Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 2 - X

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2025/HS-ST

Ngày 08 tháng 12 năm 2025

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2, TỈNH X

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Phan Thị Nhiên.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Trần Xuân Sơn;
  2. Ông Phan Xuân Hùng.

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Bá Thuận - Thư ký viên chính Toà án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2, tỉnh X tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Phương Dung - Kiểm sát viên.

Trong ngày 08 tháng 12 năm 2025, tại Tòa án nhân dân Khu vực 2 X mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 44/2025/HSST ngày 14 tháng 11 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2025/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 11 năm 2025, đối với:

Bị cáo: Nguyễn Xuân T, sinh năm 1992; tên gọi khác: Không; Trú tại: thôn Ô, xã Y, tỉnh X; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: lớp 8/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Con ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1966 và bà Trần Thị H, (đã chết); Vợ: Luyện Thị H1, sinh năm 1991(đã ly hôn); Có 02 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 04/7/2025, bị Chủ tịch UBND xã Y, tỉnh X ra Quyết định quản lý sau cai nghiện ma tuý tại nơi cư trú; bị bắt tạm giam từ ngày 12/9/2025, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an tỉnh H. Có mặt

* Người chứng kiến: Ông Nguyễn Văn S, sinh năm:1960; Địa chỉ: Thôn Ô, xã Y, tỉnh X. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Xuân T là người nghiện ma túy loại Methamphetamine. Từ ngày 02/01/2025 đến ngày 02/7/2025, T đã cai nghiện tự nguyện tại Cơ sở Cai nghiện ma túy tỉnh X. Ngày 04/7/2025, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Y, tỉnh X ban hành Quyết định số 25/QĐ-UBND về việc quản lý sau cai nghiện ma tuý tại nơi cư trú đối với T, thời hạn quản lý là 01 năm (từ ngày 02/7/2025 đến 02/7/2026). Trong thời hạn bị quản lý, T vẫn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy loại Methamphetamine, lần gần nhất T sử dụng như sau: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 09/9/2025, T điều khiển xe mô tô biển số 89F4-1669 (mượn của ông Đặng Tất H2, sinh năm 1960 trú tại thôn Ô, xã Y, tỉnh X) đi đến quán B ở thôn Đ, xã Y, tỉnh X để uống bia với bạn là anh Nguyễn Quốc C, sinh năm: 1993 trú tại: thôn Ô, xã Y, tỉnh X ngồi được khoảng 15 phút thì có 02 người nam thanh niên (không xác định được nhân thân lai lịch) ngồi bàn bên cạnh nói chuyện về việc sử dụng ma túy đá nên T đã đi sang để hỏi mua 300.000 đồng ma túy đá thì được một người nam thanh niên đồng ý bán. T đưa cho nam thanh niên số tiền 300.000 đồng, sau đó nam thanh niên đứng dậy đi ra đường gọi điện rồi quay lại nói với T: “Đi sang làng N, xã V, tỉnh X, đi vào bên trong khu di tích mới xây, thấy hàng ghế đá đầu tiên nhìn ở dưới chân ghế góc trong là thấy ma túy”. T ngồi uống bia thêm khoảng 15 phút thì đứng dậy, rồi một mình điều khiển xe mô tô biển số 89F4-1669 đến địa điểm chỉ dẫn của người nam thanh niên trên để lấy ma túy. Khi lấy được ma túy T cất số ma túy trên vào túi áo khoác phía trước bên phải rồi điều khiển xe đi về bãi rác đoạn đường trục trung tâm ở thôn Ô, xã Y, tỉnh X để sử dụng. Do không có dụng cụ để sử dụng ma túy đá nên T đã xé giấy bạc ở bao thuốc lá T1 rồi để ma túy lên giấy bạc dùng bật lửa hơ phía dưới, tạo khí, đưa ma túy vào trong cơ thể bằng hình thức hít bằng mũi và bằng mồm. T hít khoảng 3-4 lần thì hết ma túy, T vo giấy bạc và vứt đi cùng với bật lửa, rồi đi về.

Ngày 10/9/2025, Công an xã Y yêu cầu T đi xét nghiệm ma túy trong cơ thể, kết quả T dương tính với ma túy loại Methamphetamine và A (ma túy đá).

Tại phiếu trả kết quả xét nghiệm ngày 10/9/2025 của Trung tâm Y tế Y, xác định: Nguyễn Xuân T dương tính với ma túy, loại Amphetamine và M1.

Ngày 10/9/2025, tiến hành cho Nguyễn Xuân T chỉ dẫn vị trí lấy ma túy và vị trí sử dụng trái phép chất ma túy là khu vực bãi rác thuộc đường trục trung tâm thôn Ô, xã Y, tỉnh X và vị trí T lấy ma túy về sử dụng, qua các vị trí chỉ dẫn không thu giữ được vật chứng, tài liệu gì liên quan.

Ngày 10/9/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Xuân T ở thôn Ô, xã Y, tỉnh X, không thu giữ được đồ vật, tài liệu.

Ngày 10/9/2025 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H đã thu mẫu nước tiểu của Nguyễn Xuân T và Quyết định trưng cầu Phòng K Công an tỉnh B giám định chất ma túy trong mẫu nước tiểu thu được của T.

Tại Kết luận giám định số 2553/KL-KTHS ngày 11/9/2025 của Phòng K - Công an tỉnh B, kết luận: Mẫu nước tiểu ghi thu của Nguyễn Xuân T có tìm thấy Methamphetamine.

Đối với xe mô tô biển số 89F4-1669 quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của ông Đặng Tất H2, ông H2 không biết T sử dụng chiếc xe mô tô này để mua và sử dụng ma tuý nên ngày 14/9/2025, Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông H2 là phù hợp với quy định của pháp luật.

Đối với người thanh niên đã bán ma tuý cho T, kết quả điều tra không xác định được nhân thân, lý lịch nên không có căn cứ để xử lý, anh Nguyễn Quốc C không biết T mua ma túy và sử dụng ma túy nên không xem xét xử lý.

Quá trình điều tra, Nguyễn Xuân T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ diễn biến hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Cáo trạng số 14/CT-VKS-KV2 ngày 13/11/2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 truy tố bị cáo Nguyễn Xuân T về tội Sử dụng trái phép chất ma túy, quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Nguyễn Xuân T thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã nêu và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 X trình bày luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử, tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Xuân T phạm tội Sử dụng trái phép chất ma túy. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2025. Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân T từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 12/9/2025. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì, tại lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng khoan hồng của pháp luật, để sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan Điều tra - Công an tỉnh H và Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng từ giai đoạn điều tra cho đến phiên tòa sơ thẩm đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp khách quan với biên bản ghi lời khai của người chứng kiến, kết luận giám định của Phòng K Công an tỉnh B cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận: Nguyễn Xuân T là đối tượng đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy từ ngày 02/7/2025 đến ngày 02/7/2026 theo Luật phòng chống ma túy nhưng đến khoảng 21 giờ 30 phút ngày 09/9/2025, T lại thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại thôn Ô, xã Y, tỉnh X, ngày 10/9/2025 Công an xã Y yêu cầu T đi xét nghiệm ma tuý trong cơ thể. Tại phiếu trả kết quả xét nghiệm ngày 10/9/2025 của Trung tâm Y tế Y, xác định: Nguyễn Xuân T dương tính với ma tuý, loại Amphetamine và M1. Tại Kết luận giám định số 2553/KL-KTHS ngày 11/9/2025 của Phòng K - Công an tỉnh B, kết luận: Mẫu nước tiểu ghi thu của Nguyễn Xuân T có tìm thấy Methamphetamine. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thực được A1 và Methamphetamine là chất ma tuý Nhà nước nghiêm cấm việc mua bán, tàng trữ và sử dụng trái phép nhưng để thoả mãn nhu cầu của bản thân, bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Hành vi trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Sử dụng trái phép chất ma túy, được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2025 nên Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 X truy tố bị cáo về hành vi và tội danh như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, làm mất an ninh, trật tự công cộng, an toàn xã hội, là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về hình phạt: Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, HĐXX thấy: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý nhằm thỏa mãn nhu cầu của bản thân, bị cáo đã bị Chủ tịch UBND xã Y ra quyết định quản lý sau cai nghiện ma tuý tại nơi cư trú, bị cáo không lấy đó làm cơ sở rèn luyện bản thân mà lại tiếp tục sử dụng ma tuý thể hiện sự coi thường pháp luật do đó cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt.

[6] Về biện pháp tư pháp và các vấn đề khác:

Đối với xe mô tô biển số 89F4-1669 quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của ông Đặng Tất H2, ông H2 không biết T sử dụng chiếc xe mô tô này để mua và sử dụng ma tuý nên ngày 14/9/2025, Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông H2 là phù hợp với quy định của pháp luật.

Đối với người thanh niên đã bán ma tuý cho T, kết quả điều tra không xác định được nhân thân, lý lịch nên không có căn cứ để xử lý, anh Nguyễn Quốc C không biết T mua ma túy và sử dụng ma túy nên không xem xét xử lý.

[7] Về án phí: Bị cáo phạm tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ: Điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2025; khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.

2. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Xuân T phạm tội Sử dụng trái phép chất ma tuý.

3. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Xuân T 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 12/9/2025.

4. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Xuân T phải chịu số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh X;
  • - CA tỉnh X;
  • - VKS Khu vực 2;
  • - Phòng THA Khu vực 2;
  • - Trại tạm giam số 1 - CA tỉnh X;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Thị Nhiên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 47/2025/HS-ST ngày 08/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2, TỈNH X về sử dụng trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 47/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Sử dụng trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2, TỈNH X
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Trường - Sử dụng trái phép CMT
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger