|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - PHÚ THỌ Bản án số: 47/2025/HNGĐ-ST Ngày: 10/12/2025 V/v tranh chấp về ly hôn, con chung |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Lan
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Tống Thị Hồng Vân
- Ông Nguyễn Chí Hùng
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 - Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Ngô Xuân Hiếu - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 - Phú Thọ tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 66/2025/TLST- HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2025 về việc "Tranh chấp về ly hôn, con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị Bích L, sinh năm 1992.
Địa chỉ: khu P, xã L, tỉnh Phú Thọ.
Bị đơn: Anh Vũ Minh N, sinh năm 1986.
Địa chỉ: Khu D, xã L, tỉnh Phú Thọ.
Hiện đang cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 1 tỉnh Phú Thọ.
(Chị L, anh N đều xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn là chị Đỗ Thị Bích L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Đỗ Thị Bích L và anh Vũ Minh N đăng ký kết hôn ngày 12/7/2016 tại UBND phường H2, quận G, thành phố Hồ Chí Minh. Trước khi kết hôn anh chị được tự do tìm hiểu, lấy nhau hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc. Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống tại khu D, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ (nay là khu D, xã L, tỉnh Phú Thọ). Đến ngày 30/4/2023 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh N không cùng chị vun đắp hạnh phúc gia đình, không cùng chị nuôi dạy và chăm sóc con cái, chơi bời, không lo làm ăn phụ giúp chị. Vợ chồng chị đã nhiều lần tự hòa giải nhưng anh N không thay đổi. Nay chị xin được ly hôn với anh N.
Về con chung: Chị xác định vợ chồng có 02 con chung là cháu Vũ Ngọc P, sinh ngày 19/9/2012 và cháu Vũ Minh C, sinh ngày 23/02/2019. Khi ly hôn, chị xin được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung và không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.
Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Chị không đề nghị Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai, bị đơn là anh Vũ Minh N trình bày:
Về quá trình kết hôn, thời gian chung sống và con chung như chị L trình bày là đúng. Vợ chồng chung sống hạnh phúc cho đến khi anh dùng thuốc tây bị nghiện không tự cai được, chị L khuyên bảo nhưng không có kết quả nên vợ chồng mới mâu thuân. Anh còn phải cai nghiện khoảng 10 tháng nữa tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 1 tỉnh Phú Thọ. Từ tháng 4/2025 do không khuyên bảo được anh nên chị L cùng 02 con đã chuyển về sống cùng bố mẹ đẻ ở khu P, xã L, tỉnh Phú Thọ. Vợ chồng ly thân từ đó đến nay. Nay chị L xin ly hôn thì anh không đồng ý vì anh muốn chờ sau khi anh đi cai nghiện bắt buộc về sẽ đồng ý ly hôn để anh được nuôi con.
Về con chung: Anh xin nuôi cả hai con chung và không yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi con. Hiện nay anh không có thu nhập, không có tài liệu chứng cứ chứng minh cho yêu cầu xin nuôi con nên nếu Tòa án tạm thời giao con cho chị L thì anh đồng ý.
Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Anh đều không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa: Nguyên đơn và bị đơn đều vắng mặt.
Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Phú Thọ đề nghị:
Áp dụng khoản 1 Điều 51, điều 56, điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 điều 147, khoản 4 điều 207, khoản 1 Điều 228, điểm a điểm b khoản 1 Điều 238, Điều 271, Điều 273 BLTTDS; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q.
Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Đỗ Thị Bích L được ly hôn với anh Vũ Minh N.
Về con chung: Giao cháu Vũ Ngọc P, sinh ngày 19/9/2012 và cháu Vũ Minh C, sinh ngày 23/02/2019 cho chị Đỗ Thị Bích L trực tiếp nuôi dưỡng, anh Vũ Minh N không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị L không yêu cầu.
Về tài sản chung, công nợ chung, công sức đóng góp: Không yêu cầu Toà án giải quyết vì vậy không đề cập giải quyết.
Về án phí: Chị L phải chịu 300.000đ tiền án phí theo quy định. Xác nhận chị L đã nộp số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai số 0002697 ngày 03/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
- Về quan hệ pháp luật: Đây là vụ án “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ Luật tố tụng dân sự.
Bị đơn có nơi cư trú tại xã L, tỉnh Phú Thọ vì vậy tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Phú Thọ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ Luật tố tụng dân sự.
Nguyên đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải vì vậy vụ án không tiến hành hòa giải được. Tòa án chỉ mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 208 Bộ Luật tố tụng dân sự.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt đều đề nghị xét xử vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.
[2]. Về quan hệ hôn nhân:
Chị Đỗ Thị Bích L và anh Vũ Minh N đăng ký kết hôn ngày 12/7/2016 tại UBND phường H2, quận G, thành phố Hồ Chí Minh. Trước khi kết hôn anh, chị được tự do tìm hiểu, lấy nhau hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc. Xét thấy chị L và anh N kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn, việc kết hôn không vi phạm điều cấm nên là hôn nhân hợp pháp. Chị L và anh N đều xác định vợ chồng có mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do anh N nghiện thuốc dù đã được khuyên giải nhưng không có kết quả. Vợ chồng đã sống ly thân.
Tại Biên bản xác minh ngày 21/11/2025, địa phương cung cấp: Sau khi kết hôn cho đến khoảng tháng 02/2024 chị L và anh N chung sống tại địa phương. Từ đầu năm 2025 chị L đã cùng 02 con chuyển đi khỏi khu 4 Đ còn anh N đã được Công an đưa đi cai nghiện bắt buộc. Gia đình anh, chị sống khép kín, không giao lưu với hàng xóm nên mâu thuẫn cụ thể địa phương không nắm được.
Xét thấy mục đích hôn nhân giữa chị L và anh N không đạt được, tình trạng hôn nhân trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, vợ chồng đã sống ly thân. Vì vậy chị L yêu cầu ly hôn với anh N là có căn cứ cần chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
[3]. Về con chung:
Chị L và anh N đều xác định vợ chồng có 02 con chung là cháu Vũ Ngọc P, sinh ngày 19/9/2012 và cháu Vũ Minh C, sinh ngày 23/02/2019. Khi ly hôn, chị L và anh N đều xin được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung. Xét thấy cả hai con chung đều đang sống cùng chị L còn anh N đang cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 1 tỉnh Phú Thọ. Đồng thời anh N xác định anh không có thu nhập, không có tài liệu gì chứng minh cho yêu cầu xin nuôi con nên anh đồng ý để chị L nuôi dưỡng cả hai con chung. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung, cần giao cả hai con chung là cháu Vũ Ngọc P và cháu Vũ Minh C cho chị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp.
Về cấp dưỡng: Anh N không phải cấp dưỡng nuôi con vì chị L không yêu cầu.
[4]. Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp:
Chị Đỗ Thị Bích L và anh Vũ Minh N đều không đề nghị giải quyết vì vậy chưa giải quyết trong vụ án này.
[5]. Về án phí:
Chị L phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xét đề nghị nêu trên của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Phú Thọ là phù hợp nên cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội;
Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình;
Xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Đỗ Thị Bích L.
Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Đỗ Thị Bích L ly hôn với anh Vũ Minh N.
Về con chung: Giao cho chị Đỗ Thị Bích L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Vũ Ngọc P, sinh ngày 19/9/2012 và cháu Vũ Minh C, sinh ngày 23/02/2019.
Về cấp dưỡng: Anh N không phải cấp dưỡng nuôi con vì chị L không yêu cầu.
Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Chưa giải quyết.
Về án phí: Chị Đỗ Thị Bích L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận chị L đã nộp tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002697 ngày 03/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ.
Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (đã ký) Nguyễn Thị Ngọc Lan |
Bản án số 47/2025/HNGĐ-ST ngày 10/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - PHÚ THỌ về tranh chấp về ly hôn, con chung
- Số bản án: 47/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn, con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
