Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 6 - SƠN LA

Bản án số: 50/2025/HS-ST

Ngày 16 – 12 - 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thu Trang.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Đình Bản, bà Nguyễn Thị Yên.

Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Hồng Nhung, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 6 - Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Sơn La tham gia phiên toà:

Bà Trịnh Thị Thủy, Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 - Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 58/2025/TLST-HS ngày 19 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 57/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo:

Cầm Văn H;

sinh ngày 14/8/1989 tại xã M, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản M, xã L, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa (học vấn): 10/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; đảng phái, đoàn thể: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cầm Văn N và bà Cầm Thị T; có vợ là Vì Thị T1 (đã ly hôn), có 01 con; tiền án: Không; tiền sự: Không; Nhân thân: Tại Bản án số 29/2016/HSST ngày 18/11/2016, bị Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (đã được xóa án tích); Tại Bản án số 197/2018/HSST ngày 29/8/2018, bị Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xử phạt 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (đã được xóa án tích); Bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/8/2025 đến nay; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ ngày 11/8/2025, Cầm Văn H đi đến khu vực biên giới thuộc bản H, xã L, tỉnh Sơn La mục đích tìm mua ma túy mang về sử dụng. Khi đến nơi, Cầm Văn H đã gặp và hỏi mua được của một người đàn ông dân tộc Mông khoảng 40 tuổi, không quen biết 196 viên ma túy hồng phiến (Methamphetamine) được đựng trong túi nilon màu xanh với giá 2.000.000 đồng, H cất giấu gói ma túy vào trong túi áo khoác bên trái đang mặc rồi đi về nhà. Trên đường đi về đến bản A, xã L, tỉnh Sơn La thì bị tổ công tác Công an xã L kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang. Vật chứng thu giữ của Cầm Văn H: 01 túi nilon màu xanh, bên trong đựng 196 viên nén màu hồng, trên bề mặt mỗi viên đều có chữ “WY”, nghi là ma túy, loại Methamphetamine.

Ngày 11/8/2025, Công an xã L, tỉnh Sơn La tiến hành Test thử ma túy đối với Cầm Văn H, kết quả dương tính với chất ma túy. Xác minh Cầm Văn H không thuộc diện nào theo quy định tại Điều 256a Bộ luật Hình sự nên không lấy mẫu gửi giám định chất ma túy.

Ngày 11/8/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S tiến hành mở niêm phong, cân xác định 196 viên nén màu hồng thu giữ của Cầm Văn H có khối lượng 19,49 gam, lấy toàn bộ làm mẫu trưng cầu giám định, mẫu có ký hiệu H1

Tại Kết luận giám định số 966/KL-KTHS ngày 15/8/2025 của Phòng K Công an tỉnh S kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu H là ma tuý; Loại Methamphetamine; Khối lượng của mẫu gửi giám định là 19,49 gam; Tổng khối lượng ma tuý thu giữ là 19,49 gam; Loại Methamphetamine; H2 lại đối tượng giám định: Các viên nén màu hồng trên bề mặt viên có ký hiệu “WY”, ký hiệu H có khối lượng 19,17 gam và vỏ phong bì niêm phong mẫu gửi giám định đã bóc mở”.

Cáo trạng số 63/CT-VKS ngày 18/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Sơn La truy tố bị can Cầm Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

* Tại phiên tòa: Bị cáo Cầm Văn H trình bày ý kiến giữ nguyên lời khai, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung nào làm thay đổi nội dung vụ án. Bị cáo nhận tội như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát.

* Tranh luận tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Sơn La giữ nguyên cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Cầm Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và áp dụng các căn cứ pháp luật như sau:

  • + Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025). Xử phạt bị cáo Cầm Văn H từ 08 năm đến 09 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  • + Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì bên trong đựng 01 túi nilon màu xanh; 01 phong bì bên trong đựng ma túy hoàn lại sau giám định (là các viên nén màu hồng, ký hiệu H có khối lượng 19,17 gam) và vỏ phong bì niêm phong mẫu gửi giám định đã bóc mở.
  • + Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giám, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

- Bị cáo Cầm Văn H nhất trí với toàn bộ đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

* Lời nói sau cùng: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Những người tham gia tố tụng không có ý kiến, khiếu nại về hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa bị cáo Cầm Văn H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan điều tra, số ma túy bị cáo bị tổ công tác Công an xã Lóng Sập thu giữ vào ngày 11/8/2025 có nguồn gốc mua được của một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết với giá 2.000.000 đồng, mục đích sử dụng cho bản thân. Lời khai của bị cáo không có nội dung gì thay đổi so với lời khai tại cơ quan Cảnh sát điều tra, bị cáo khẳng định việc khai báo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguyện và đúng với hành vi đã thực hiện.

Xét lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang do tổ công tác Công an xã L lập vào hồi 15 giờ 30 phút ngày 11/8/2025; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; biên bản mở niêm phong, cân tịnh xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng; kết luận giám định; lời khai của người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ khác cơ quan điều tra đã thu thập được trong hồ sơ vụ án.

Từ những chứng cứ nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo Cầm Văn H là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của việc tàng trữ, sử dụng ma túy. Nhưng do nghiện chất ma túy nên ngày 11/8/2025 bị cáo Cầm Văn H đã có hành vi tàng trữ, cất giấu trái phép 19,49 gam Methamphetamine, nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự, có khung hình phạt tù từ 05 năm đến 10 năm.

Vì vậy, Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Sơn La đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thuộc trường hợp rất nghiêm trọng với lỗi cố ý, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.

[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo có nhân thân xấu, là đối tượng nghiện chất ma túy, có 01 tiền án về tội Trộm cắp tài sản và 01 tiền án về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (đều đã được xóa án tích), nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà tiếp tục tái nghiện ma tuý dẫn đến có hành vi phạm tội, thể hiện thái độ coi thường pháp luật.

[5] Về mức hình phạt áp dụng: Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo, đồng thời mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.

[6] Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, nhưng xét thấy bị cáo làm nghề trồng trọt, thu nhập thấp và không ổn định, không có khả năng thi hành nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 phong bì bên trong đựng 01 túi nilon màu xanh và 01 phong bì bên trong đựng ma túy hoàn lại sau giám định (là các viên nén màu hồng, ký hiệu H có khối lượng 19,17 gam) và vỏ phong bì niêm phong mẫu gửi giám định đã bóc mở. Xét thấy là những vật cấm tàng trữ, lưu hành, vật không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[8] Về án phí: Bị cáo Cầm Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giám, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[10] Về các vấn đề khác:

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Cầm Văn H, xét thấy Cầm Văn H không thuộc diện nào theo quy định tại Điều 256a Bộ luật Hình sự, ngày 29/9/2025 Công an tỉnh S đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Cầm Văn H về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là phù hợp.

Đối với người đàn ông dân tộc Mông đã bán ma túy cho Cầm Văn H, quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra không có căn cứ để điều tra, làm rõ và xử lý. Buộc Cầm Văn H phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về số ma túy đã bị thu giữ.

Thời hạn tạm giam đối với bị cáo còn lại trên 45 ngày, do đó Hội đồng xét xử không phải ban hành quyết định tạm giam đối với bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh và hình phạt:
  2. Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249; khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025):

    Tuyên bố bị cáo Cầm Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

    Xử phạt bị cáo Cầm Văn H 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù.

    Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 11/8/2025.

    Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

  3. Về xử lý vật chứng của vụ án:
  4. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì bên trong đựng 01 túi nilon màu xanh; 01 phong bì bên trong đựng ma túy hoàn lại sau giám định (là các viên nén màu hồng, ký hiệu H có khối lượng 19,17 gam) và vỏ phong bì niêm phong mẫu gửi giám định đã bóc mở.

    (Theo Biên bản giao nhận vật chứng số: 54/BBVC-THA ngày 21/11/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 6 - Sơn La).

  5. Về án phí:
  6. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giám, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Buộc bị cáo Cầm Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng chẵn).

  7. Về quyền kháng cáo:
  8. Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 16/12/2025).

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La;
  • - VKSND tỉnh Sơn La;
  • - Công an tỉnh Sơn La;
  • - VKSND khu vực 6 – Sơn La;
  • - Phòng THADS khu vực 6 - Sơn La;
  • - Trại giam Công an tỉnh;
  • - THAHS;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: Hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Đỗ Thị Thu Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 50/2025/HS-ST ngày 16/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 50/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Cầm Văn H là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của việc tàng trữ, sử dụng ma túy. Nhưng do nghiện chất ma túy nên ngày 11/8/2025 bị cáo Cầm Văn H đã có hành vi tàng trữ, cất giấu trái phép 19,49 gam Methamphetamine, nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự, có khung hình phạt tù từ 05 năm đến 10 năm.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger