|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM KHU VỰC 9 – THANH HOÁ Bản án số: 49/2025/HS-ST Ngày 11 - 12 - 2025 |
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Viết Chiến
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Bản và ông Nguyễn Huy Hoàng
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Vân Ánh – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân Khu vực 9 - Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Lâm Ngọc Anh- Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 9 - Thanh Hóa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 51/2025/TLST-HS ngày 27 tháng 11 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2025/QĐXXST- HS ngày 27 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:
Đào Viết T, sinh ngày 03 tháng 8 năm 1992, tại xã T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn D, xã T, tỉnh Thanh Hóa; Số CCCD: [...], cấp ngày 16/3/2022; Nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Viết Đ và con bà Nguyễn Thị X; có vợ là Lê Thị Mỹ L và 02 con, con lớn sinh năm 2019, nhỏ sinh năm 2023.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh kể từ ngày 28/8/2025 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
- Bị hại:
+ Ông Nguyễn Mạnh H, sinh năm 1948 (đã chết)
+ Bà Lê Thị H1, sinh năm 1951
Nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường N, tỉnh Thanh Hóa.
Người đại diện hợp pháp cho bị hại ông Nguyễn Mạnh H đồng thời là người đại diện theo uỷ quyền bị hại bà Lê Thị H1: Anh Lê Mạnh H2, sinh năm 1979; nơi cư trú: TDP T, phường N, tỉnh Thanh Hóa.
Tại phiên toà vắng mặt bị hại bà H1 và người đại diện hợp pháp của bị hại anh Lê Mạnh H2.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 08 giờ 18 phút, ngày 11/6/2025, Đào Viết T, sinh năm 1992, trú tại thôn D, xã T, tỉnh Thanh Hóa (có giấy phép lái xe hạng C) điều khiển xe ô tô tải BKS 37H – 110.80 lưu thông trên Quốc lộ A ở làn đường xe cơ giới tiếp giáp giải phân cách cứng theo hướng Hà Nội – Nghệ An. Khi T điều khiển xe đến điểm mở dải phân cách tại km 350 +160m, thuộc địa phận tổ dân phố H, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa (nay là TDP H, phường N) tỉnh Thanh Hóa đây là đoạn đường nằm trong khu vực đông dân cư; biển báo và vạch kẻ đường dành cho người đi bộ qua đường và vạch sơn giảm tốc. Cùng lúc này, ở phía trước cùng chiều với xe ô tô do T điều khiển có xe mô tô BKS 36B4 – 927.58 do ông Nguyễn Mạnh H chở phía sau là bà Lê Thị H1, cùng trú tại tổ dân phố T, phường N, tỉnh Thanh Hóa đang di chuyển chếch từ phải qua trái để đi vào điểm mở dải phân cách. Do không chú ý quan sát, giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn nên xe ô tô do T điều khiển đã đâm vào bên trái xe mô tô của ông H1, xảy ra tai nạn giao thông, hậu quả ông H1 bị thương nặng và chết trên đường đi cấp cứu, bà H1 bị thương phải đi điều trị tại bệnh viện, xe ô tô và xe mô tô bị hư hỏng.
Tại bản kết luận giám định số 2206/KL – KTHS ngày 24/6/2025 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận nguyên nhân chết của nạn nhân Nguyễn Mạnh H là do: Chấn thương sọ não.
Tại bản kết luận giám định số 4797/KL – KTHS ngày 24/6/2025 của V Bộ C1 đối với giám định nồng cồn trong máu của nạn nhân Nguyễn Mạnh H và Đào Viết T gửi giám định đều không tìm thấy ethanol (cồn).
Tại bản kết luận giám định số 4801/KL – KTHS ngày 30/6/2025 của V Bộ C1 đối với giám định chất ma tuý trong máu của nạn nhân Nguyễn Mạnh H và Đào Viết T gửi giám định đều không tìm thấy ma tuý và sản phẩm chuyển hoá của chất ma tuý trong các mẫu ghi thu giữ của nạn nhân Nguyễn Mạnh H và Đào Viết T gửi giám định.
Tại bản Kết luận giám định số 2256/KL - KTHS ngày 30/6/2025, Phòng K Công an tỉnh T, giám định phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông kết luận:
- Điểm va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện: Mặt ngoài ốp nhựa bên trái thân xe mô tô BKS 36B4 -927.58 với mặt trước núm móc kéo, tời đầu xe cách thành xe bên trái 48cm xe ô tô BKS 37H – 110.80.
- Tại thời điểm va chạm: Xe mô tô BKS 36B4 – 927.58 có hướng chuyển động gần vuông góc từ phải qua trái so với hướng chuyển động của xe ô tô BKS 37H – 110.80.
- Vị trí và chạm giữa hai phương tiện nằm trước đầu vết cà trượt (1) được thể hiện trong biên bản khám nghiệm hiện trường và sơ đồ hiện trường thuộc làn trong dành cho cho xe cơ giới chiều Hà Nội đi Nghệ An tại khoảng mở dải phân cách Quốc lộ A.
- Không đủ cơ sở xác định va chạm giữa xe ô tô BKS 37H – 110.80 với ông Nguyễn Mạnh H và bà bà Lê Thị H1.
Dấu vết tại mặt trước trán xe cách thành xe ben trái 32cm và má ngoài hành lốp sau bên trái tương ứng hàng chữ “126M” tương ứng phù hợp do va chạm với chất liệu vải sợi tạo nên.
- Không đủ cơ xác định vận tốc của hai phương tiện tại thời điểm xảy ra va chạm.
Tại bản kết luận giám định số 2280/KL – KTHS ngày 01/7/2025 của Phòng K Công an tỉnh T giám định kỹ thuật số điện tử trong vụ án kết luận: Không phát hiện dấu vết chỉnh sửa, cắt ghép nội dung hình ảnh trong 01 tệp video của 01 USB gửi giám định.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 62/KL – HĐĐGTS ngày 25/6/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND thị xã N kết luận: Xe ô tô BKS 37H – 110.80 bị thiệt hại 7.225.000 đồng, xe mô tô BKS 36 B4 – 927.58 thiệt hại 430.000 đồng.
Tại bản kết luận giám định mức độ tổn hại sức khoẻ trên cơ thể người sống số 570/KLTTCT – TTPY ngày 14/10/2025 của Trung tâm pháp y và giám định y khoa tỉnh T kết luận tỷ lệ phần trăm tổn thương trên cơ thể của bà Lê Thị H1 do vụ tai nạn giao thông gây ra là: 79% (bảy chín phần trăm).
Về vật chứng của vụ án: Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 xe ô tô BKS 37 H – 110.80 kèm theo các giấy tờ xe có liên quan và 01 giấy phép lái xe hạng C của Đào Viết T. 01 xe mô tô BKS 36B4 – 927.58 cùng giấy tờ xe có liên quan và 01 giấy phép lái xe hạng A1 của ông Nguyễn Mạnh H, sau khi tiến hành khám nghiệm và làm rõ nguồn gốc phương tiện, giấy tờ đã thu giữ, xét thấy không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe ô tô và các giấy tờ xe cho Đào Viết T là người được chủ sở hữu tài sản uỷ quyền; trả lại xe mô tô BKS 36B4 – 927.58 cho anh Lê Mạnh H2, sinh năm 1979, trú tại tổ dân phố T, phường N, tỉnh Thanh Hóa là đại diện gia đình nạn nhân. Đối với 01 giáy phép lái xe hạng C của Đào Viết T và 01 giấy phép lái xe hạng A1 của ông Nguyễn Mạnh H đưa vào hồ sơ vụ án, chờ xử ly theo quy định.
Về bồi thường thiệt hại: Đào Viết T đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 250.000.000₫ (Hai trăm năm mươi triệu đồng); đại diện gia đình bị hại đã nhận số tiền trên, không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm khoản nào khác, đồng thời có đơn xin miễn giảm trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Tại bản Cáo trạng số 16/CT-VKSKV9 ngày 24/11/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 9 – Thanh Hoá truy tố Đào Viết T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, theo quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa: Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 - tỉnh Thanh Hóa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm a,b khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật hình sự. Tuyên bố Đào Viết T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Đề nghị xử phạt bị cáo Đào Viết T từ 18 (Mười tám) đến 24 (Hai tư) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 36(Ba sáu) đến 48 (Bốn tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về bồi thường thiệt hại: Bị cáo đã bồi thường cho đại diện gia đình bị hại số tiền là 250.000.000₫ (Hai trăm năm mươi triệu đồng), đại diện gia đình bị hại không yêu cầu bồi thường thêm, nên đề nghị HĐXX không xem xét.
Đối với thiệt hại chiếc xe ô tô của chủ sở hữu hợp pháp là Công ty TNHH một thành viên C2 – Chi nhánh N đã uỷ quyền cho Đào Viết T được quyền thay mặt và nhân danh bên uỷ quyền liên hệ và làm việc trực tiếp với Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T và các cơ quan chức năng có liên quan khác để xử lý các vấn đề có liên quan đến xe ô tô 37H 110.80. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại chiếc xe ô tô trên cho người đại diện uỷ quyền là Đào Viết T và Công ty TNHH một thành viên C2 – Chi nhánh N cũng có văn bản không yêu cầu Lê Viết T1 bồi thường trách nhiệm dân sự đối với hư hỏng đối với xe ô tô do vụ tai nạn gây ra nên đề nghị HĐXX không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe ô tô và các giấy tờ xe cho người đại diện theo uỷ quyền và chiếc xe mô tô cho đại diện gia đình bị hại theo đúng quy định của pháp luật nên đề nghị HĐXX không xem xét.
Đối với 01 giấy phép lái xe hạng C của bị cáo Đào Viết T đề nghị HĐXX trả lại cho bị cáo. Đối với giấy phép lái xe mô tô hạng A1 của bị hại ông Nguyễn Mạnh H đề nghị HĐXX trả lại cho đại diện gia đình bị hại.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố, bị cáo không tranh luận với luận tội của Kiểm sát viên. Lời nói sau cùng bị cáo ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi tố tụng, Quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T, Điều tra viên. Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 – Thanh Hoá, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Đối với việc vắng mặt người đại diện hợp pháp cho bị hại ông Nguyễn Mạnh H đồng thời là người đại diện theo uỷ quyền của bị hại bà Lê Thị H1 tại phiên toà nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt, xét thấy việc vắng mặt của họ tại phiên toà không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên HĐXX căn cứ Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Căn cứ định tội, định khung hình phạt đối với bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:
Vào khoảng 08 giờ 18 phút, ngày 11/6/2025, tại Km 350 +160m thuộc địa phận tổ dân phố H, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa (nay là tổ dân phố H, phường N) tỉnh Thanh Hóa, Đào Viết T (Có giấy phép lái xe hạng C) điều khiển xe ô tô tải BKS 37H – 110.80 trong khu vực đông dân cư, nơi có điểm mở dải phân cách, có biển báo và vạch kẻ đường cho người đi bộ sang đường và vạch sơn giảm tốc, nhưng T đã không quan sát, giảm tốc độ hoặc dừng lại để đảm bảo an toàn nên đã đâm vào xe mô tô do ông Nguyễn Mạnh H chở theo sau là bà Lê Thị H1 điều khiển phía trước cùng chiều đang chuyển hướng từ phải sang trái để đi qua điểm mở, hậu quả làm ông H1 bị thương và chết trên đường đi cấp cứu do chấn thương sọ não, bà H1 bị tổn thương cơ thể 79%, xe ô tô và xe mô tô bị hư hỏng.
Nguyên nhân xảy ra tai nạn là do lỗi của bị cáo Đào Viết T không chú ý quan sát không giảm tốc độ và dừng lại một cách an toàn, hành vi của bị cáo T vi phạm điểm a, e khoản 3 Điều 12 Luật trật tự an toàn giao thông đường bộ, gây tai nạn giao thông làm chết 01 người và bị thương 01 người.
Hành vi nêu trên của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" theo quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự. Vì vậy, quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 – Thanh Hoá là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Đánh giá tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:
Tính chất vụ án: Bị cáo điều khiển phương tiện giao thông nhưng không quan sát, không giảm tốc độ hoặc dừng xe đảm bảo an toàn khi tham gia giao thông gây tại nạn chết 01 người và 01 người bị thương là nghiêm trọng, hành vi vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ và gây thiệt hại đến tính mạng, sức khoẻ của người khác. Hành vi này cần phải xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự nhằm giáo dục, trừng trị bị cáo và răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.
[4] Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt.
Bị cáo không có tiền án, tiền sự và không phải chịu tình tiết tăng nặng theo quy định của BLHS.
Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải; đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại; đại diện của bị hại đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và đại diện gia đình bị hại đã thỏa thuận bồi thường thiệt hại, bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 250.000.000₫ (Hai trăm năm mươi triệu đồng), đại diện của bị hại đã nhận số tiền trên, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm. Nên HĐXX không xem xét.
Đối với thiệt hại do hư hỏng xe ô tô và xe mô tô do vụ tai nạn đại diện chủ sở hữu hợp pháp xe ô tô và đại diện gia đình bị hại có đơn đề nghị không yêu cầu bồi thường thiệt hại nên HĐXX không xem xét.
[6] Quyết định hình phạt: Căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, trên cơ sở cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: HĐXX xét thấy bị cáo là người có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo, nên không cần phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù, mà cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách dưới sự giám sát của chính quyền địa phương cũng đủ giáo dục bị cáo trở thành người tốt. Việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
[7] Hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 260 BLHS bị cáo còn “bị cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm” Tuy nhiên bị cáo được xác nhận của chính quyền địa phương gia đình có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo là lao động chính, nghề lái xe đem lại nguồn thu nhập chính cho gia đình nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[8] Xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe ô tô và các giấy tờ xe cho người đại diện theo uỷ quyền là Đào Viết T và chiếc xe mô tô cho đại diện gia đình bị hại theo đúng quy định của pháp luật nên HĐXX không xem xét.
Đối với 01 giấy phép lái xe hạng C của bị cáo và 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A1 của bị hại đang được lưu giữ trong hồ sơ vụ án trả lại cho bị cáo và đại diện hợp pháp của bị hại là phù hợp với quy định của Pháp luật.
[9] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của Pháp luật.
[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại được quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Đào Viết T phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ".
1.1 Căn cứ: điểm a,b khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.
1.2. Xử phạt: Bị cáo Đào Viết T 21 (Hai mươi mốt) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 42 (Bốn hai) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
1.3 Giao bị cáo Đào Viết T cho Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Thanh Hoá quản lý, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo được hưởng án treo mà thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Trả lại cho bị cáo 01 giấy phép lái xe hạng C, số [...] do Sở giao thông vận tải tỉnh T cấp ngày 25/4/2022 cho bị cáo Đào Viết T. Trả lại 01 giấy phép lái xe hạng A1 sô P251643 do Sở giao thông vận tải tỉnh T cấp ngày 11/10/2003 cho đại diện theo uỷ quyền của gia đình bị hại là anh Lê Mạnh H2.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Buộc bị cáo Đào Viết T phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai có mặt bị cáo, vắng mặt bị hại và người đại hợp pháp cho bị hại. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15(mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; Bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15(mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Viết Chiến |
|
HỘI THẨM NHÂN DÂN |
HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Bùi Quốc Kiên |
Lê Thế Hải |
Phạm Viết Chiến |
Bản án số 49/2025/HS-ST ngày 11/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - THANH HÓA về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (vụ án hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 49/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Vụ án hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vào khoảng 08 giờ 18 phút, ngày 11/6/2025, tại Km 350 +160m thuộc địa phận tổ dân phố Hoà Bình, phường Hải Châu, thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá (nay là tổ dân phố Hoà Bình, phường Ngọc Sơn) tỉnh Thanh Hoá, Đào Viết Tính (Có giấy phép lái xe hạng C) điều khiển xe ô tô tải BKS 37H – 110.80 trong khu vực đông dân cư, nơi có điểm mở dải phân cách, có biển báo và vạch kẻ đường cho người đi bộ sang đường và vạch sơn giảm tốc, nhưng Tính đã không quan sát, giảm tốc độ hoặc dừng lại để đảm bảo an toàn nên đã đâm vào xe mô tô do ông Nguyễn Mạnh Hà chở theo sau là bà Lê Thị Hà điều khiển phía trước cùng chiều đang chuyển hướng từ phải sang trái để đi qua điểm mở, hậu quả làm ông Hà bị thương và chết trên đường đi cấp cứu do chấn thương sọ não, bà Hà bị tổn thương cơ thể 79%, xe ô tô và xe mô tô bị hư hỏng. Nguyên nhân xảy ra tai nạn là do lỗi của bị cáo Đào Viết Tính không chú ý quan sát không giảm tốc độ và dừng lại một cách an toàn, hành vi của bị cáo Tính vi phạm điểm a, e khoản 3 Điều 12 Luật trật tự an toàn giao thông đường bộ, gây tai nạn giao thông làm chết 01 người và bị thương 01 người.
