Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 6 - SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2025/HS-ST

Ngày 08 – 12 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thu Trang.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đỗ Thị Chúc, bà Hoàng Thị Mai Hương.

- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Hồng Nhung, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 6 - Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Sơn La tham gia phiên toà: Bà Vì Thị Dung, Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 - Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 61/2025/TLST-HS ngày 20 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 45/2025/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn H; sinh ngày: 28/11/1978 tại phường M, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Tổ dân phố G, phường M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; đảng phái, đoàn thể: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B (đã chết) và bà Đỗ Thị N – sinh năm 1947; có vợ là Lê Thị H1 – sinh năm 1981 (đã ly hôn), có 01 con; tiền án: Không; tiền sự: Không;

Nhân thân:

  • Tại Bản án số 38 ngày 14/9/1996 bị Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng về tội Trộm cắp tài sản (đã được xóa án tích);
  • Ngày 06/8/1998, bị Công an huyện M, tỉnh Sơn La ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp vặt, phạt tiền 50.000 đồng (đã được xóa tiền sự);
  • Tại Bản án số 112/HSST ngày 18/6/1999 bị Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La xử phạt 04 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy (đã được xóa án tích);
  • Tại Bản án số 205/2017/HSST ngày 21/9/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xử phạt 24 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy (đã được xóa án tích);
  • Tại Bản án số 120/2020/HSST ngày 20/8/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xử phạt 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (đã được xóa án tích);

Bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/8/2025 đến nay; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 25/8/2025 Nguyễn Văn H mang theo số tiền 100.000 đồng, đi nhờ xe máy của một người không biết tên từ nhà riêng của H ở tổ dân phố G, phường M đến tổ dân phố T, phường M, tỉnh Sơn La tìm mua ma túy để sử dụng. Khi đi đến tổ dân phố T, H xuống xe đi bộ trên đường dân sinh thì gặp một người đàn ông không quen biết, H đã hỏi và mua được của người đó 03 viên hồng phiến được gói bằng nilon màu trắng với giá 100.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, H đã vào bụi cây ven đường lấy 01 viên hồng phiến ra sử dụng bằng hình thức đốt hít vào cơ thể. Số ma túy còn lại, H gói lại và cất giấu vào túi quần bên trái rồi đi bộ về nhà. Khi H đang đi bộ trên đường dân sinh thuộc tổ dân phố T, phường M thì bị tổ công tác Công an phường M, tỉnh Sơn La kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang, thu giữ, niêm phong gói ma túy H đang cất giấu trong người. Vật chứng thu giữ của Nguyễn Văn H: 01 gói nilon màu trắng bên trong đựng 02 viên nén màu hồng trên bề mặt có ký hiệu “WY” nghi là ma túy, loại Methamphetamine.

Ngày 25/8/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S đã tiến hành Test thử ma túy đối với Nguyễn Văn H; kết quả dương tính với chất ma túy, loại Methamphetamine và H2. Xác minh Nguyễn Văn H không thuộc diện nào theo quy định tại Điều 256a Bộ luật Hình sự.

Ngày 25/8/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S đã tiến hành xác định khối lượng 02 viên nén màu hồng trên bề mặt có ký hiệu “WY” nghi là ma túy thu giữ của Nguyễn Văn H được 0,19 gam, lấy toàn bộ làm mẫu trưng cầu giám định. Mẫu có ký hiệu H3

Tại Kết luận giám định số 1027 ngày 28/8/2025 của phòng K Công an tỉnh S kết luận: Mẫu ký hiệu H gửi giám định là ma túy; Loại Methamphetamine; Khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,19 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,19 gam; Loại Methamphetamine.

Cáo trạng số 60/CT-VKS ngày 18/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Sơn La truy tố bị can Nguyễn Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

* Tại phiên tòa: Bị cáo Nguyễn Văn H trình bày ý kiến giữ nguyên lời khai, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung nào làm thay đổi nội dung vụ án. Bị cáo nhận tội như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát.

* Tranh luận tại phiên tòa:

  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Sơn La giữ nguyên cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và áp dụng các căn cứ pháp luật như sau:
  • + Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025). Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 04 năm 06 tháng đến 05 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  • + Áp dụng khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Về vật chứng của vụ án: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì bên trong đựng 01 mảnh nilon màu trắng.
  • + Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giám, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
  • - Bị cáo Nguyễn Văn H nhất trí với toàn bộ đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
  • * Lời nói sau cùng: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Những người tham gia tố tụng không có ý kiến, khiếu nại về hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan điều tra, số ma túy bị cáo bị tổ công tác Công an phường M thu giữ vào ngày 25/8/2025 có nguồn gốc mua được của một người đàn ông không quen biết với giá 100.000 đồng, mục đích sử dụng cho bản thân. Lời khai của bị cáo không có nội dung gì thay đổi so với lời khai tại cơ quan Cảnh sát điều tra, bị cáo khẳng định việc khai báo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguyện và đúng với hành vi đã thực hiện.

Xét lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang do tổ công tác Công an phường M lập vào hồi 13 giờ 00 phút ngày 25/8/2025; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; biên bản mở niêm phong, cân tịnh xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng; kết luận giám định; lời khai của người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ khác cơ quan điều tra đã thu thập được trong hồ sơ vụ án.

Từ những chứng cứ nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo Nguyễn Văn H là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của việc tàng trữ, sử dụng ma túy. Nhưng do nghiện chất ma túy nên ngày 25/8/2025 bị cáo Nguyễn Văn H đã có hành vi tàng trữ, cất giấu trái phép 0,19 gam Methamphetamine, nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự.

Do hành vi của bị cáo được thực hiện sau 0 giờ 00 phút ngày 01/7/2025, nên áp dụng khoản 18 Điều 1 Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc Hội sửa đổi, bổ sung Điều 249 Bộ luật hình sự, khung hình phạt tù xét xử đối với bị cáo từ 03 năm đến 05 năm.

Vì vậy, Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Sơn La đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thuộc trường hợp nghiêm trọng với lỗi cố ý, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.

[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo. Bị cáo có mẹ đẻ là bà Đỗ Thị N là người có công trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhì. Vì vậy, cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.

Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo có nhân thân rất xấu, có nhiều tiền án về tội phạm ma túy và tội phạm khác nhưng không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà tiếp tục tái nghiện ma túy, dẫn đến có hành vi phạm tội.

[5] Về mức hình phạt áp dụng: Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo, đồng thời mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.

[6] Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, nhưng xét thấy bị cáo làm nghề lao động tự do, thu nhập không ổn định, không có khả năng thi hành nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 phong bì bên trong đựng 01 mảnh nilon màu trắng, xét thấy là vật chứng không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[8] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giám, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[10] Về các vấn đề khác:

Đối với người đàn ông đã cho bị cáo Nguyễn Văn H đi nhờ xe máy và người đàn ông đã bán ma túy cho Nguyễn Văn H, quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra không có căn cứ để điều tra, làm rõ và xử lý. Buộc Nguyễn Văn H phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về số ma túy đã bị thu giữ.

Thời hạn tạm giam đối với bị cáo còn lại dưới 45 ngày, do đó Hội đồng xét xử ra quyết định tạm giam bị cáo để bảo đảm cho việc thi hành án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh và hình phạt:
  2. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025):

    Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù.

    Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 25/8/2025.

    Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

  3. Về xử lý vật chứng của vụ án:
  4. Căn cứ khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì bên trong đựng 01 mảnh nilon màu trắng (Theo Biên bản giao nhận vật chứng số: 51/BBVC-THA ngày 20/11/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 6 - Sơn La).

  5. Về án phí:
  6. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giám, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng chẵn).

  7. Về quyền kháng cáo:
  8. Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 08/12/2025).

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La;
  • - VKSND tỉnh Sơn La;
  • - Công an tỉnh Sơn La;
  • - VKSND khu vực 6 – Sơn La;
  • - Phòng THADS khu vực 6 - Sơn La;
  • - Trại giam Công an tỉnh;
  • - THAHS;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: Hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Đỗ Thị Thu Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 44/2025/HS-ST ngày 08/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 44/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger