Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 7 - HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 49/2025/HS-ST

Ngày 11-12-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Văn Thắng

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Tái

Bà Nguyễn Thị Tâm

- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Lan Anh - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 7 - Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Nghĩa - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 - Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 49/2025/TLST-HS ngày 03 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2025/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2025 và Quyết định thay đổi thời gian mở phiên tòa số 12/HSST-QĐ ngày 08 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo:

Trần Văn Q, sinh ngày 26 tháng 11 năm 1981 tại Hà Tĩnh. Nơi cư trú: Thôn P, xã T, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn K và bà Trần Thị T (đã chết); có vợ là Võ Thị Sông H (đã ly hôn); có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 22-7-2025 đến nay; có mặt.

Bị hại:

  • + Cháu Nguyễn Anh Q1, sinh ngày 22 tháng 11 năm 2009, nơi cư trú: Thôn A, xã V, thành phố Hải Phòng. Người đại diện hợp pháp: Chị Nguyễn Thị Q2, sinh năm 1984, nơi cư trú: Thôn A, xã V, thành phố Hải Phòng; vắng mặt
  • + Cháu Phạm Đức M, sinh ngày 26 tháng 4 năm 2011, nơi cư trú: Thôn B, xã V, thành phố Hải Phòng. Người đại diện hợp pháp: Chị Trần Thị K1, sinh năm 1971, nơi cư trú: Thôn B, xã V, thành phố Hải Phòng; cháu M vắng mặt, chị K1 có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • + Công ty TNHH Đ, địa chỉ: Khu Đ - L, phường D, quận H, thành phố Hà Nội (nay là phường D, thành phố Hà Nội). Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Trọng S – Chức vụ: Giám đốc. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Vũ Đình Q3; vắng mặt
  • + Cháu Lê Trung T1, sinh năm 2010, nơi cư trú: Thôn Đ, xã V, thành phố Hải Phòng. Người đại diện hợp pháp: Chị Vũ Thị X, sinh năm 1985, Thôn Đ, xã V, thành phố Hải Phòng; vắng mặt

Người làm chứng:

  • + Anh Nguyễn Cao T2; vắng mặt
  • + Cháu Hoàng Duy K2. Người đại diện hợp pháp: Anh Hoàng Xuân N; vắng mặt
  • + Anh Lâm Thế T3; vắng mặt
  • + Anh Lương Văn T4; vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Văn Q có giấy phép lái xe hạng D theo quy định làm việc lái xe cho Công ty TNHH Đ theo hợp đồng lao động ký ngày 06-02-2025. Khoảng 22 giờ ngày 22-02-2025, Q điều khiển xe ô tô tải nhãn hiệu FOTON mang biển kiểm soát 29H-852.13 theo lệnh điều xe của Công ty TNHH Đ đi trên đường Q theo hướng từ tỉnh Hưng Yên đến thành phố Hải Phòng. Khi đến Km52 Quốc lộ A (trước cửa nhà số H, thôn C, xã V, TP Hải Phòng), Q thấy lốp xe bị non hơi nên đã điều khiển xe dừng lại bên phải đường (tâm trục bánh trước bên phải của xe ô tô cách mép đường bên phải là 0,8m; tâm trục bánh sau bên phải xe ô tô cách mép đường bên phải là 0,9m). Sau đó, Q vẫn để xe nổ máy, bật đèn cảnh báo nguy hiểm rồi xuống xe để kiểm tra. Tuy nhiên, sau khi kiểm tra Q thấy lốp xe vẫn bình thường nên đã dời khỏi xe đi sang bên đường đối diện để mua sạc điện thoại. Cùng lúc này, cháu Nguyễn Anh Q1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu FERVOR mang biển kiểm soát 17N4-3017, phía sau chở cháu Phạm Đức M đi đến đâm va vào phía sau bên trái đuôi xe ô tô mang biển kiểm soát 29H-852.13. Hậu quả, cháu Q1, cháu M bị thương được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đ1 - V. Sau đó cháu M được chuyển tuyến đến Bệnh viện H1 điều trị đến ngày 10-3-2025 ra viện. Riêng cháu Q1 được chuyển tuyến đến Bệnh viện H1, Bệnh viện H2, Bệnh viện K3, Bệnh viện trẻ em, Bệnh viện N1 điều trị đến ngày 16-5-2025 ra viện.

Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định các dấu vết, phương tiện tại hiện trường như sau: vụ tai nạn giao thông xảy ra tại khu vực Km52 Quốc lộ A thuộc địa phận thôn C, xã V, mặt đường trải nhựa apphan, đường hai chiều được phân chia bằng 02 vạch kẻ liền màu vàng giữa đường. Mỗi phần đường được chia làm 02 làn xe chạy với kích thước của các làn lần lượt là 3,4 mét; 5,5 mét. Trên hiện trường còn để lại 02 vết máu dạng loang có kích thước (0,4x0,25)m và (0,1x0,5)m; 01 vùng mảnh nhựa vỡ trong diện (1x0,8)m; 01 xe mô tô mang biển kiểm soát 17N4-3017 nằm đổ nghiêng bên trái, đầu xe hướng về Hải Phòng, đuôi xe hướng về Hưng Yên; 01 xe ô tô tải mang biển kiểm soát 29H-852.13 dừng trên làn cơ giới sát mép đường bên phải theo hướng từ tỉnh Hưng Yên đến thành phố Hải Phòng, tâm trục bánh trước bên phải của xe ô tô cách mép đường bên phải là 0,8m. T5 trục bánh sau bên phải xe ô tô cách mép đường bên phải là 0,9m.

Tại bản kết luận giám định số 365/2025/KLTgTHS-TTPYHP ngày 14-07-2025 của Trung tâm P kết luận về thương tích của cháu Phạm Đức M như sau: “Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể đối với thương tích Phạm Đức M qua hồ sơ là 26%".

Tại bản kết luận giám định số 366/2025/KLTgTHS-TTPYHP ngày 14-07-2025 của Trung tâm P kết luận về thương tích của cháu Nguyễn Anh Q1 như sau: “Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể đối với thương tích Nguyễn Anh Q1 qua hồ sơ là 83%. Kết luận khác: Tổn thương rách giác mạc mắt phải, vỡ trần, thành trong, sàn ổ mắt phải, vỡ sàn, thành trong ổ mắt trái, giám định trên hồ sơ nạn nhân không khám lại chuyên khoa mắt, không xác định chính xác được tình trạng thị lực hai mắt nên không đủ căn cứ để đánh giá tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể. Nếu thấy cần thiết đề nghị Cơ quan CSĐT cho nạn nhân giám định bổ sung sau”. Ngày 10-8-2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H ra Quyết định trưng cầu giám định bổ sung đối với hai mắt của cháu Nguyễn Anh Q1 nhưng cháu Q1 và người đại diện hợp pháp có đơn từ chối việc giám định thương tích bổ sung do sức khoẻ đã ổn định và được bồi thường đầy đủ. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định dẫn giải nhưng Nguyễn Anh Q1 không hợp tác.

Tại bản kết luận giám định số 1346/KL-KTHS ngày 21-05-2025 của Phòng K4 Công an thành phố H về dấu vết va chạm giữa các phương tiện trong vụ tai nạn như sau: “Dấu vết cong gập kim loại, trượt xước mất sơn (màu đỏ), bám dính tạp chất màu đen và màu nâu đỏ (dạng sơn và rỉ sét) theo chiều từ sau về trước ở mặt ngoài bên trái (bên lái) phía sau cản sau xe ô tô mang biển kiểm soát 29H- 852.13 phù hợp với dấu vết vỡ khuyết nhựa ở mặt nạ, để lộ giá treo bằng kim loại liền kề phía trong bị cong vênh, bề mặt trượt xước mất rỉ sét (màu nâu đỏ), bám dính tạp chất màu nâu đỏ (dạng sơn) theo chiều từ trước về sau trên xe mô tô mang biển kiểm soát 17N4-3017" .

Tại bản kết luận giám định số 1232/KL-KTHS ngày 20-05-2025 của Phòng K4 - Công an thành phố H về việc giám định dữ liệu điện tử là 01 đoạn video trích xuất từ camera an ninh nhà số A khu phố C thị trấn V, huyện V (nay là xã V), thành phố Hải Phòng ghi lại hình ảnh vụ tai nạn giao thông xảy như sau: “Không tìm thấy dấu vết bị cắt ghép chỉnh sửa trên tập tin video, trích xuất 08 (tám) hình ảnh lập thành bản ảnh”.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 29/KL-ĐG ngày 06-6-2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện V kết luận: “Tổng tài sản bị thiệt hại đối với xe mô tô mang biển kiểm soát 17N4-3017 tại thời điểm ngày 22-02-2025 = 1.680.000 đồng”. Kết quả xét nghiệm ma túy, nồng độ cồn trong máu của Trần Văn Q và cháu Nguyễn Anh Q1 như sau: nồng độ cồn của cháu Q1 là 35,68 mmol/l; nồng độ cồn của Q là 1,45 mmol/l (chỉ số trung bình là 0-1,76 mmol/l); Q âm tính với các chất ma túy.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Trần Văn Q đã khai nhận hành vi phạm tội như trên.

Về việc thu giữ, tạm giữ tài liệu đồ vật, xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã trả xe ô tô biển kiểm soát 29H-852.13 cùng giấy tờ cho đại diện Công ty TNHH Đ; trả lại xe mô tô biển kiểm soát: 17N4-3017 cho Lê Trung T1 và người đại diện hợp pháp của T1. Đối với 01 giấy phép lái xe hạng D số [...] mang tên Trần Văn Q chuyển Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng chờ xử lý.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho cháu Nguyễn Anh Q1 số tiền 100.000.000 đồng, hỗ trợ cho cháu Phạm Đức M số tiền 5.000.000 đồng. Đến nay, cháu Q1, cháu M và người đại diện hợp pháp không yêu cầu phải bồi thường thêm và đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Lê Trung T1 không yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với xe mô tô mang biển kiểm soát 17N4-3017.

Tại Bản cáo trạng số: 12/CT-VKS ngày 30-10-2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Hải Phòng đã truy tố Trần Văn Q về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi như nội dung cáo trạng, bị cáo tỏ ra ăn năn, hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội.

Đại diện hợp pháp cho bị hại không yêu cầu gì về phần dân sự và có đề nghị xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất vụ án, mức độ, tính nguy hiểm và hậu quả của hành vi phạm tội cùng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt Trần Văn Q từ 15 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ", thời gian thử thách 30 đến 36 tháng. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về vật chứng: Trả lại cho bị cáo Giấy phép lái xe mang tên Trần Văn Q. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và đại diện hợp pháp của bị hại đã thỏa thuận bồi thường xong, không có yêu cầu khác nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Hải Phòng, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[1.2] Về việc tham gia tố tụng của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Bị hại trong vụ án là người chưa thành niên, quá trình giải quyết vụ án các cơ quan tố tụng đã chỉ định người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp nhưng bị hại và người đại diện hợp pháp đều từ chối không yêu cầu người bảo vệ quyền và lợi ích tham gia tố tụng nên tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp theo quy định pháp luật tố tụng hình sự.

[2] Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người làm chứng, phù hợp với vật chứng cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 22 giờ ngày 22-02-2025, Trần Văn Q có giấy phép lái xe theo quy định điều khiển xe ô tô tải mang biển kiểm soát 29H-852.13 đi trên Quốc lộ A theo hướng từ tỉnh Hưng Yên đến thành phố Hải Phòng, khi đi đến K Quốc lộ A thuộc địa phận thôn C, xã V, Q đã điều khiển xe dừng lại trên đường phố, để bánh xe gần nhất cách xa lề đường 0,8m gây cản trở, nguy hiểm cho người và phương tiện tham gia giao thông đường bộ. Hành vi của Trần Văn Q vi phạm khoản 6 Điều 18 Luật Trật tự an toàn giao thông đường bộ: “6. Trên đường phố, người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ chỉ được dừng xe, đỗ xe sát theo lề đường, vỉa hè phía bên phải theo chiều đi của mình; bánh xe gần nhất không được cách xa lề đường, vỉa hè quả 0,25 mét và không gây cản trở, nguy hiểm cho người và phương tiện tham gia giao thông đường bộ". Hành vi vi phạm của Trần Văn Q nêu trên dẫn đến cháu Nguyễn Anh Q1 điều khiển xe mô tô chở cháu Phạm Đức M ngồi phía sau đâm va vào đuôi xe ô tô của Q. Hậu quả làm cháu Q1 và cháu M bị thương với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể là 109%, gây thiệt về tài sản với giá trị là 1.680.000 đồng, đã đủ các yếu tố cấu thành tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Hải Phòng đã truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn nối cải; bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại; bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo; bị cáo có bố đẻ là thương binh hạng 4/4; bị hại cũng có một phần lỗi khi điều khiển xe mô tô tham gia giao thông khi trong người có nồng độ cồn, không đội mũ bảo hiểm, không có giấy phép lái xe theo quy định, không chú ý quan sát, không giữ khoảng cách an toàn với phương tiện phía trước, không giảm tốc độ hoặc dừng lại để bảo đảm an toàn trong trường hợp có chướng ngại vật trên đường vi phạm quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 9; Điều 12 Luật Trật tự an toàn giao thông đường bộ. Do đó, bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về hình phạt: Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đặc điểm nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Lỗi của bị cáo là lỗi vô ý; gia đình bị hại đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Xét bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; bị cáo có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng; ngoài lần phạm tội này luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật, thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân. Theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15-5-2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15-4-2022 sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, không cần thiết phải buộc bị cáo phải cách ly xã hội mà áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự như đề nghị của Đại diện Viện Kiểm sát cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung, đồng thời còn thể hiện sự khoan hồng, nhân đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa.

[6] Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào tình chất, mức độ nguy hiểm và hậu quả hành vi của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy, không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và bị hại thoả thuận xong về trách nhiệm dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 giấy phép lái xe hạng D mang tên Trần Văn Q là giấy tờ tùy thân hợp pháp của bị cáo, cần trả lại cho bị cáo.

[9] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định pháp luật.

[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại và đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố bị cáo Trần Văn Q phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”;

Xử phạt Trần Văn Q 15 (mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 30 (ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn C đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Hà Tĩnh giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự: Người được hưởng án treo có thể vắng mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chính đáng và phải xin phép theo quy định, phải thực hiện khai báo tạm vắng theo quy định của pháp luật về cư trú. Thời gian vắng mặt tại nơi cư trú mỗi lần không quá 60 ngày và tổng số thời gian vắng mặt tại nơi cư trú không được vượt quá một phần ba thời gian thử thách, trừ trường hợp bị bệnh phải điều trị tại cơ sở y tế theo chỉ định của bác sỹ và phải có xác nhận điều trị của cơ sở y tế đó.

Người được hưởng án treo khi vắng mặt tại nơi cư trú phải có đơn xin phép và được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục; trường hợp không đồng ý thì Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Người được hưởng án treo khi đến nơi cư trú mới phải trình báo với Công an cấp xã nơi mình đến tạm trú, lưu trú; hết thời hạn tạm trú, lưu trú phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi tạm trú, lưu trú. Trường hợp người được hưởng án treo vi phạm pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đến tạm trú, lưu trú phải thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục kèm theo tài liệu có liên quan.

Người được hưởng án treo không được xuất cảnh trong thời gian thử thách.

  1. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại cho bị cáo 01 giấy phép lái xe hạng D mang tên Trần Văn Q (theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 03-11-2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố H với Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 7 - Hải Phòng.
  2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; căn cứ Điều 6, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội; bị cáo Trần Văn Q phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án, trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại; đại diện hợp pháp của bị hại;
  • - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan;
  • - TAND TP. Hải Phòng;
  • - VKSND TP. Hải Phòng;
  • - VKSND Khu vực 7 - Hải Phòng;
  • - Cơ quan CSĐT Công an TP. Hải Phòng;
  • - Cơ quan THAHS Công an TP. Hải Phòng;
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an TP. Hải Phòng;
  • - THADS TP. Hải Phòng;
  • - UBND cấp xã nơi bị cáo cư trú;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Văn Thắng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 49/2025/HS-ST ngày 11/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - HẢI PHÒNG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 49/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Q vi phạm quy định về tham gia giao thông
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger