|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – NINH BÌNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc |
Bản án số: 53/2025/DS-ST
Ngày: 10 - 12 - 2025
“V/v: Tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Cúc
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hồng Minh
Ông Đỗ Văn Cận
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tùng - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 10 - Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Ninh Bình tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Trinh - Kiểm sát viên.
Ngày 10/12/2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 10 - Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 01/2025/TLST-DS ngày 11/7/2025 về tranh chấp “Ranh giới quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2025/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 11 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 21/2025/QÐST-DS ngày 18/11/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị N, sinh năm 1972; địa chỉ: Thôn A, xã X, tỉnh Ninh Bình.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Ông Lại Huy P và ông Trần Văn P1 - Luật sư thuộc Văn phòng L, Đoàn Luật sư thành phố H.
- Bị đơn: Ông Lê Văn K, sinh năm 1963; địa chỉ: Thôn A, xã X, tỉnh Ninh Bình.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Văn P2, sinh năm 1967; địa chỉ: Thôn A, xã X, tỉnh Ninh Bình.
- Bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1968; địa chỉ: Thôn A, xã X, tỉnh Ninh Bình;
Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn P2: Bà Lê Thị N, sinh năm 1972; địa chỉ: Thôn A, xã X, tỉnh Ninh Bình.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị N1: Ông Lê Văn K, sinh năm 1963; địa chỉ: Thôn A, xã X, tỉnh Ninh Bình.
Tại phiên tòa có mặt bà Lê Thị N, ông Lại Huy P, ông Trần Văn P1, ông Lê Văn K.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (ông P2) là bà Lê Thị N trình bày:
Vợ chồng bà và vợ chồng ông K, bà N1 không có quan hệ họ hàng gì chỉ là hàng xóm có thổ đất ở liền kề nhau. Năm 1996 vợ chồng bà nhận chuyển nhượng 430 m² đất trong đó 290 m² đất vườn và 140 m² đất ao thuộc thửa số 10, tờ bản đồ số 17 của hộ ông Đỗ Văn C tại xóm A, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định nay là xã X, tỉnh Ninh Bình, tứ cận thửa đất phía bắc giáp bờ mương dài 14 m; phía nam giáp đường dong dài 13,5 m; phía đông giáp với đất ông K dài 31,3 m; phía tây giáp với nhà ông C dài 31,3 m. Khi ông C chuyển nhượng đất cho vợ chồng bà thì phía giáp ranh nhà ông K đã có bếp rồi, ông C đo sát vào mép tường bếp ông K để bán cho bà. Trước đó, ông C đã bán cho ông K 01 phần đất để ông K làm ngõ giáp với đất bán cho bà, đoạn ranh giới phía sau nhà ông K là bếp, đoạn ranh giới phía trước nhà ông K có bờ trúc chạy dài ra đến mặt đường dong.
Khi mua đất của hộ ông C, vợ chồng bà có mời cán bộ địa chính xã lúc đó là ông V đến đo xác thực diện tích đất, ông C và ông K (hộ giáp danh) ký xác nhận mốc giới để vợ chồng bà làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ). Ngày 26/3/1999 diện tích đất nhận chuyển nhượng của vợ chồng bà đã được chỉnh lý trên trang 4 GCNQSDĐ số M 744088, số vào sổ 1201/QSDĐ/463/QĐUB do UBND huyện X cấp ngày 19/02/1998 với nội dung “Số 1123/QĐ-UB Quyết định của UBND huyện X v/v cho phép hộ ông Nguyễn Văn P2 được nhận quyền sử dụng đất vườn tạp 290 m²; đất ao 140 m² thuộc thửa đất số 10, tờ bản đồ số 17 từ hộ ông Đỗ Văn C xóm 12 chuyển sang”
Đến năm 1998 vợ chồng bà làm nhà thì ông K đã có nhà, có bếp, vợ chồng bà để đất trống khoảng 4 m từ ngoài đường dong vào đến hết phía sau (31,3 m) về phía nhà ông K. Năm 2000 vợ chồng bà xây bếp, có chôn 01 đường ống nước dọc theo bờ trúc nhà ông K, khi đó ông K có hỏi vợ chồng bà cho đi nhờ nước nhưng vợ chồng bà không đồng ý. Khoảng năm 2007 - 2008 vợ chồng bà phá bếp xây nhà 2 tầng vào vị trí chỗ bếp tuy nhiên vợ chồng bà xây thẳng tường chừa phần đất nở hậu giáp ranh nhà ông K khoảng 40 cm để rãnh thoát nước từ tầng 2 chảy xuống bằng ống nước có đường kính 90 cm để nối vào ống nước đã đặt sẵn từ năm 2000 chảy từ ao đằng trước ra mương đằng sau, gia đình ông K không có thắc mắc gì. Làm xong nhà thì vợ chồng bà vẫn giữ nguyên đường ống nước làm mốc giới với nhà ông K và để làm ống thoát nước từ ao ra mương. Tuy nhiên quá trình sử dụng, bà N1 quét rác đã đùn rác sang khoảng đất trống nhà bà, vợ chồng bà nhắc nhở thì bà N1 nói là đất của nhà bà N1 dẫn đến hai bên to tiếng với nhau. Năm 2018 ông K báo cán bộ địa chính xã là ông V xuống đo lại đất để xác định ranh giới, sau khi đo ông V có trả lời đất nhà ông P2 mặt sau đúng 14 m không thừa, không thiếu như ban đầu, như vậy khẳng định khoảng đất nở hậu vợ chồng bà để chừa ra thuộc phần đất của vợ chồng bà. Từ khi ông V xuống đo lại ranh
giới đất nhà bà và nhà ông K cho đến ngày 28/4/2025 hai bên không có tranh chấp gì.
Đến ngày 29/4/2025 ông K phá đường ống nước từ ao đằng trước nhà bà chạy ra mương đằng sau và trên ống nước là tấm bê tông dài khoảng 2 m bảo vệ làm mốc giới. Sau đó ông K báo cáo cán bộ địa chính xã là bà Nguyễn Thị Kim D xuống đo đất giáp ranh vào chỗ đất trống nhà bà, ông K đẩy đi đẩy lại thước sang tường nhà bà để cắm mốc, bà không đồng ý, nếu đo khách quan thì phải cắm mốc ở giữa rãnh hai nhà. Thời điểm bà đặt đường ống nước ở rãnh bà có chèn miếng bê tông phía trên để bảo vệ ống nước và làm ranh giới, khi ông K phá bếp đã thuê máy múc phá cả đường ống nước và mảng bê tông chèn phía trên đường ống nước của bà, vạc cả chân tường móng nhà bà để xóa ranh giới, bà có báo cáo chính quyền xã giải quyết. UBND xã có yêu cầu ông K đình chỉ xây dựng nhưng không lập biên bản, ông K dừng hai ngày là ngày 01 và 02/5/2025 sau đó ngày 03 và 04/5/2025 ông K cho thợ đổ bê tông móng đè lên tường móng nhà bà khoảng 7 m². Ngày 04/6/2025 UBND xã X tiến hành hòa giải giữa các bên nhưng không thành.
Bà đề nghị Tòa án xác định ranh giới đất của hai bên theo như ranh giới, mốc giới bà đã nhận tại buổi xem xét thẩm định và định giá tài sản ngày 29/8/2025, bà yêu cầu vợ chồng ông K phải phá dỡ móng nhà để trả lại vợ chồng bà diện tích đất lấn chiếm là 2 m².
Tại phiên tòa bà Lê Thi N2 trình bày: Bà đề nghị Toà án xác định ranh giới đất của hai bên tính từ đường dong xóm vào phía trong có chiều dài là 31,3 m và yêu cầu vợ chồng ông K phải phá dỡ móng nhà để trả lại vợ chồng bà diện tích đất mà vợ chồng ông K đã lấn chiếm sang ranh giới đất nhà bà là 1,8 m² (theo như kết quả đo đạc thực tế đất tranh chấp là 2.0 m² tuy nhiên nếu là 2 m² thì đường ranh giới hai nhà sẽ là 32,61m như vậy sẽ nhiều hơn so với ranh giới của hai bên là 1,31m (32,61m - 31,3 m), phần ranh giới nhiều hơn 31,3 m là do các bên lấn ra mương, bà không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết phần đất lấn ra mương.
* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Ông Lại Huy P và ông Trần Văn P1 nhất trí như lời trình bày của bà N2.
* Tại bản tự khai, lời khai trong quá trình tố tụng, bị đơn đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (bà N1) là ông Lê Văn K trình bày:
Vợ chồng ông có thửa đất số 249, tờ bản đồ số 17, diện tích 325 m² trong đó 130 m² đất ở, 195 m² đất vườn tại xóm A, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định nay là xã X, tỉnh Ninh Bình. Thửa đất đã được cấp GCNQSDĐ ngày 03/12/2007 đứng tên người sử dụng là Lê Văn K và Nguyễn Thị N1. Thửa đất có nguồn gốc của bố mẹ ông (đã chết) để lại cho vợ chồng ông, trong đó có một phần diện tích đất ở ranh giới phía Đông thửa đất chạy dài đến hết đất là mua của ông Đỗ Văn C (rộng khoảng 02m) để làm ngõ đi, bố ông có xây 02 gian bếp ở góc Đông Bắc thửa đất giáp với đất ông C và mương nước (khi xây bếp, vợ chồng ông P2 chưa về đó sinh sống), vợ chồng ông sử dụng thửa đất từ năm 1992 đến nay.
Thửa đất ông P2, bà N2 đang sử dụng có nguồn gốc mua của ông Đỗ Văn C (đã chết), sau khi bố ông xây bếp thì ông P2, bà N2 mới mua đất về đó sinh sống và xây bếp giáp với bếp nhà ông nhưng do xây dựng sát nhau nên nhà ông P2 không vào áo được tường bếp, do tường bếp 02 nhà chỉ cách nhau khoảng 20cm. Hai gia đình sử dụng từ trước đến nay ổn định, không có tranh chấp gì. Ranh giới hai nhà thời điểm đó được xác định bằng bờ trúc của bố ông trồng trước đó.
Khoảng năm 2005, ông P2 có sang nói với ông phá bờ trúc để ông P2 xây tường cho sạch sẽ, gia đình ông đồng ý. Ông P2 xây tường gạch đơn, cao khoảng 2m, tường xây từ mặt đất chứ không có móng và chạy dài từ đường dong vào đến hết ranh giới giữa hai nhà, tường đó vẫn còn nguyên như hiện nay. Ông xác định đây là ranh giới sử dụng đất giữa hai gia đình từ trước đến nay, bức tường nằm trên đất nhà ông P2, bà N2.
Ngày 01/5/2025, vợ chồng ông phá dỡ nhà bếp ở góc Đông Bắc để xây nhà và tiến hành múc móng bếp đi để đổ móng nhà, cũng chỉ đổ đến chân tường mà ông P2 đã xây dựng từ năm 2005, ông xây dựng trong giới hạn bức tường nhà ông P2 đã xây dựng trước đây, nếu trước đây có tranh chấp về ranh giới đất giữa nhà ông và nhà ông P2 thì ông cũng không làm móng nhà như hiện nay.
Tại phiên hòa giải ông nhất trí với kết quả đo đạc thực tế ngày 29/8/2025 diện tích tranh chấp là 2.0 m² - phần đất tranh chấp này rất nhỏ, không đáng kể; nếu phần đất này thuộc quyền sử dụng của vợ chồng bà N2 thì ông nhận sử dụng phần đất này và thanh toán giá trị quyền sử dụng đất theo như kết quả đã định giá cho vợ chồng bà N2 vì phần đất tranh chấp ông đã xây dựng móng nhà nếu tháo dỡ sẽ ảnh hưởng đến kết cấu toàn bộ móng nhà của ông.
Ngày 12/11/2025 ông K có đơn đề nghị và tại phiên tòa, ông Lê Văn K trình bày: Nếu vợ chồng bà N2 nhất trí để ông sử dụng phần đất tranh chấp thì ông đồng ý với số liệu đất tranh chấp là 2 m² và ông sẽ thanh toán 2 m² này theo giá trị quyền sử dụng đất như kết quả đã định giá cho vợ chồng bà N2, còn nếu vợ chồng bà N2 không nhất trí mà yêu cầu ông phải tháo dỡ phần móng nhà để trả lại đất thì ông đề nghị xem xét phần tranh chấp của các bên không đến 2 m² vì trước đây khi ông ký văn bản với tư cách là chủ sử dụng đất của hộ liền kề, xác định mốc giới đất giữa các bên - khi ông P2 nhận chuyển nhượng đất của ông C thì ông C, ông P2 và ông cùng ký vào sơ đồ xác định ranh giới đất của ông và ông P2 tính từ đường dong xóm vào phía trong dài là 31,3 m; còn khi đo đạc thực tế phần tranh chấp 2 m² thì ranh giới nhà ông và nhà ông P2 lại là 12,29 m + 4,66 m +13,42 m + 2,24 = 32,61m như vậy phần ranh giới khi đo đạc thực tế tăng lên so với ranh giới trước đây các bên đã ký nhận 1,31m (32,61m - 31,3m). Ông đề nghị Tòa án xem xét giải quyết để đảm bảo quyền lợi cho gia đình ông, ông xác định ranh giới giữa các bên tính từ đường dong xóm vào phía trong là 31,3 m, phần ranh giới dài hơn 31,3 m là do nhà ông và bà N2 cùng lấn chiếm ra mương, là đất công của xã, ông đề nghị Tòa án không xem xét giải quyết phần đất lấn ra mương.
Kết quả khảo sát đo đạc, xem xét thẩm định và định giá tài sản ngày 29/8/2025:
- Thửa đất của vợ chồng ông P2 là 487 m². Thửa đất của vợ chồng ông K là 366 m². Phần đất tranh chấp giữa vợ chồng ông P2 và vợ chồng ông K là 2.0 m². Tại vị trí đất tranh chấp giữa vợ chồng ông P2 và vợ chồng ông K có móng nhà do ông K bà N1 xây dựng tháng 5 năm 2025 với diện tích dầm 4,53 m x 18,4 m = 83,35 m², tổng giá trị dầm móng nhà và cọc tre là 93.014.000 đồng.
- Giá đất thị trường đối với đất ở tranh chấp là 2.500.000đồng/m².
* Kết quả thu thập chứng cứ tại Ủy ban nhân dân xã X; hồ sơ địa chính do Chi nhánh văn phòng Đ thể hiện:
- Nguồn gốc đất của vợ chồng ông Nguyễn Văn P2 và bà Lê Thị N là nhận chuyển nhượng 430m² đất, trong đó 290 m² đất vườn và 140 m² đất ao thuộc thửa số 10, tờ bản đồ số 17 của hộ ông Đỗ Văn C; đã được chỉnh lý trên trang 04 của GCNQSDĐ đã cấp cho hộ ông Nguyễn Văn P2, chứ chưa cấp GCNQSDĐ riêng cho phần diện tích 430m².
- Nguồn gốc đất của vợ chồng ông Lê Văn K và bà Nguyễn Thị N1 là của bố mẹ ông K để lại, ngoài ra có một phần diện tích đất ở ranh giới phía Đông thửa đất chạy dài đến hết đất (giáp với đất của vợ chồng ông P2) là do vợ chồng ông K mua thêm của hộ ông Đỗ Văn C rộng khoảng 02m để làm ngõ đi.
* Bản đồ qua các thời kỳ:
- Theo bản đồ địa chính xã X nay thuộc xã X, lập năm 1987.
- + Thửa đất vợ chồng ông P2 bà N đang sử dụng là một phần của thửa đất 260, tờ bản đồ số 3; đứng tên chủ sử dụng là Xuyên, diện tích 888m².
- + Thửa đất vợ chồng ông K bà N1 đang sử dụng là một phần của thửa 259, tờ bản đồ số 3; đứng tên chủ sử dụng là N1, diện tích 843m².
- Theo bản đồ địa chính xã X nay thuộc xã X, lập năm 1997.
- + Thửa đất vợ chồng ông P2 bà N đang sử dụng là một phần của thửa đất số 10, tờ bản đồ số 17; đứng tên chủ sử dụng là Chén, diện tích 930m².
- + Thửa đất vợ chồng ông K bà N1 đang sử dụng là một phần của thửa đất số 9, tờ bản đồ số 17; đứng tên chủ sử dụng là Phang và K với tổng diện tích 905m². Trong đó, P3 sử dụng diện tích 630m², Khá sử dụng diện tích 275m² (đất ở là 130m², đất trồng cây lâu năm 145m²).
- Thửa đất số 10, tờ bản đồ số 17 với diện tích 430 m² đất, trong đó 290 m² đất vườn và 140 m² đất ao đã được chỉnh lý ngày 26/3/1999 trên trang 4 GCNQSDĐ số M 744088, số vào sổ 1201/QSDĐ/463/QĐUB do UBND huyện X cấp ngày 19/02/1998 đứng tên hộ ông Nguyễn Văn P2.
- Thửa đất số 249, tờ bản đồ số 17 với diện tích 325 m² trong đó đất ở 130 m², đất trồng cây lâu năm 195 m² đã được UBND huyện X cấp GCNQSDĐ ngày 03/12/2007 đứng tên người sử dụng ông Lê Văn K và bà Nguyễn Thị N1. Diện tích trong giấy chứng nhận tăng so với bản đồ địa chính năm 1997 là do ông K,
bà N1 mua một phần đất của hàng xóm là ông Đỗ Văn C một ngũ tức rộng khoảng 02m, có chiều dài kéo dài từ đường dong xóm đến mương nước sau nhà để làm ngõ đi như hiện nay.
Trong GCNQSDĐ của vợ chồng ông P2 và vợ chồng ông K đều không thể hiện kích thước hình thể thửa đất.
* Kết quả đo đạc, xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá ngày 29/8/2025:
Đo đạc thực tế đất của ông P2 bà N là 487 m², của ông K bà N1 366 m².
Diện tích đất tranh chấp đo đạc thực tế là 2m² - là đất ở, trong đó chiều rộng phía trong 0,22 m; chiều dài phần tranh chấp (giáp với nhà đất của vợ chồng ông P2 bà N) là 15,66m trong đó phía nhà bà N, ông P2 có 2,24m là xây công trình tạm và 13,42 m là xây dựng nhà và tường bao (11,61m là nhà 02 tầng xây dựng năm 2007 và 1,81m là tường bao). Còn phía nhà ông K, bà N1 phần tranh chấp có chiều dài 2,26 m và 13,40 m (là phần móng nhà mới xây dựng cuối tháng 4, đầu tháng 5 năm 2025)
Kết qủa đo đạc thực tế chưa cộng phần tranh chấp 2.0 m² thì đất vợ chồng ông P2 bà N tăng lên so với GCNQSDĐ là 487 m² - 430 m²= 57 m² còn nếu cộng cả phần tranh chấp thì tăng lên 489 m² - 430 m² = 59 m². Kết qủa đo đạc thực tế chưa cộng phần tranh chấp thì đất vợ chồng ông K bà N1 tăng lên so với GCNQSDĐ là 366 m² - 325 m² = 41 m² còn nếu cộng cả phần tranh chấp thì tăng lên 41 m² + 2 m² = 43 m². Phần đất tăng lên của vợ chồng ông P2 và vợ chồng ông K là do lấn ra mương (toàn bộ phần đất tăng lên là đất mương của xã).
Theo bản đồ địa chính qua các thời kỳ, kết hợp tài liệu do chi nhánh văn phòng Đ cung cấp phần đất phía trong của vợ chồng ông P2 khi nhận chuyển nhượng của ông Đỗ Văn C là 14 m cùng GCNQSDĐ của hai bên cũng như theo kết quả đo đạc thực tế do đương sự chỉ nhận thì khẳng định phần đất tranh chấp 2.0 m² thuộc quyền sử dụng của vợ chồng ông P2 bà N.
* Lý do xảy ra tranh chấp: Khoảng cuối tháng 4 đầu tháng 5 năm 2025, vợ chồng ông K làm móng nhà liền sát với nhà đất của ông P2 bà N. Bà N, ông P2 cho rằng có một phần móng bê tông nhà ông K lấn sang đất nhà mình nên đã yêu cầu ông K tháo dỡ. Ông K không dỡ nên xảy ra tranh chấp. Khi tranh chấp xảy ra, ngày 06/5/2025, UBND xã X đã ra Thông báo về việc dừng thi công công trình liên quan đến tranh chấp đất đai và ông Lê Văn K đã ký nhận văn bản, trong văn bản có nội dung “Tôi xin cam kết thực hiện nghiêm túc nội dung thông báo này, nếu sai tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật”, tuy nhiên sau khi ký nhận văn bản vợ chồng ông K chỉ dừng xây dựng trong khoảng 1 đến 2 ngày sau đó vẫn tiếp tục làm móng nhà như kết quả xem xét thẩm định định giá. Xóm, xã đã tiến hành hòa giải giữa hai gia đình nhưng không thành và bà N khởi kiện đến Tòa án.
Quan điểm của địa phương: Đề nghị Tòa án tiến hành hòa giải để các đương sự thống nhất với nhau về ranh giới, mốc giới, giữ gìn tình làng nghĩa xóm. Nếu các bên không thỏa thuận, hòa giải được đề nghị Tòa án tiến hành xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.
Về phần đất lấn chiếm ra mương của ông P2 bà N; ông K bà N1: đề nghị Tòa án khi giải quyết vụ án nên tách riêng phần đất lấn chiếm này ra sau này nếu có chủ trương chính sách của Nhà nước về phần đất mà vợ chồng ông P2, vợ chồng ông K lấn chiếm thì lúc đó giải quyết sau.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Ninh Bình tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, các đương sự tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các Điều 166, 174, 175, 176 của Bộ luật Dân sự 2015. Các Điều 137, 236 của Luật đất đai 2024. Các Điều 26, 35, 39, 147, 235 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xác định ranh giới đất của hai nhà tính từ đường dong vào phía trong là 31,3 m; buộc vợ chồng ông K phải tháo dỡ phần móng nhà 1,8 m² để trả lại đất cho vợ chồng bà N. Đương sự chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Các đương sự đã thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.
[2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn khởi kiện đề nghị Tòa án xác định ranh giới quyền sử dụng đất, yêu cầu vợ chồng ông K tự tháo dỡ móng nhà và trả lại đất lấn chiếm có địa chỉ tại xã X, tỉnh Ninh Bình. Đây là quan hệ pháp luật về việc “Tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Ninh Bình theo quy định tại khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về nội dung xác định ranh giới đất giữa hai nhà: Bà N yêu cầu xác định ranh giới quyền sử dụng đất và cho rằng vợ chồng ông K xây móng nhà đã xây lấn sang đất của vợ chồng bà, bà yêu cầu vợ chồng ông K tự tháo dỡ móng nhà để trả vợ chồng bà diện tích đất lấn chiếm là 1,8 m². Ông K cũng đề nghị Tòa án xác định ranh giới giữa các bên, trong trường hợp xác định gia đình ông xây lấn sang đất của gia đình bà N thì ông đồng ý với số liệu đất tranh chấp là 2 m², ông nhận sử dụng phần đất này và thanh toán giá trị quyền sử dụng đất theo như kết quả đã định giá cho vợ chồng bà N vì phần đất tranh chấp ông đã xây dựng móng nhà nếu tháo dỡ sẽ ảnh hưởng đến kết cấu toàn bộ móng nhà của ông, còn nếu buộc ông phải tháo dỡ phần móng nhà mà ông đã xây dựng, thì đề nghị xem xét phần
tranh chấp của hai bên không đến 2 m², ông xác định ranh giới giữa các bên tính từ đường dong xóm vào phía trong là 31,3 m.
[4] Theo lời khai của các đương sự; Căn cứ vào các tài liệu địa chính các thửa đất do các cơ quan quản lý đất đai của địa phương cung cấp; Biên bản xác minh thu thập, chứng cứ; Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ hiện trạng sử dụng đất và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì hai thửa đất đang tranh chấp ở liền kề nhau, cụ thể:
Thửa đất vợ chồng bà N ông P2 thuộc thửa đất số 10, tờ bản đồ số 17 với diện tích 430m², trong đó 290 m² đất vườn và 140 m² đất ao đất đã được chỉnh lý ngày 26/3/1999 trên trang 4 GCNQSDĐ số M 744088, số vào sổ 1201/QSDĐ/463/QĐUB do UBND huyện X cấp ngày 19/02/1998 đứng tên hộ ông Nguyễn Văn P2, có nguồn gốc nhận chuyển nhượng của hộ ông Đỗ Văn C (ông C đã chết)
Thửa đất vợ chồng ông K bà N1 thuộc thửa đất số 249, tờ bản đồ số 17 với diện tích 325 m² trong đó đất ở 130 m², đất trồng cây lâu năm 195 m² đã được UBND huyện X cấp GCNQSDĐ ngày 03/12/2007 đứng tên chủ sử dụng ông Lê Văn K và bà Nguyễn Thị N1 có nguồn gốc là của bố mẹ ông K để lại, ngoài ra do ông K, bà N1 mua một phần đất của hàng xóm là ông Đỗ Văn C một ngũ tức rộng khoảng 02m, có chiều dài kéo dài từ đường dong xóm đến mương nước sau nhà để làm ngõ đi như hiện nay.
Trong GCNQSDĐ của vợ chồng bà N và vợ chồng ông K đều không thể hiện kích thước hình thể thửa đất. Quá trình sử dụng đất các bên không có tranh chấp gì. Khoảng cuối tháng 4 đầu tháng 5 năm 2025, vợ chồng ông K làm móng nhà liền sát với nhà đất của ông P2 bà N thì xảy ra tranh chấp. Ngày 06/5/2025, UBND xã X đã ra Thông báo về việc dừng thi công công trình liên quan đến tranh chấp đất đai, ông Lê Văn K đã ký nhận văn bản với nội dung “Tôi xin cam kết thực hiện nghiêm túc nội dung thông báo này, nếu sai tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật”, tuy nhiên sau đó vợ chồng ông K vẫn tiếp tục làm móng nhà. Xóm và xã đã tiến hành hòa giải nhưng không thành, sau đó bà N khởi kiện.
[5] Kết quả đo đạc thực tế: Đất của ông P2 bà N là 487m² còn đất ông K bà N1 366 m². Diện tích đất tranh chấp đo đạc thực tế là 2.0 m² trong đó chiều rộng phía trong 0,22 m; chiều dài phần tranh chấp (giáp với nhà đất của vợ chồng ông P2 bà N) là 15,66m trong đó phía nhà bà N, ông P2 có 2,24m là xây công trình tạm và 13,42 m là xây dựng nhà và tường bao (11,61m là nhà 02 tầng xây dựng năm 2007 và 1,81m là tường bao). Còn phía nhà ông K, bà N1 phần tranh chấp có chiều dài 2,26 m và 13,40 m (là phần móng nhà mới xây dựng cuối tháng 4, đầu tháng 5 năm 2025)
Kết qủa đo đạc thực tế chưa cộng phần tranh chấp 2.0 m² thì đất vợ chồng ông P2 bà N tăng lên so với GCNQSDĐ là 487 m² - 430 m²= 57 m² còn nếu cộng cả phần tranh chấp thì tăng lên 57 m² + 2 m² = 59 m². Kết qủa đo đạc thực tế chưa cộng phần tranh chấp thì đất vợ chồng ông K bà N1 tăng lên so với GCNQSDĐ là 366 m² - 325 m² = 41 m² còn nếu cộng cả phần tranh chấp thì tăng lên 41 m² + 2 m² = 43 m². Như vậy, số liệu đo đạc thực tế so với số liệu có trong
GCNQSDĐ thì đất của hai bên đều tăng. Phần đất tăng lên là do hai bên lấn ra mương của xã (ở phía sau nhà của vợ chồng ông P2 và vợ chồng ông K)
Xét thấy nguyên đơn, bị đơn cùng thống nhất xác định ranh giới giữa hai bên tính từ đường dong xóm vào phía trong có chiều dài 31,3 m; phần ranh giới dài hơn 31,3 m là do hai bên cùng lấn ra mương, là đất công của xã, các bên đều không đề nghị Tòa án xem xét giải quyết phần đất lấn ra mương, điều này hoàn toàn phù hợp với hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ hộ ông Đỗ Văn C cho vợ chồng bà N, ông P2 do Chi nhánh văn phòng Đ cung cấp, cũng như các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ - thể hiện cụ thể tại sơ đồ bằng khu đất chuyển nhượng quyền sử dụng đất có chữ ký xác nhận của bên chuyển nhượng ông Đỗ Văn C, bên nhận quyền sử dụng đất ông Nguyễn Văn P2 và chủ sử dụng đất tiếp giáp là ông Lê Văn K.
Đoạn ranh giới phía ngoài hai bên không có tranh chấp gì, chỉ tranh chấp đoạn ranh giới phía trong từ phần đổ bê tông móng nhà ông K mới làm vào phía trong. Kết quả đo đạc thực tế do các đương sự chỉ nhận mốc giới khi đo đạc thì phần tranh chấp là 2 m², tuy nhiên nếu xác định đất tranh chấp 2 m² thì ranh giới đất giữa vợ chồng ông P2 và vợ chồng ông K sẽ là 12,29 m + 4,66 m +13,42 m + 2,24 = 32,61m tăng lên so với ranh giới các bên thống nhất xác định cũng như tài liệu có trong hồ sơ là 1,31m (32,61m - 31,3 m). Vì vậy Hội đồng xét xử xác định ranh giới đất giữa vợ chồng ông P2 và vợ chồng ông K có chiều dài là 31,3 m; còn phần đất các đương sự chỉ nhận ranh giới, mốc giới khi đo đạc tăng lên so với chiều dài ranh giới 31,3 m cũng như phần diện tích đất tăng lên do đương sự lấn chiếm ra mương là đất công của xã thì không được công nhận và Hội đồng xét xử sẽ không xem xét giải quyết trong vụ án này.
Xét về hình thể thửa đất số 10 và thửa đất số 249 khi đo đạc thực tế, kết hợp với chính lời trình bày của đương sự cùng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, đối chiếu với bản đồ qua các thời kỳ thì có căn cứ xác định ranh giới quyền sử dụng đất giữa vợ chồng ông P2 và vợ chồng ông K tính từ đường dong xóm vào phía trong có chiều dài 31,3 m và phần đất tranh chấp vợ chồng ông K đã xây dựng móng nhà là hình tam giác có kích thước các cạnh là 14,35 m; 0,23m; 14,35 m có diện tích là 1,8 m² chứ không phải là 2 m² như các đương sự chỉ nhận mốc giới khi đo đạc là thuộc quyền sử dụng của vợ chồng ông P2 bà N. Các đương sự chỉ tranh chấp về ranh giới đất, không đề nghị xem xét về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
[6] Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đề nghị Tòa án xác định ranh giới quyền sử dụng đất giữa thửa đất số 10 với thửa đất số 249 và yêu cầu bị đơn phải tháo dỡ phần đổ bê tông móng nhà mà ông K bà N1 xây dựng lấn sang phần đất của nguyên đơn 1,8 m² là có căn cứ, vì vậy cần buộc ông K bà N1 phải tự tháo dỡ phần móng nhà lấn sang phần đất, phần không gian chiếu theo phương thẳng đứng từ ranh giới đất giữa hai hộ lên phía trên không gian để trả lại 1,8 m² đất cho vợ chồng bà N.
[7] Về án phí: Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên ông K, bà N1 phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 166, 174, 175, 176 của Bộ luật Dân sự 2015. Các Điều 137, 236 của Luật đất đai 2024. Các Điều 26, 35, 39, 147, 235, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
-
Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị N:
Xác định ranh giới quyền sử dụng đất giữa thửa đất số 10 tờ bản đồ số 17 của vợ chồng bà Lê Thị N, ông Nguyễn Văn P2 với thửa đất số 249 tờ bản đồ số 17 của vợ chồng ông Lê Văn K, bà Nguyễn Thị N1 tại Thôn A, xã X, tỉnh Ninh Bình là điểm nối các đoạn thẳng từ điểm mốc số 1 đến điểm mốc số 4 có chiều dài là 31,3 m (điểm mốc số 1 đến điểm mốc số 2 có chiều dài 12,29 m; điểm mốc số 2 đến điểm mốc số 3 có chiều dài 4,66; điểm mốc số 3 đến điểm mốc số 4 có chiều dài 14,35 m)
Buộc vợ chồng ông Lê Văn K, bà Nguyễn Thị N1 phải trả lại diện tích lấn sang ranh giới đất của vợ chồng bà Lê Thị N, ông Nguyễn Văn P2 là 1,8 m² (được xác định từ điểm mốc số 3 đến điểm mốc số 4 có chiều dài 14,35 m và từ số 4 đến số 5 có chiều dài 0,23 m và từ số 5 đến số C có chiều dài14,35 m). Buộc vợ chồng ông K, bà N1 phải tháo dỡ phần móng nhà đã xây trên đất không thuộc quyền sử dụng của mình để trả lại 1,8 m² đất cho vợ chồng bà N ông P2 theo ranh giới đã xác định ở trên.
Ranh giới quyền sử dụng đất được xác định theo chiều thẳng đứng từ không gian xuống lòng đất.
Các đương sự có nghĩa vụ kê khai, đăng ký quyền sử dụng đất theo ranh giới đã được xác định trong bản án này.
(Có sơ đồ kèm theo bản án)
-
Về án phí: Ông Lê Văn K, bà Nguyễn Thị N1 phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
H lại cho bà Lê Thị N số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số 0000306 ngày 11/7/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình.
-
Về quyền kháng cáo: Đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận: - Đương sự; - TAND + VKSND tỉnh Ninh Bình; - VKSND khu vực 10 - Ninh Bình; - THADS tỉnh Ninh Bình; - UBND xã Xuân Giang; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu văn phòng. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Trần Thị Kim Cúc |
Bản án số 53/2025/DS-ST ngày 10/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – NINH BÌNH về tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất
- Số bản án: 53/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/12/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
