Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 504/2025/DS-PT

Ngày 19 - 12 - 2025

V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ninh Quang Thế

Các Thẩm phán: Ông Lê Phan Công Trí

Bà Tiêu Hồng Phượng

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Chọn là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Điện - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 469/2025/TLPT-DS ngày 07 tháng 11 năm 2025 về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 86/2025/DS-ST ngày 27 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 1 – Cà Mau bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 509/2025/QĐ-PT ngày 27 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Ông Trần Hoàng D. Sinh năm: 1980. Địa chỉ cư trú: Số E, đường C, khóm B, phường T, tỉnh Cà Mau).
  • Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Trần Hoàng P, sinh năm 1953. Địa chỉ cư trú: Số C, Huỳnh Tấn P1, khóm A, phường A, tỉnh Cà Mau, theo văn bản ủy quyền ngày 16/12/2024 (có mặt).
  • - Bị đơn: Bà Nguyễn Kim P2. Sinh năm: 1982. Địa chỉ cư trú: Số A, liên kế 4, đường H, khóm B, phường A, tỉnh Cà Mau (có mặt).
  • - Người kháng cáo: Ông Trần Hoàng D là nguyên đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và bổ sung tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn ông Trần Hoàng P trình bày:

Theo Quyết định thi hành án số 3159/QĐ-CCTHADS, ngày 31 tháng 08 năm 2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau về “Thi hành án theo yêu cầu” thi hành án đối với Quyết định số 287/2023/QDST-DS, ngày 28 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau “Về việc Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự", Vợ chồng ông D bà Q là bị đơn, bà Nguyễn Kim P2 là nguyên đơn tự thỏa thuận ông D bà Q tự bán 3 phần đất lấy tiền trả cho bà P2 từ khoảng 40% đến 45% trở lên để đối trừ giảm bớt trên tổng số tiền 5.223.000.000 đồng, bà P2 đã thống nhất nên vào tháng 9 năm 2023, ông D có bán cho ông Trần Minh Đ 03 miếng đất với giá tiền 3.450.000.000 đồng để thực hiện theo thỏa thuận trả tiền cho bà P2 như nêu trên để giảm bớt phần tiền thi hành án cho bà P2.

Từ đó, vào sáng ngày 29 tháng 9 năm 2023, ngay sau khi ông D bán 03 lô đất cho ông Đ, ông Đ giao tiền đặt cọc cho ông D và ông D đã trực tiếp giao tiền cho bà P2 nhận 1.352.000.000 đồng và bà P2 đã báo đến Thi hành án dân sự thành phố C, tỉnh Cà Mau ghi nhận để đối trừ vào phần tiền thi hành án của ông D bà Q đối với bà P2. Đến chiều cùng ngày 29 tháng 9 năm 2023 D tiếp tục đến nhận phần tiền bán đất còn lại từ ông Trần Minh Đ. Ngay tại buổi giao nhận số tiền bán đất còn lại giữa ông D và ông Đ, cùng sự có mặt của bà Nguyễn Kim P2 là người được thi hành án theo thỏa thuận như trình bày nêu trên.

Số tiền ông Trần Minh Đ mua đất của ông D nêu trên, ông D thống nhất nhờ ông Đ đến Ngân hàng V - Phòng giao dịch phường H thành phố C, tỉnh Cà Mau giao cho bà Nguyễn Kim P2 số tiền 2.150.000.000 đồng để ông D bà Q tiếp tục trả thêm tiền cho bà P2 và để tiếp tục giảm lại số tiền phải thi hành án theo quyết định thi hành án số 3159/QĐ-CCTHADS, ngày 31 tháng 08 năm 2023 nêu trên cho bà P2 (có kèm theo hình ảnh giao dịch của ông Đ tại Ngân hàng).

Đồng thời, tại buổi giao nhận tiền này, bà P2 yêu cầu ông D cho bà P2 tạm mượn số tiền 942.000.000 đồng để bà P2 giải quyết nợ riêng, trong khoản thời gian thi hành án bà P2 sẽ trả lại cho ông D. Nên ông D thống nhất cho bà P2 tạm mượn số tiền 942.000.000 đồng để bà P2 trả nợ riêng của bà P2, không liên quan đến các vụ án phải thi hành án của ông D.

Ngay sau khi chuyển tiền và giao tiền thì bà P2 viết biên nhận giao cho D với nội dung như sau “Tôi Nguyễn Kim P3 có nhận của ông Trần Hoàng D các khoản tiền sau:

  1. Trả Cho N 74.000.000 đồng.
  2. Trả cho ông Huỳnh Văn S 868.000.000 đồng.
  3. Nhận từ ông Trần Minh Đ : 2.150.000.000 đồng”.

Theo biên nhận trên, tổng các khoản tiền bà P2 nhận của ông D là 3.092.000.000 đồng. Biên nhận tiền do bà P2 tự viết, giao lại cho D và D có chụp hình lưu giữ bản chính trong điện thoại của D. Do thi hành án, giao nhà của ông D bà Q cho người được thi hành án, nên biên nhận nói trên bị thất lạc mất.

Từ tháng 11 năm 2023 đến nay ông D trực tiếp đến yêu cầu bà P2 đến thi hành án để tiếp tục cấn trừ số tiền ông D đã chuyển cho bà P2 đã nhận từ ông Đ là 2.150.000.000 đồng, đồng thời ông D yêu cầu bà P2 phải trả lại cho ông Danh số tiền ông D cho bà P2 tạm mượn 942.000.000 đồng nhưng bà P2 cũng không cấn trừ và cũng không trả tiền lại cho ông D.

Nay ông D yêu cầu Tòa án giải quyết, buộc bà Nguyễn Kim P2 trả lại cho ông Danh số tiền 3.959.426.300 đồng. Trong đó: Tiền gốc 3.092.000.000 đồng, lãi suất tính từ ngày 29/9/2025 đến ngày xét xử sơ thẩm là 01 năm 10 tháng 27 ngày, lãi suất 1,66%/tháng bằng số tiền là 1.175.388.300 đồng. Tổng cộng là 4.267.388.300 đồng.

Tại lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và được bổ sung tại phiên tòa bị đơn bà Nguyễn Kim P2 trình bày:

Ngày 28/8/2023, Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau ra Quyết định số 287/2023/QDST-DS. Tại quyết định các đương sự thỏa thuận bà Lâm Thu Q và ông Trần Hoàng D còn nợ và đồng ý thanh toán cho bà Nguyễn Kim P2 số tiền 5.223.000.000 đồng. Sau đó, vợ chồng bà Q, ông D gặp trực tiếp bà để thỏa thuận cho vợ chồng ông bà tự bán 03 miếng đất để thi hành án cho bà và các bên đã thống nhất nội dung này tại cơ quan thi hành án.

Sau đó vợ chồng ông D bà Q bán 03 miếng đất với giá 3.450.000.000 đồng cho ông Trần Minh Đ. Sau đó đến ngày 29/9/2023 ông Đ giao cho ông D trước 1.300.000.000 đồng tiền bán đất để ông D chuộc giấy tờ đất đã thế chấp cho ông Nguyễn Trọng N1 và bà Châu Thị P4. Lúc đó, ông D trả cho bà P4 500.000.000 đồng và ông Nguyễn 5 đồng và nhận lại 03 bản gốc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đồng thời, trả cho bà 200.000.000 đồng tiền thi hành án theo quyết định số 287/2023/QDST-DS ngày 28/8/2023. Việc giao nhận tiền này có làm biên nhận và ông D, P2, ông N1, bà P4 đều có ký tên, biên nhận do ông Đức G.

Đến ngày 05/10/2023, ông Đ trả ông Danh số tiền 2.150.000.000 đồng còn lại tại Ngân hàng TMCP V1 – Chi nhánh C (phường H, thành phố C). Theo đó, ông D trả cho bà số tiền 2.150.000.000 đồng tiền thi hành án theo quyết định số 287/2023/QDST-DS ngày 28/8/2023. Sau khi nhận số tiền này bà có ghi biên nhận đề ngày 29/9/2023 và ký tên vào biên nhận (do ông D yêu cầu ghi lùi lại ngày 29/9/2023) với nội dung:

  • -Trả cho N: 74.000.000 đồng.
  • -Trả cho ông Huỳnh Văn S: 868.000.000 đồng.
  • -Nhận từ ông Trần Minh Đ: 2.150.000.000 đồng

Nội dung đúng như biên nhận nguyên đơn cung cấp cho Tòa. Đối với bản gốc biên nhận này hiện tại bà không có giữ, bà cũng không nhớ rõ là ai giữ. Nội dung biên nhận là sự thỏa thuận của bà và ông D như sau: Ông Đ trả cho ông Danh số tiền 2.150.000.000 đồng, ông D nhận và trả lại cho bà. Đồng thời, do trước đây bà có vay tiền của bà N, ông S (là chồng bà) dùm ông D nên trong số tiền 2.150.000.000 đồng bà trả cho N 74.000.000 đồng và ông S 868.000.000 đồng, tại quyết định số 287/2023/QDST-DS ngày 28/8/2023 ông D không có tiền đóng án phí tại Cơ quan thi hành án nên bà có nộp án phí thay cho ông Danh số tiền 56.000.000 đồng. Còn lại ông D trả cho bà theo Quyết định số 287/2023/QDST-DS ngày 28/8/2023.

Từ nội dung trên, tại Bản án dân sự sơ thẩm số 86/2025/DS-ST ngày 27 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 1 – Cà Mau đã quyết định:

Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Trần Hoàng D về việc yêu cầu bà Nguyễn Kim P2 trả số tiền tổng cộng vốn và lãi là 4.267.388.300 đồng (Bốn tỷ, hai trăm sáu mươi bảy triệu, ba trăm tám mươi tám nghìn, ba trăm đồng)

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo quy định.

Ngày 08/9/2025, ông D kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông, nếu không thì phải đối trừ số tiền 2.150.000.000đ vào số tiền ông phải thi hành cho bà P2 và yêu cầu xem xét lại tiền án phí.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Ông P3 xin rút yêu cầu đối với số tiền cho bà P2 mượn là 942.000.000đ, số tiền còn lại 2.150.000.000đ bà P2 chưa trừ vào khoản tiền THA nên buộc bà P2 trả lại khoản tiền này cùng lãi suất là 517.040.000đ và xin điều chỉnh lại án phí theo quy định.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau phát biểu quan điểm: Về tố tụng Thẩm phán, HĐXX và đương sự chấp hành đúng quy định của BLTTDS. Về nội dung nguyên đơn yêu cầu xin rút khởi kiện số tiền 942.000.000đ bà P2 không đồng ý nên không được chấp nhận, đối với số tiền 2.150.000.000₫ phía nguyên đơn không cung cấp thêm chứng cứ mới bảo vệ yêu cầu kháng cáo và yêu cầu khởi kiện, nên kiến nghị HĐXX không chấp nhận kháng cáo của ông D, căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự kiến nghị không chấp nhận kháng cáo của ông D, giữ nguyên bản án sơ thẩm nêu trên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về hình thức, về nội dung và thời hạn kháng cáo ông D thực hiện đúng quy định tại các điều 272,273 BLTTDS, được HĐXX xem xét yêu cầu kháng cáo của ông theo trình tự phúc thẩm. Về thẩm quyền, cấp sơ thẩm xác định đúng thẩm quyền, đúng quan hệ pháp luật tranh chấp và thụ lý giải quyết đúng quy định tại Điều 26, 35 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Xét kháng cáo của ông D: Tại phiên tòa ông P3 đại diện ông D xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền 942.000.000đ cho bà P2 mượn, về phía bà P2 không đồng ý việc rút yêu cầu này, nên theo quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 299 BLTTDS Hội đồng xét xử không chấp nhận việc rút yêu cầu khởi kiện này của ông D.

Yêu cầu khởi kiện của ông D có hai nội dung là yêu cầu bà P2 trả số tiền vay 942.000.000đ và số tiền nhận từ ông Đ 2.150.000.000đ. Về số tiền vay 942.000.000₫ ông D cho rằng ông cho bà P2 mượn nhưng không có biên nhận riêng hay một chứng cứ nào khác thể hiện việc cho bà P2 mượn số tiền này, ngược lại bà P2 phủ nhận mượn số tiền này, về thời gian giao dịch cho mượn ông P3 khai cho mượn ngày 29/9/2023 nằm trong thời điểm ông D nợ bà P2 số tiền 5.223.000.000 đồng đang chờ cơ quan THA dân sự bán tài sản của ông để trả nợ cho bà P2, như vậy không hợp lý ở chỗ ông D đang nợ tiền bà P2 không có khả năng thanh toán, đang bị cơ quan THA dân sự kê biên tài sản của ông để bán trả nợ cho bà P2 lại đem tiền cho bà P2 là chính chủ nợ của mình mượn tiền, về nguồn tiền để ông cho bà P2 mượn ông cũng không chứng minh được từ đâu có nguồn tiền này, mà chỉ căn cứ vào biên nhận ngày 29/9/2023 sao ra hình ảnh từ điện thoại là không có căn cứ, nên cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của ông đối với số tiền này là phù hợp.

Đối với số tiền 2.150.000.000đ có nguồn gốc do ông Đ trả tiền mua đất được các đương sự thừa nhận giao tiền tại Ngân hàng, số tiền này bà P2 khai đã dùng trả cho bà N 74.000.000đ, trả cho ông S 868.000.000đ, nộp án phí cho ông D 56.611.500đ còn lại 1.151.388.500đ bà đã đối trừ cho ông Danh số tiền này tại cơ quan THA. Tòa án đã tiến hành ghi lời khai của bà N, ông S thể hiện bà P2 có hoàn trả thay cho ông Danh số tiền này, còn số tiền nộp án phí thể hiện tại lai thu án phí của cơ quan THA ngày 02/10/2023 bà P2 là người nộp thay cho ông D, việc bà P2 trả thay cho ông D các khoản tiền này đều có sự trao đổi giữa hai người qua các tin nhắn mà bà P2 cung cấp, như vậy việc ông D cho rằng bà P2 không đối trừ khoản tiền ông bán đất đưa cho bà P2 để đối trừ vào khoản tiền ông phải thi hành án cho bà P2 là không có cơ sở. Do đó kháng cáo của ông D về hai khoản tiền này không được chấp nhận.

Do không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông D nên yêu cầu kháng cáo của ông D về việc xin đối trừ số tiền 2.150.000.000đ vào số tiền ông phải thi hành án cho bà P2 tại cơ quan THA dân sự cũng không được chấp nhận. Từ đó kháng cáo của ông D về yêu cầu điều chỉnh khoản tiền án phí sơ thẩm cũng không được chấp nhận.

Quan điểm của đại diện VKS tham gia phiên toà phù hợp với nhận định của HĐXX.

[3] Các phần khác của án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị HĐXX không xem xét đến.

[4] Án phí phúc thẩm ông D phải chịu theo quy định tại điều 148 BLTTDS.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 308, Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Không chấp nhận kháng cáo của ông Trần Hoàng D. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 86/2025/DS-ST ngày 27 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 1 – Cà Mau. Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Trần Hoàng D về việc yêu cầu bà Nguyễn Kim P2 trả số tiền tổng cộng vốn và lãi là 4.267.388.300 đồng (Bốn tỷ, hai trăm sáu mươi bảy triệu, ba trăm tám mươi tám nghìn, ba trăm đồng)
  2. Về án phí dân sự:
    • - Án phí sơ thẩm: Ông Trần Hoàng D phải nộp số tiền 112.267.000 đồng (một trăm mười hai triệu, hai trăm sáu mươi bảy nghìn đồng). Ngày 20/12/2024, ông đã dự nộp số tiền 54.414.000 đồng, theo lai số 0010066 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cà Mau (nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 1 – Cà Mau, đối trừ ông D còn phải nộp tiếp số tiền 57.853.000 đồng (Năm mươi bảy triệu, tám trăm năm mươi ba nghìn đồng).
    • - Án phí phúc thẩm: Ông D phải chịu 300.000đ, ngày 08/9/2025 ông đã nộp tạm ứng số tiền này theo lai thu số 0000231 của Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau được chuyển thu.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
  • - Tòa án nhân dân KV - 1;
  • - Phòng THADS KV - 1;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Ninh Quang Thế

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 504/2025/DS-PT ngày 19/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 504/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 19/12/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger