn và hay bệnh, đi lại không tiện nên bà đề nghị xin vắng mặt khi Tòa án các cấp mời giải quyết vụ án.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 09/5/2025, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Nguyễn Thị T4 và anh Nguyễn Văn H1 trình bày: Vợ chồng anh chị có thuê 3.000m² trong thửa đất 243 diện tích 4.388m² khoảng 06 - 07 năm nay, do chỗ chị em nên giữa anh chị và anh N không làm giấy tờ thuê, giá thuê 01 công bằng 2.500.000 đồng/năm, đã trả tiền hàng năm đầy đủ cho phía anh N, hiện không tranh chấp việc thuê phần đất này. Lúc thuê thì vợ chồng anh chị biết của vợ chồng anh N, chị T (khi chưa ly hôn). Hiện nay, chị T yêu cầu được chia 1.500m² tại thửa 243 (phần vợ chồng anh chị đang thuê) thì anh chị không có ý kiến. Khi Tòa án giải quyết xong bằng bản án có hiệu lực pháp luật, nếu 1.500m² giao lại cho chị T thì anh chị đồng ý thực hiện theo bản án.

Chị Nguyễn Thị T4 có ý kiến: Đối với thửa đất 237 hiện do chị, anh V và anh N đứng tên chung là phần đất do mẹ ruột là bà Lê Thị Thu T6 cho 03 chị em sau khi anh N đã ly hôn với chị T. Trước khi anh N, chị T ly hôn thì bà T1 chỉ cho anh N cất nhà ở nhờ trên thửa 234 (hiện còn căn nhà cũ không ai ở). Phần đất thửa 237 liền kề thì cho anh N mượn trồng mít, hiện tại 03 chị em không tranh chấp, để tự thoả thuận. Chị, anh V và anh N đứng tên thửa 237 là tài sản chung của 03 người nên việc chị T yêu cầu chia tài sản với anh N một phần tại thửa 237 là không phù hợp, chị không đồng ý.

Do không có yêu cầu gì trong vụ án và bận công việc nhà nên anh H1, chị T4 yêu cầu được vắng mặt khi Tòa án các cấp mời giải quyết vụ án.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 20/02/2025, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Văn T3 trình bày: Anh là con ruột của bà Lê Thị T1 và là em ruột của anh Nguyễn Văn N, anh không có mâu thuẫn gì với vợ chồng anh N, chị T.

Cách nay 07 - 08 năm, có việc anh, anh Nguyễn Văn T2 và bà T1 có thỏa thuận chuyển nhượng đất cho anh N, chị T, mỗi người chuyển nhượng cho anh N, chị T 01 công đất lúa, chỉ thỏa thuận miệng, không có làm giấy tờ, mỗi công bằng 65.000.000 đồng; anh T2, mẹ anh và anh mỗi người nhận 65.000.000 đồng. Anh không biết đất thuộc thửa số mấy, cũng không biết vị trí đất trên thực tế. Anh, anh T2 và mẹ anh có yêu cầu chị T, anh N thực hiện đo đạc thực tế để làm thủ tục chuyển nhượng nhưng anh N, chị T không thực hiện, hiện tại anh, anh T2 và mẹ anh vẫn giữ nguyên ý kiến đồng ý tiếp tục thực hiện thủ tục để anh N, chị T mỗi người đứng tên 1,5 công đất ruộng.

Anh vẫn đồng ý tiếp tục chuyển nhượng cho anh N, chị T 01 công đất ruộng như đã thỏa thuận trên thực tế; chị T và anh N yêu cầu đo đạc thực tế 01 công đất, anh sẽ ký tên để hoàn tất thủ tục cho anh N, chị T mỗi người 1,5 công (có thể đo ngay vị trí đất của mẹ anh, anh T2 và của anh).

Anh xác định là mẹ anh có cho vợ chồng anh N 02 công đất ruộng nhưng anh không biết vị trí trên thực tế. Do bận công việc nên anh xin được vắng mặt khi Tòa án các cấp mời giải quyết vụ án, cam kết khai đúng sự thật và chịu trách nhiệm về lời khai của mình là đúng.

Tại bản khai ý kiến ngày 13/5/2025, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Văn V trình bày: Anh là con của bà Lê Thị T1, anh của anh Nguyễn Văn N và em của chị Nguyễn Thị T4. Quyền sử dụng đất tại thửa 237 diện tích 726,9m² loại đất trồng cây lâu năm, tọa lạc tại ấp H, xã N, huyện B, tỉnh Vĩnh Long do anh, chị Nguyễn Thị T4 và anh Nguyễn Văn N đứng tên chung quyền sử dụng, được cấp ngày 21/3/2023, có nguồn gốc do mẹ anh tặng cho chị em anh. Thửa đất này thì bà Lê Thị Thu T6 cho chị em anh sau khi anh N và chị T đã ly hôn. Hiện nay, chị T yêu cầu chia phần đất có diện tích bằng 425,1m² thuộc một phần của thửa 237 (liền kề phần đất thửa 234) thì anh không đồng ý vì đây không phải là tài sản chung của vợ chồng anh N và chị T mà đây là tài sản chung của anh, anh N và chị T4. Hiện nay, anh, chị T4 cho anh N sử dụng để trồng một số cây mít, chị em anh không có tranh chấp việc trồng cây.

Do bận đi làm nên anh xin được vắng mặt trong quá trình Tòa án các cấp mời giải quyết vụ án và cam kết lời trình bày của mình là đúng.

Tại bản khai ý kiến ngày 08/7/2025, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Văn T2 trình bày: Anh là con ruột của bà Lê Thị T1 và là em ruột của anh Nguyễn Văn N, anh không có mâu thuẫn gì với vợ chồng anh N, chị T.

Cách nay khoảng 07 - 08 năm, có việc anh, anh T2 và bà T1 có thỏa thuận chuyển nhượng đất ruộng cho anh N, chị T (anh chuyển nhượng 01 công, T3 chuyển nhượng 01 công và bà T1 chuyển nhượng 01 công), chỉ thỏa thuận miệng, không có làm giấy tờ, mỗi công bằng 65.000.000 đồng; anh nhận tiền xong bằng 65.000.000 đồng từ anh N, chị T. Anh không biết đất thuộc thửa số mấy; cũng không biết vị trí trên thực tế. Anh, anh T3 và bà T1 có yêu cầu chị T, anh N thực hiện đo đạc thực tế để làm thủ tục chuyển nhượng nhưng anh N, chị T không thực hiện. Hiện tại, anh, anh T3 và bà T1 vẫn giữ nguyên ý kiến đồng ý tiếp tục thực hiện thủ tục để anh N, chị T mỗi người đứng tên 1,5 công đất ruộng. Việc này anh không có ý kiến tranh chấp. Do bận đi làm nên anh xin được vắng mặt trong quá trình Tòa án các cấp mời giải quyết vụ án và cam kết lời trình bày của anh là đúng.

Do hòa giải không thành, Tòa án nhân dân khu vực 3 - Vĩnh Long đưa vụ án ra xét xử.

Tại Bản án sơ thẩm số 05/2025/HNGĐ-ST ngày 23 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Vĩnh Long quyết định (tóm tắt):

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn N.

1.1. Công nhận cho anh Nguyễn Văn N được sở hữu căn nhà cấp 4 trên thửa số 234, diện tích 145,7m² loại đất CLN do anh Nguyễn Văn N đúng tên; bờ kè xây dựng trên thửa 234 và thửa 237-1 diện tích 425,1m² loại đất CLN do anh Nguyễn Văn N, chị Nguyễn Thị T4 và anh Nguyễn Văn V đứng tên, anh N được tiếp tục sở hữu các tài sản là cây trồng trên thửa 237-1.

1.2. Công nhận cho anh Nguyễn Văn N được quyền sử dụng đất có diện tích 1.500m² thuộc thửa 243-1 (do anh N đang đứng tên).

1.3. Buộc anh N có trách nhiệm hoàn trả cho chị Nguyễn Thị Thanh T giá trị bờ kè, một nửa giá trị căn nhà trên thửa 234 và quyền sử dụng đất thửa 243-1 bằng 327.646.500 (ba trăm hai mươi bảy triệu sáu trăm bốn mươi sáu nghìn năm trăm) đồng.

Các phần đất tọa lạc tại tổ D, ấp H, xã N, huyện B, tỉnh Vĩnh Long (hiện nay là xã M, tỉnh Vĩnh Long).

2. Chấp nhận một phần yêu cầu của chị Nguyễn Thị Thanh T.

2.1. Công nhận cho chị T được sở hữu căn nhà cấp 4 và quyền sử dụng đất tại thửa số 33, tờ bản đồ số 37, diện tích 101,1m², loại đất ở tại nông thôn, tọa lạc tại ấp H, xã N, huyện B, tỉnh Vĩnh Long (hiện nay là xã M, tỉnh Vĩnh Long) do anh Nguyễn Văn N đứng tên quyền sử dụng và tài sản là đồ điện gia dụng (do chị T đang quản lý).

2.2. Chị T có trách nhiệm hoàn trả cho anh Nguyễn Văn N một nửa giá trị nhà, đất tại thửa 33 và đồ điện gia dụng bằng 520.000.000 (trăm trăm hai mươi triệu) đồng.

Chị T được quyền liên hệ cơ quan có thẩm quyền để thực hiện thủ tục kê khai, đăng ký đứng tên quyền sử dụng đất được công nhận theo quy định của pháp luật.

2.3. Không chấp nhận yêu cầu của chị T về chia tài sản chung với anh N đối với quyền sử dụng đất tại thửa 234 diện tích 145,7m² do anh N đứng tên và thửa 237-1 diện tích 425,1m² do anh N, chị T4, anh V đứng tên chung quyền sử dụng và 2.000m² đất lúa (thuộc thửa 161, tờ bản đồ số 19, diện tích 1977,9m² do anh Nguyễn Văn N đứng tên quyền sử dụng). Các phần đất tọa lạc tại ấp H, xã N, huyện B, tỉnh Vĩnh Long (hiện nay là xã M, tỉnh Vĩnh Long).

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên chi phí tố tụng khác, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 04/8/2025, bị đơn chị Nguyễn Thị Thanh T có đơn kháng cáo đề nghị sửa bản án sơ thẩm theo hướng:

1. Công nhận phần đất thuộc thửa 234 diện tích 145,7m² và thửa 237-1 diện tích 425,1m² cùng tọa lạc tại ấp H, xã M, tỉnh Vĩnh Long là tài sản chung của chị và anh N. Giao cho anh N nhận quyền sử dụng đất và buộc anh N phải hoàn lại cho chị ½ giá trị quyền sử dụng đất hai thửa đất nêu trên tương ứng số tiền 447.571.000 đồng.

2. Công nhận phần đất lúa diện tích đất 2.000m² là tài sản chung của chị và anh N. Giao cho anh N được nhận hiện vật là quyền sử dụng đất và buộc anh N hoàn trả ½ giá trị quyền sử dụng đất cho chị tương đương 190.000.000 đồng.

Ngày 06/8/2025, nguyên đơn anh Nguyễn Văn N có đơn kháng cáo nội dung:

1. Anh yêu cầu được nhận căn nhà cấp 4 và quyền sử dụng đất tại thửa số 33, tờ bản đồ số 37, diện tích 101,1m², loại đất ở tại nông thôn, tọa lạc tại ấp H,

xã M, tỉnh Vĩnh Long do anh đứng tên quyền sử dụng, anh hoàn lại chị T số tiền 500.000.000 đồng.

2. Quyền sử dụng đất thửa 243-1 diện tích 3.000m² loại đất lúa thì anh không đồng ý nhận hết để trả giá trị đất cho chị T mà anh yêu cầu chia đôi để chị T nhận 1.500m², anh nhận 1.500m².

3. Về căn nhà trên thửa 234 và bờ kè trên thửa 234, anh đồng ý hoàn lại cho chị T ½ giá trị bờ kè là 12.989.000 đồng và ½ giá trị căn nhà là 16.669.000 đồng, tổng cộng số tiền 29.658.000 đồng.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn anh N, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là chị H trình bày: Các thửa đất đang tranh chấp không có đăng ký giao dịch bảo đảm, anh N đang giữ bản chính các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Anh N không đồng ý trả cho chị T ½ giá trị căn nhà trên thửa 234 là 16.669.000 đồng vì căn nhà đã xuống cấp, không còn giá trị sử dụng. Phần kháng cáo còn lại anh N giữ nguyên. Anh N không đồng ý với kháng cáo của chị T.

Bị đơn chị T trình bày: Bị đơn không đồng ý với kháng cáo của nguyên đơn. Bị đơn đang sống với con tại căn nhà trên thửa đất 33. Tại phiên tòa hôm nay, do con đang ở với bị đơn nhưng bị đơn tham gia phiên tòa không có người giữ nên bị đơn có dắt con nhỏ theo.

Trong phần Hội đồng xét xử hỏi, chị T tự nguyện rút toàn bộ kháng cáo.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bày: Chị T rút kháng cáo đã thể hiện thiện chí của chị T. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của anh N, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Các đương sự không thỏa thuận được về việc giải quyết vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308, Điều 312, khoản 2 Điều 289 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của chị T.

Không chấp nhận kháng cáo của anh N, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa; kết quả tranh tụng tại phiên tòa; ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên; xét kháng cáo của nguyên đơn anh Nguyễn Văn N và bị đơn chị Nguyễn Thị Thanh T, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Nguyên đơn anh Nguyễn Văn N và bị đơn chị Nguyễn Thị Thanh T kháng cáo và thực hiện thủ tục kháng cáo hợp lệ, trong thời hạn luật định nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

[1.2] Bà T1, anh T2, anh T3, chị T4, anh H1, anh V có yêu cầu xét xử vắng mặt. Theo quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà T1, anh T2, anh T3, chị T4, anh H1, anh V.

[1.3] Các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án không thống nhất về họ tên và năm sinh của bị đơn, có tài liệu, văn bản ghi họ tên Nguyễn Thị Thanh C1, có tài liệu ghi Nguyễn Thị Thanh T; có tài liệu ghi năm sinh là 1984, có tài liệu ghi năm sinh là 1985. Tuy nhiên, theo căn cước công dân của chị T (BL 40) thể hiện họ tên bị đơn là Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1985. Tại phiên tòa phúc thẩm, chị T cũng thừa nhận chị có tên thường gọi là Chúc. Vì vậy, bản án ghi cả họ tên của bị đơn và tên thường gọi, về năm sinh của bị đơn được ghi theo căn cước công dân của bị đơn.

[2] Về nội dung:

[2.1] Chị T kháng cáo yêu cầu công nhận phần đất thuộc thửa 234 diện tích 145,7m² và thửa 237-1 diện tích 425,1m² cùng tọa lạc tại ấp H, xã M, tỉnh Vĩnh Long là tài sản chung của chị và anh N. Chị đồng ý giao cho anh N nhận quyền sử dụng đất và buộc anh N phải hoàn lại cho chị ½ giá trị quyền sử dụng đất hai thửa đất nêu trên tương ứng số tiền 447.571.000 đồng; yêu cầu công nhận phần đất lúa diện tích đất 2.000m² là tài sản chung của chị và anh N; giao cho anh N được nhận hiện vật là quyền sử dụng đất và buộc anh N hoàn trả ½ giá trị quyền sử dụng đất cho chị tương đương 190.000.000 đồng.

Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm, chị T tự nguyện rút toàn bộ kháng cáo. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào các điều 289, 312 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của chị T.

[2.2] Xét kháng cáo của anh N:

[2.2.1] Anh N yêu cầu được nhận căn nhà cấp 4 và quyền sử dụng đất tại thửa số 33, tờ bản đồ số 37 diện tích 101,1m², loại đất ở tại nông thôn, tọa lạc tại ấp H, xã M, tỉnh Vĩnh Long do anh đứng tên quyền sử dụng đất, anh hoàn lại chị T số tiền 520.000.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy:

Thửa đất số 33, tờ bản đồ số 37 diện tích 101,1m² mục đích sử dụng: đất ở nông thôn, tọa lạc tại ấp H, xã N, huyện B, tỉnh Vĩnh Long được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh V cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh Nguyễn Văn N vào ngày 03/01/2019 (BL 50). Trên đất có căn nhà cấp 4.

Cả anh N và chị T đều thống nhất thửa đất 33 và nhà gắn liền với thửa đất 33 là tài sản chung của vợ chồng và đồng ý chia, thống nhất giá trị đất. Tuy nhiên, cả hai đều có yêu cầu nhận hiện vật. Tại biên bản hòa giải ngày 07/7/2025, anh N và chị T đã thống nhất giá nhà và đất trên thửa 33 là 1.000.000.000 đồng. Đây là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh được quy định tại Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Cả anh N và chị T đều có yêu cầu nhận thửa đất 33 và căn nhà gắn liền thửa đất 33. Tuy nhiên, sau khi ly hôn, anh N đã thuê một nơi khác để kinh doanh, chị T thì sống cùng con chung của chị và anh N tại nhà và đất nêu trên. Tại phiên tòa phúc thẩm, anh N đề nghị anh giao cho chị T số tiền 750.000.000 đồng để anh được nhận nhà và đất thửa 33 nhưng chị T không đồng ý. Hiện nay, con của chị T và anh N đang ở với chị T, tại phiên tòa phúc thẩm, chị T có dẫn con nhỏ theo. Chị T không có nơi ở nào khác, anh N có quyền sử dụng đất phần đất thửa 234, trên đất có căn nhà cấp 4, có thể cải tạo để ở nên việc Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của chị T, giao cho chị T được quyền sử dụng thửa đất 33 và căn nhà gắn liền thửa đất 33 là có căn cứ. Vì vậy, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của anh N về việc yêu cầu được nhận căn nhà cấp 4 và quyền sử dụng đất tại thửa số 33, tờ bản đồ số 37 diện tích 101,1m², loại đất ở tại nông thôn, tọa lạc tại ấp H, xã M, tỉnh Vĩnh Long.

Trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm, các đương sự không có yêu cầu đo đạc và Tòa án cấp sơ thẩm cũng không đo đạc hoặc thu thập trích lục bản đồ địa chính thửa đất số 33, tờ bản đồ số 37. Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự thống nhất không có yêu cầu đo đạc, thu thập trích lục bản đồ địa chính thửa đất số 33, tờ bản đồ số 37 mà yêu cầu Tòa án sử dụng kích thước các cạnh theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để giải quyết vụ án. Vì

vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào kích thước các cạnh theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để tuyên trong phần quyết định của bản án.

[2.2.2] Anh N không đồng ý nhận trọn quyền sử dụng đất thửa 243-1 diện tích 3.000m² mà yêu cầu chia đôi để chị T nhận đất diện tích 1.500m², anh nhận đất diện tích 1.500m². Hội đồng xét xử xét thấy:

Trong quá trình giải quyết vụ án ở phiên tòa sơ thẩm, đối với phần đất này, chị T trình bày không có nhu cầu và không có điều kiện sử dụng nên yêu cầu để anh N sử dụng và trả giá trị cho chị theo giá Hội đồng định giá đã định, còn anh N thì trình bày trường hợp chị T không có nhu cầu sử dụng 1.500m² thuộc thửa 243-1 loại đất LUC do anh đứng tên quyền sử dụng thì anh sử dụng đất và hoàn lại chị T trị giá đất theo giá do Công ty Cổ phần T7 đã định bằng 285.000.000 đồng. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm giao đất cho anh N sử dụng và buộc anh N trả giá trị đất cho chị T là có căn cứ.

Tại phiên tòa phúc thẩm, chị T vẫn không thay đổi ý kiến, đồng thời, theo hồ sơ đo đạc và qua trình bày của đương sự tại phiên tòa phúc thẩm thì phần đất 1.500m² đất lúa đã đo đạc nằm ở cuối thửa đất và ở giữa những thửa đất khác của gia đình anh N, không có lối đi ra, không tiện cho việc sử dụng đất nếu giao đất cho chị T. Vì vậy, không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của anh N đối với phần đất này.

[2.2.3] Anh N kháng cáo cho rằng chỉ đồng ý trả chị T ½ giá trị căn nhà là 16.669.000 đồng và ½ giá trị bờ kè là 12.989.000 đồng, tổng cộng số tiền là 29.658.000 đồng nhưng tại phiên tòa phúc thẩm, anh N không đồng ý trả cho chị T 1/2 giá trị căn nhà là 16.669.000 đồng vì căn nhà đã xuống cấp, không còn giá trị sử dụng.

Hội đồng xét xử xét thấy, theo Chứng thư thẩm định giá của Công ty Cổ phần T7 thì giá trị bờ kè là 25.977.000 đồng, theo biên bản định giá thì giá trị nhà là 33.337.768 đồng. Trong quá trình giải quyết vụ án, các đương sự không có ý kiến gì về giá. Tại phiên tòa sơ thẩm (trang 3 Biên bản phiên tòa ngày 23/7/2025), anh N đồng ý trả cho chị T toàn bộ giá trị bờ kè là 25.977.000 đồng và ½ giá trị nhà trên thửa 234 là 16.668.884 đồng nên trong quyết định của bản án sơ thẩm tuyên anh N được sử dụng nhà trên thửa 234 và bờ kè, buộc anh N có trách nhiệm hoàn trả cho chị Nguyễn Thị Thanh T ½ giá trị nhà trên thửa 234 là 16.668.884 đồng và toàn bộ giá trị bờ kè là 25.977.000 đồng là có căn cứ.

Anh N kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ để chứng minh cho kháng cáo là có căn cứ nên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của anh N.

[4] Quan điểm của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[5] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[6] Về án phí dân sự phúc thẩm:

Do kháng cáo không được chấp nhận nên anh N phải chịu 300.000 đồng, trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0001546 ngày 06 tháng 8 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long. Anh N đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.

Chị Nguyễn Thị Thanh T phải chịu 300.000 đồng, trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0001430 ngày 04 tháng 8 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long. Chị T đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các điều 289, 312 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với toàn bộ kháng cáo của chị T.

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Không chấp nhận kháng cáo của anh Nguyễn Văn N;

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 05/2025/HNGĐ-ST ngày 23 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Vĩnh Long.

Căn cứ vào các điều 147, 148, 157, 165, 166 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ các điều 26, 27, 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn N.

1.1. Công nhận cho anh Nguyễn Văn N được sở hữu căn nhà cấp 4 trên thửa đất số 234, diện tích 145,7m² loại đất CLN do anh Nguyễn Văn N đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; bờ kè xây dựng trên thửa 234 và thửa 237-1 diện tích 425,1m² loại đất CLN do anh Nguyễn Văn N, chị Nguyễn Thị T4 và anh Nguyễn Văn V đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, anh N được tiếp tục sở hữu các tài sản là cây trồng trên thửa 237-1.

1.2. Công nhận cho anh Nguyễn Văn N được quyền sử dụng đất có diện tích 1.500m² thuộc thửa 243-1 (do anh Nguyễn Văn N đang đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DN 746060, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: VP12282 do Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh V cấp ngày 11 tháng 01 năm 2024).

1.3. Buộc anh Nguyễn Văn N có trách nhiệm hoàn trả cho chị Nguyễn Thị Thanh T giá trị bờ kè, một nửa giá trị căn nhà trên thửa 234 và quyền sử dụng đất thửa 243-1 số tiền là 327.646.500 (ba trăm hai mươi bảy triệu, sáu trăm bốn mươi sáu nghìn, năm trăm) đồng.

Các phần đất trên tọa lạc tại tổ D, ấp H, xã N, huyện B, tỉnh Vĩnh Long (nay là xã M, tỉnh Vĩnh Long).

2. Chấp nhận một phần yêu cầu của chị Nguyễn Thị Thanh T.

2.1. Công nhận cho chị Nguyễn Thị Thanh T được sở hữu căn nhà cấp 4 và được quyền sử dụng đất tại thửa đất số 33, tờ bản đồ số 37, diện tích 101,1m², loại đất ở tại nông thôn, tọa lạc tại ấp H, xã N, huyện B, tỉnh Vĩnh Long (nay là xã M, tỉnh Vĩnh Long) do anh Nguyễn Văn N đứng tên quyền sử dụng đất và tài sản là đồ điện gia dụng (do chị T đang quản lý). Phần đất nêu trên theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CP 946901, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CS08791, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh V cấp cho anh Nguyễn Văn N ngày 03 tháng 01 năm 2019, đất có các cạnh: cạnh 1-2 dài 20,02m (hướng Tây, giáp thửa 95(36)); cạnh 2-3 dài 5,17m (hướng Bắc, giáp thửa 31); cạnh 3-4 dài 20,01m (hướng Đông, giáp thửa 34); cạnh 4-1 dài 4,94m (hướng Nam, giáp đường nhựa).

2.2. Chị Nguyễn Thị Thanh T có trách nhiệm hoàn trả cho anh Nguyễn Văn N một nửa giá trị nhà, đất tại thửa đất số 33, tờ bản đồ số 37, diện tích 101,1m², loại đất ở tại nông thôn, tọa lạc tại ấp H, xã N, huyện B, tỉnh Vĩnh Long (nay là xã M, tỉnh Vĩnh Long) và đồ điện gia dụng số tiền là 520.000.000 (năm trăm hai mươi triệu) đồng.

Chị Nguyễn Thị Thanh T được quyền liên hệ cơ quan có thẩm quyền để thực hiện thủ tục kê khai, đăng ký đứng tên quyền sử dụng đất được công nhận theo quy định của pháp luật.

2.3. Không chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Thanh T về chia tài sản chung với anh Nguyễn Văn N đối với quyền sử dụng đất tại thửa 234 diện tích 145,7m² do anh Nguyễn Văn N đứng tên quyền sử dụng đất; thửa 237-1 diện tích 425,1m² do anh Nguyễn Văn N, chị Nguyễn Thị T4, anh Nguyễn Văn V đứng tên chung quyền sử dụng đất và 2.000m² đất lúa thuộc thửa 161, tờ bản đồ số 19, diện tích 1977,9m² do anh Nguyễn Văn N đứng tên quyền sử dụng đất. Các phần đất tọa lạc tại ấp H, xã N, huyện B, tỉnh Vĩnh Long (hiện nay là xã M, tỉnh Vĩnh Long).

3. Về chi phí tố tụng khác: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá tài sản tổng cộng là 14.110.204 (mười bốn triệu, một trăm mười nghìn, hai trăm lẻ bốn) đồng. Buộc anh Nguyễn Văn N và chị Nguyễn Thị Thanh T mỗi người phải chịu một nửa bằng 7.055.102 (bảy triệu, không trăm năm mươi lăm nghìn, một trăm lẻ hai) đồng. Do chị T đã nộp tạm ứng 6.000.000 (sáu triệu) đồng, anh N đã nộp tạm ứng 14.110.204 (mười bốn triệu, một trăm mười nghìn, hai trăm lẻ bốn) đồng, nên buộc chị T hoàn trả anh N số tiền 1.055.100 (một triệu, không trăm năm mươi lăm nghìn, một trăm) đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Buộc anh Nguyễn Văn N phải nộp 36.650.000 (ba mươi sáu triệu, sáu trăm năm mươi nghìn) đồng, trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 4.625.000 (bốn triệu, sáu trăm hai mươi lăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0013855 ngày 28 tháng 10 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Tân, anh N còn phải nộp tiếp số tiền 32.025.000 (ba mươi hai triệu, không trăm hai mươi lăm nghìn) đồng tại Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long.

Buộc chị Nguyễn Thị Thanh T phải nộp 37.430.400 (ba mươi bảy triệu, bốn trăm ba mươi nghìn, bốn trăm) đồng, trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 29.652.000 (hai mươi chín triệu, sáu trăm năm mươi hai nghìn) đồng theo biên lai thu số 0003079 ngày 13 tháng 7 năm 2023 Chi Cục thi hành án dân sự

huyện Bình Tân. Chị T còn phải nộp số tiền 7.778.400 (bảy triệu, bảy trăm bảy mươi tám nghìn, bốn trăm) đồng tại Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long.

5. Về án phí dân sự phúc thẩm:

Anh Nguyễn Văn N phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn đồng), trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0001546 ngày 06 tháng 8 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long. Anh N đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.

Chị Nguyễn Thị Thanh T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn đồng), trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0001430 ngày 04 tháng 8 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long. Chị T đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.

6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

7. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Vĩnh Long;
  • - TAND KV3 - Vĩnh Long;
  • - Phòng THADS KV3 - Vĩnh Long;
  • - Phòng GĐ, KT, TT & THA TAND tỉnh;
  • - Lưu: hồ sơ vụ án, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Thu Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 54/2025/HNGĐ-PT ngày 30/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG về tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn

  • Số bản án: 54/2025/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 30/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Nguyên - Nguyễn Thị Thanh Trúc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger