TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - THANH HÓA Bản án số: 46/2025/HS - ST Ngày 10 tháng 12 năm 2025 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Văn Bắc
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Bản và ông Nguyễn Huy Hoàng
- Thư ký phiên toà: Bà Lữ Thị Hải Vân - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 9 - Thanh Hóa
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Thanh Hoá tham gia phiên toà: Ông Mai Thanh Hải - Kiểm sát viên
Ngày 10 tháng 12 năm 2025, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân khu vực 9 - Thanh Hoá, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 48/2025/TLST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2025/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:
Lê Văn N
- Sinh ngày 02 tháng 8 năm 1993 tại xã N, tỉnh Thanh Hóa;
Nơi cư trú: Thôn N, xã N, tỉnh Thanh Hóa; Số CCCD: 03809301123; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 6/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Văn B, sinh năm 1966; con bà: Phạm Thị N1, sinh năm 1966; vợ: chưa có; tiền sự: Không;
Tiền án 03: Ngày 25/7/2012, bị Tòa án nhân dân huyện Như Xuân xử phạt 15 tháng tù về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Ngày 18/10/2012, bị Tòa án nhân dân huyện Nông Cống xử phạt 06 năm tù về các tội trộm cắp tài sản; cướp giật tài sản và lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Tổng hợp hình phạt với bản án ngày 25/7/2012, Lê Văn N phải chấp hành hình phạt chung của cả 02 bản án là 07 năm 03 tháng tù. Ngày 21/11/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Đông Sơn xử phạt 05 năm 06 tháng tù về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/8/2025 đến nay tại Phân trại tạm giam khu vực N, tỉnh Thanh Hóa. ( có mặt)
* Bị hại: Nguyễn Trọng T - sinh năm 1992; Nơi thường trú: Thôn T, xã T, tỉnh Thanh Hóa. (vắng mặt)
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: anh Bùi Thiên V – sinh năm 1987; Nơi thường trú: Thôn V, xã T, tỉnh Thanh Hóa. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 10 giờ 30 phút ngày 30/7/2025, Lê Văn N, sinh năm 1993, trú tại thôn N, xã N, tỉnh Thanh Hóa đến cửa hàng Đ thuộc thôn V, xã T, tỉnh Thanh Hóa để sửa điện thoại. Tại đây, N nảy sinh ý định lừa lấy điện thoại của bạn mình là Nguyễn Trọng T, sinh năm 1992, trú tại thôn T, xã T, tỉnh Thanh Hóa bán lấy tiền tiêu xài cá nhân nên N nói với anh Bùi Thiên V, chủ cửa hàng điện thoại Vương M là N có nhặt được một chiếc điện thoại Iphone 16 và hỏi anh V nếu bán thì được bao nhiêu tiền, anh V trả lời các máy này đều bị khóa Icloud nên chỉ mua với giá linh kiện.
Sau khi sửa xong điện thoại, N điều khiển xe mô tô BKS: 37L3 - 0453 đến nhà anh T, rủ anh T đi chơi; lợi dụng lúc anh T không để ý, N đã sử dụng chiếc điện thoại Samsung Galaxy A03S của Nghị chụp ảnh điện thoại Iphone 16 Plus của anh T rồi gửi qua zalo cho anh V để hỏi giá, anh V trả lời mua với giá khoảng 5.500.000 đồng đến 6.000.000 đồng. Sau đó, N chở anh T đến quán C2, thuộc thôn H, xã N, tỉnh Thanh Hóa uống bia. Quá trình uống bia, N có rủ 02 người phụ nữ (không rõ thông tin, lai lịch) rồi cùng với anh T đến nhà nghỉ T2 thuộc thôn H, xã N, tỉnh Thanh Hóa thuê phòng 201 và 202 của nhà nghỉ để mua bán dâm.
Đến khoảng 14 giờ 00 phút cùng ngày, N sang phòng của anh T hỏi mượn điện thoại để nghe nhạc, anh T đồng ý đưa chiếc điện thoại Iphone 16 Plus (gắn thẻ sim viettel có số thuê bao 0987111792) cho N, đồng thời cung cấp cho N mật khẩu điện thoại. Sau khi mượn được điện thoại, N tháo sim và đi đến cửa hàng Đ bán chiếc điện thoại của anh T cho anh V với giá 5.500.000 đồng.
Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, do không thấy N trả điện thoại nên anh T sang phòng tìm, thì không thấy N. Anh T đã bắt xe đi về và mượn điện thoại gọi cho N nhưng không liên lạc được, sau đó anh T đến Công an xã N trình báo vụ việc.
Về phía Lê Văn N, sau khi bán được điện thoại, N đi đến nhà nghỉ P thuộc thôn A, xã Q, tỉnh Thanh Hóa thuê phòng nghỉ rồi rủ anh Lê Văn L, sinh năm 1986, trú tại Phố T, xã T, tỉnh Thanh Hóa đến nhà nghỉ. Tại đây, N nhờ anh T1, là chủ nhà nghỉ đặt 02 vé máy bay cho N và anh L đi từ sân bay T, tỉnh Thanh Hóa đến sân bay T, TP Hồ Chí Minh để đi chơi và tìm việc làm. Tuy nhiên, đến ngày 01/8/2025, biết không trốn tránh được pháp luật nên N đã đến trụ sở Công an xã N đầu thú, khai nhận hành vi lừa đảo chiếm đoạt chiếc điện thoại Iphone 16 Plus của anh Nguyễn Trọng T.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 158/KL-HĐĐG, ngày 06/8/2025, Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự tỉnh Thanh Hóa, kết luận: “Giá trị của 01 (một) chiếc điện thoại di động Iphone 16 Plus 128GB màu trắng, số máy: MXVV3VMA, số IMEI1: 352973358591891, số IMEI2: 352973358380287; số seri: DQ955QMP6J là: 18.000.000 đồng; Giá trị một thẻ sim của nhà mạng viettel có số thuê bao: 0987111792 là: 300.000 đồng. Tổng giá trị là: 18.300.000 đồng (mười tám triệu ba trăm nghìn đồng).”
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ 02 tệp video chứa nội dung liên quan đến vụ án, được lưu trữ trong 02 USB do Công an xã N trích xuất từ nhà nghỉ T2 và do anh Bùi Thiên V trích xuất từ camera tại quán điện thoại của mình giao nộp. Tại bản kết luận giám định số 3656/KL-KTHS, ngày 25/9/2025, Phòng K Công an tỉnh T kết luận: “Không tìm thấy dấu vết cắt ghép chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong các tệp video lưu trong các mẫu vật gửi giám định; Trích xuất 06 (sáu) ảnh từ tệp video gửi giám định.”
Sau giám định, 02 USB lưu trữ các tệp video cùng với tài liệu giám định được bảo quản kèm theo vào hồ sơ vụ án.
Tại Bản cáo trạng số 13/CT-VKSNS ngày 12/11/2025, Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Thanh Hóa đã truy tố Lê Văn N về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm d khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 47, khoản 1 Điều 48 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 3; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Đề nghị xử phạt bị cáo Lê Văn N từ 03 năm đến 04 năm tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động Galaxy A03S màu đen, kiểu thiết bị: SM-A03F/DS, số seri: R9YRB03YVPP, số IMEI1: 357774839141792, số IMEI2: 359673489141797. Trả lại cho anh Bùi Thiên V số tiền 3.960.000 đồng bị cáo đã giao nộp cho cơ quan điều tra. Không xem xét buộc bị cáo phải bồi thường cho anh V số tiền còn lại là 1.540.000 đồng. Buộc bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, không tranh luận lại quan điểm luận tội của Đại diện Viện kiểm sát và xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Thanh Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
[2] Phân tích những chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội:
Tại phiên tòa Lê Văn N khai nhận: Xuất phát từ động cơ vụ lợi nên ngày 30/7/2025, tại nhà nghỉ T2 thuộc thôn H, xã N, tỉnh Thanh Hóa, Lê Văn N đã dùng thủ đoạn gian dối, lừa lấy chiếc điện thoại Iphone 16 Plus (bên trong gắn 01 thẻ sim số 0987111792) của anh Nguyễn Trọng T, sinh năm 1992, trú tại thôn T, xã T, tỉnh Thanh Hóa có giá trị là 18.300.000 đồng đem bán lấy tiền tiêu xài cá nhân.
Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và phù hợp với kết luận của đại diện Viện kiểm sát. Mặc dù giá trị tài sản bị cáo lừa đảo chiếm đoạt dưới 50 triệu đồng, nhưng lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Do đó có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo có đủ các dấu hiệu cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.
Đối với anh Bùi Thiên V là người mua chiếc điện thoại Iphone 16 Plus của Lê Văn N lừa đảo đem bán, quá trình điều tra xác định khi mua chiếc điện thoại này, anh V không biết đây là tài sản do N phạm tội mà có, khi biết thông tin về chiếc điện thoại, anh V đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra, nên anh V không phạm tội.
Đối với nội dung Lê Văn N và Nguyễn Trọng T khai báo về việc rủ 02 người phụ nữ ở quán C3 Vườn đến nhà nghỉ T2 để mua dâm vào ngày 30/7/2025, Cơ quan điều tra đã tiến hành rà soát dữ liệu C; làm việc với chủ quán C2, chủ nhà nghỉ T2, cả hai đều không biết sự việc; làm việc với những người có liên quan, hàng xóm xung quanh nhưng không xác định được thông tin, lai lịch của 02 người phụ nữ bán dâm, do đó không có căn cứ xử lý.
[3] Xét tính chất mức độ hành vi và hậu quả thấy rằng: Hiện nay trên địa bàn xã N nói riêng, cũng như trên toàn quốc nói chung, tình trạng lừa đảo chiếm tài sản đang diễn ra khá phức tạp và có chiều hướng gia tăng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, xâm phạm đén quyền sở hữu tài sản của người khác. Hành vi của bị cáo làm cho nhân dân hoang mang, lo sợ. Vì vậy, cần phải tuyên cho bị cáo một hình phạt thật nghiêm và cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
[4] Xét về nhân thân và trách nhiệm hình sự:
- Về nhân thân: Xác minh nhân thân của bị cáo Lê Văn N đã 03 lần bị kết án tù về các tội trộm cắp tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tội cướp giật tài sản vào các năm 2012 và 2019 chưa được xóa án tích. Tuy nhiên, thông tin về năm sinh của bị cáo trong các bản án không thống nhất, tại Bản án số 16/2012/HSST của TAND huyện Như Xuân và Bản án số 55/2012/HSST của TAND huyện Nông Cống, Lê Văn N sinh ngày 02/8/1990, nhưng tại Bản án số 27/2019/HS-ST của TAND huyện Đông Sơn, thì Lê Văn N sinh ngày 02/8/1993. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh, xác định Lê Văn N trong các Bản án nêu trên là cùng một người và theo dữ liệu căn cước công dân, thì Lê Văn N sinh ngày 02/8/1993.
- Tiền sự: không
- Tiền án 03; Ngày 25/7/2012, bị Tòa án nhân dân huyện Như Xuân xử phạt 15 tháng tù về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Ngày 18/10/2012, bị Tòa án nhân dân huyện Nông Cống xử phạt 06 năm tù về các tội trộm cắp tài sản; cướp giật tài sản và lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Tổng hợp hình phạt với bản án ngày 25/7/2012, Lê Văn N phải chấp hành hình phạt chung của cả 02 bản án là 07 năm 03 tháng tù. Ngày 21/11/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Đông Sơn xử phạt 05 năm 06 tháng tù về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo có 03 tiền án, nhưng đây là tình tiết định khung hình phạt. Do đó bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đã đầu thú thành khẩn khai báo hành vi phạm tội và bị cáo đã tự nguyện giao nộp số tiền 3.960.000 đồng để trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, nên bị cáo được áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS, làm tình tiết giảm nhẹ, lượng giảm cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được tính khoan hồng của pháp luật.
[5] Xét về phần hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Xét về vật chứng:
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 16 Plus thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bị hại Nguyễn Trọng T; 01 xe mô tô BKS 37L3-0453 và đăng ký xe mô tô, xe máy số 0191621 thuộc quyền sở hữu hợp pháp của anh Lê Văn C1, sinh năm 1982, trú tại tiểu khu T, xã N, tỉnh Thanh Hóa (là chú họ của Lê Văn N, anh C1 cho N mượn xe để đi làm).
Sau khi xác minh nguồn gốc phương tiện, Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc điện thoại di động Iphone 16 plus cho anh Nguyễn Trọng T và trả lại chiếc xe mô tô trên cho anh Lê Văn C1 theo quy định của pháp luật.
- Đối với 01 điện thoại di động Galaxy A03S màu đen, kiểu thiết bị: SM-A03F/DS, số seri: R9YRB03YVPP, số IMEI1: 357774839141792, số IMEI2: 359673489141797, hiện đang được nhập kho kho Phòng thi hành án dân sự khu vực 9 – Thanh Hóa, theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 12/2026/KV9 ngày 19/11/2025, đây là vật bị cáo dùng để liên hệ tiêu thụ tài sản do bị cáo phạm tội mà có. Do đó cần căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS để tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
[7] Xét về phần bồi thường dân sự:
- Bị hại Nguyễn Trọng T đã nhận lại tài sản là chiếc điện thoại Iphone 16 Plus và đã làm lại thẻ sim điện thoại nên không có yêu cầu, đề nghị gì thêm. Do đó hội đồng xét xử miễn xét.
- Đối với số tiền 3.960.000 đồng bị cáo đã giao nộp cho cơ quan điều tra. hiện đang được nhập kho kho Phòng thi hành án dân sự khu vực 9 – Thanh Hóa, theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 12/2026/KV9 ngày 19/11/2025, đây là số tiền bị cáo có được do bán chiếc điện thoại cho anh V. Anh V đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho anh V số tiền 3.960.000 đồng mà bị cáo đã giao nộp. Vì vậy căn cứ khoản 1 Điều 48 BLHS, điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS để trả lại cho anh Bùi Thiên V số tiền trên.
- Đối với số tiền còn lại là 1.540.000 đồng anh V không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả lại. Do đó Hội đồng xét xử miễn xét.
[8] Xét về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 điều 136 BLTTHS năm 2015; Điều 3; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ: điểm d khoản 2 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 47, khoản 1 Điều 48 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 3; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
2. Tuyên bố: Lê Văn N phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
3. Hình phạt: Xử phạt Lê Văn N 03 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 02/8/2025.
4. Về vật chứng: Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động Galaxy A03S màu đen, kiểu thiết bị: SM-A03F/DS, số seri: R9YRB03YVPP, số IMEI1: 357774839141792, số IMEI2: 359673489141797, hiện đang được nhập kho kho Phòng thi hành án dân sự khu vực 9 – Thanh Hóa, theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 12/2026/KV9 ngày 19/11/2025;
5. Về bồi thường dân sự: Trả lại cho anh Bùi Thiên V 3.960.000 đồng mà bị cáo đã giao nộp cho cơ quan điều tra. hiện đang được nhập kho kho Phòng thi hành án dân sự khu vực 9 – Thanh Hóa, theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 12/2026/KV9 ngày 19/11/2025,
6. Án phí: Bị cáo Lê Văn N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Vắng mặt bị hại. Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niên yết bản án.
Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Văn Bắc |
Bản án số 46/2025/HS - ST ngày 10/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - THANH HÓA về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (hình sự)
- Số bản án: 46/2025/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Văn Ngh có hành vi gian dối để chiếm đoạt 01 điện thoại di động của anh Nguyễn Trọng Th có giá trị 18.300.000đ
