Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2025/HNGĐ-PT.

Ngày: 27 - 11 - 2025.

Về việc: "Ly hôn, chia tài sản chung".

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Gia Lương.

Các thẩm phán: Bà Vương Thị Hà.

Bà Hoàng Thị Hải Hường.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Vân - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh: Ông Đặng Thanh Minh ngày 27/11/2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 65/2025/TLPT- HNGĐ ngày 29/10/2025 về việc: "Ly hôn, chia tài sản chung".

Do bản án Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm số: 51/2025/HNGĐ-ST ngày 17/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3, tỉnh Bắc Ninh, bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 59/2025/QĐ-PT ngày 07/11/2025: giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Ngô Văn T, sinh năm 1975 (Có mặt).
  2. Nơi thường trú: Thôn M, xã Y, tỉnh Bắc Ninh.

    (Ông T không mời Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình tại cấp phúc thẩm).

  3. Bị đơn: Bà Hà Thị L, sinh năm 1980 (Có mặt).
  4. Nơi thường trú: Thôn M, xã Y, tỉnh Bắc Ninh.

  5. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập:
  6. - Ông Ngô Trọng T1, sinh năm 1983 (Có mặt).

    Nơi thường trú: Thôn M, xã Y, tỉnh Bắc Ninh.

    - Anh Đào Xuân H (tên gọi khác: Ngô Xuân H1), sinh năm 1997 ( Có mặt).

    Nơi thường trú: Thôn M, xã Y, tỉnh Bắc Ninh.

  7. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
  8. Cụ Ngô Xuân T2, sinh năm 1954 (Có mặt).

    Cụ Nguyễn Thị B, sinh năm 1952 (Có mặt).

    Anh Ngô Xuân D, sinh năm 2007 (Vắng mặt).

    Đều thường trú: Thôn M, xã Y, tỉnh Bắc Ninh.

    Chị Ngô Thị H2, sinh năm 2000 (Vắng mặt).

    Nơi thường trú: thôn C, xã H, tỉnh Bắc Ninh.

    Chị Ngô Thị H3, sinh năm 2002 (Vắng mặt).

    Nơi thường trú: thôn H, xã P, tỉnh Bắc Ninh.

    Bà Hà Thị Thanh H4, sinh năm 1988 (Vắng mặt).

    Nơi thường trú: Thôn M, xã Y, tỉnh Bắc Ninh.

    Người đại diện theo uỷ quyền của bà H4: ông Ngô Trọng T1, sinh năm 1983 (Có mặt).

    Nơi thường trú: Thôn M, xã Y, tỉnh Bắc Ninh.

    - Ủy ban nhân dân xã Y, tỉnh Bắc Ninh: Người đại diện hợp pháp: ông Trần Quốc C- Phó Trưởng Phòng kinh tế xã Y, ông Mai Nhất H5- Chuyên viên Phòng kinh tế xã Y đại diện theo uỷ quyền, văn bản uỷ quyền số 131 ngày 23/7/2025 (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các lời khai tiếp theo, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn ông Ngô Văn T trình bày:

Ông và bà Hà Thị Liên kết H6 ngày 05/01/1999, ông bà được tự do tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện Y, tỉnh Bắc Giang (nay là xã Y, tỉnh Bắc Ninh). Sau khi kết hôn, cuộc sống vợ chồng ban đầu hoà thuận, hạnh phúc. Thời gian gần đây kể từ sau khi ông bị tai nạn lao động thì vợ chồng bất đồng quan điểm, bà L coi thường ông thậm trí còn bóp cổ ông. Nay ông xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông đề nghị Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà L.

Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung là Ngô Thị H2, sinh năm 2000, Ngô Thị H3, sinh năm 2002 và Ngô Xuân D, sinh ngày 02/02/2007. Hiện con đã trưởng thành ông không yêu cầu giải quyết, ngoài ra ông có một con riêng là Đào Xuân H, sinh năm 1997 đã trưởng thành, đang ở với ông không có yêu cầu gì.

Về tài sản chung: Ông xác định diện tích đất thửa số 92 tờ bản đồ số 25 diện tích 604m² trong đó 400m² đất ở và 204m² đất vườn, địa chỉ tổ dân phố M, thị trấn P, huyện Y, tỉnh Bắc Giang (nay là Thôn M, xã Y, tỉnh Bắc Ninh) được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 20/12/2001 cho hộ gia đình ông là tài sản chung của gia đình ông. Vợ chồng ly hôn, ông đề nghị chia diện tích đất làm 3 phần cho ông, bà L và anh H. Do hiện nay ông bị bệnh không có khả năng lao động nên ông đề nghị chia cho ông phần đất giáp đất của bố mẹ ông có nhà 2 tầng để ở và thuận lợi cho việc đi lại với bố mẹ ông.

Trên diện tích đất có 01 nhà cấp bốn xây năm 2006, nhà bếp, mái tôn trước nhà cấp bốn, giếng đào, nhà tắm; ông và bà L thoả thuận giá là 2.000.000 đồng trên diện tích đất là tài sản do ông và bà L tôn tạo, các tài sản trên ông đề nghị chia đôi tài sản trên cho ông và bà L.

Đối với nhà 02 tầng, bếp xây dựng năm 2016 là tài sản do ông, bà L và anh H tôn tạo, ông đề nghịa chia làm 3 cho ông, bà L và anh H. Đối với cây cối lâm lộc và các công trình khác trên diện tích đất không định giá thuộc phần đất của ai được chia thì người đó được sử dụng.

Đối với 02 xe máy, 01 bộ bàn ghế, 01 tủ lạnh, 01 phản gỗ, 01 ti vi Sony, 01 kệ ti vi, 01 điều hoà và các vật dụng khác trong nhà tự thoả thuận ông không yêu cầu Toà án giải quyết.

Ngoài ra vợ chồng ông còn có số tiền 413.000.000 đồng bà L gửi Ngân hàng N Chi nhánh huyện Y đã rút về. Số tiền này ông xác định là tài sản chung của ông, bà L và anh H tích góp được. Đến nay, ông đề nghị chia số tiền trên cho ông, bà L và anh H.

Về nghĩa vụ chung về tài sản: xác định ông và bà L còn nợ vợ chồng ông T1, bà H2 số tiền 12.000.000 đồng, ông đồng ý, ông và bà L mỗi người phải chịu ½ số nợ trên.

* Tại bản tự khai, biên bản ghi lời khai và tại phiên tòa sơ thẩm bị đơn bà Hà Thị L trình bày:

Bà và ông Ngô Văn T kết hôn năm 1999, ông bà được tự do tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện Y, tỉnh Bắc Giang (nay là xã Y, tỉnh Bắc Ninh). Trước khi bà và ông T kết hôn thì ông T có một con chung là Đào Xuân H (tên gọi khác Ngô Xuân H1) Sau khi kết hôn, bà về làm dâu nhà ông T, cuộc sống vợ chồng ban đầu hoà thuận, hạnh phúc. Đến ngày 10/10/2004 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân mâu thuẫn là từ sau khi cưới con Ngô Xuân H1 thì bà và ông T bất đồng trong công việc nên đã xảy ra cãi, đánh nhau. Ông T sang nhà bố mẹ đẻ ở và vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay. Ông T làm đơn xin ly hôn, bà cũng đồng ý.

Về con chung: Ông bà có 03 con chung như ông T khai, hiện con đã trưởng thành bà không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản chung: Bà xác định thửa số 92 tờ bản đồ số 25 diện tích 604m² trong đó 400m² đất ở và 204m² đất vườn, địa chỉ tổ dân phố M, thị trấn P, huyện Y, tỉnh Bắc Giang (nay là Thôn M, xã Y, tỉnh Bắc Ninh) được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 20/12/2001 cho hộ gia đình ông Ngô Văn T là tài sản chung của gia đình gồm có vợ chồng bà, anh H1 và chị H2. Vợ chồng ly hôn, bà đề nghị chia diện tích đất cho bà và ông T. Trường hợp Toà án chia cho anh H1 thì bà đề nghị chia cho cả chị H2, bà đề nghị chia cho bà phần diện tích có nhà 2 tầng để ở. Trường hợp chị H2 được chia đất hay giá trị quyền sử dụng đất, chị H2 đã có ý kiến giao cho bà sử dụng nên bà đồng ý nhận phần của chị H2 được chia.

Trên diện tích đất có 01 nhà cấp bốn xây năm 2006, nhà bếp, mái tôn trước nhà cấp bốn, giếng đào, nhà tắm trên diện tích đất; bà và ông T thoả thuận giá là 2.000.000 đồng là tài sản do bà và ông T tôn tạo, bà đề nghị chia đôi tài sản trên.

Đối với nhà 02 tầng, bếp xây dựng năm 2016 là tài sản do ông T, bà và anh H1 tôn tạo, bà đề nghịa chia theo quy định của pháp luật.

Đối với C1 và một số công trình trên diện tích đất thuộc phần đất của ai được chia thì người đó được sử dụng.

Đối với 02 xe máy, 01 bộ bàn ghế, 01 tủ lạnh, 01 phản gỗ, 01 ti vi Sony, 01 kệ ti vi, 01 điều hoà và các vật dụng khác trong nhà tự thoả thuận bà không yêu cầu Toà án giải quyết.

Đối với số tiền 413.000.000 đồng bà gửi Ngân hàng N Chi nhánh huyện Y đến ngày 19/02/2025 bà đã rút về để chi tiêu cụ thể các khoản sau: Chi đi khám bệnh đa khoa Yên thế 3.000.000 đồng; khám và điều trị bệnh ở bệnh viện Đ 2 đợt từ 10/4 và 15/5/2024: 4.000.000 đồng; chi mua thuốc bên ngoài và tiền ăn 22.000.000 đồng; chi bệnh viện 108 từ 16/6/2024 khám + xe đi lại + thuốc: 4.000.000 đồng; chi điều trị tại bệnh viện P1 từ ngày 16/5 đến ngày 6/6/2024: 4.000.000 đồng; chi đám cưới cho Ngô Thị H3 tháng 8/ 2023: 70.000.000 đồng; mua xe SH cho H3: 73.000.000 đồng; mua 4 chỉ vàng cho H3: 28.000.000 đồng; chi đám cưới cho Ngô Xuân H1 tháng 10/2024: 80.000.000 đồng. Số tiền còn lại mua thuốc, ăn uống và chi tiêu đến nay không còn nên không đồng ý chia theo yêu cầu của ông T.

Về nghĩa vụ: Bà và ông T còn nợ vợ chồng ông T1, bà H2 số tiền 12.000.000 đồng, bà đồng ý bà và ông T mỗi người phải chịu ½ số nợ trên.

* Tại bản tự khai và lời khai tiếp theo anh Ngô Xuân H1 (tên gọi khác Đào Xuân H) là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập trình bày:

Anh là con riêng của ông Ngô Văn T, khi bố mẹ anh ly hôn thì anh về ở cùng với ông nội là Ngô Xuân T2. Sau khi bố anh kết hôn với bà L thì anh về chung sống cùng ông T và bà L. Trong quá trình chung sống anh đi làm công ty từ năm 2016 đến năm 2022 về nhà có đưa tiền cho bà L để xây dựng tôn tạo các công trình trên đất, cụ thể khi gia đình xây dựng ngôi nhà 02 tầng, bếp xây dựng năm 2016. Anh xác định số tiền bà L gửi tiết kiệm thì anh cũng đưa tiền để bà L có tiền tích góp gửi tiết kiệm. Đến nay, anh đề nghị chia cho anh một phần diện tích đất để anh lấy chỗ làm nhà. Trường hợp mà Hội đồng xét xử chia cho bố anh diện tích đất để lấy chỗ ở thì anh không đề nghị chia đất, anh đề nghị chia cho anh 1 số tiền gửi tiết kiệm. Đối với quyền sử dụng đất và công sức tôn tạo ngôi nhà 2 tầng, nhà bếp năm 2016, anh đề nghị chia theo quy định của pháp luật.

* Tại bản tự khai và các lời khai tiếp theo ông Ngô Trọng T1 là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập và người đại diện theo uỷ quyền của bà Hà Thị Thanh H4 trình bày:

Số tiền ông T, bà L vay anh 12.000.000 đồng, trong đó 7.000.000 đồng vay làm cửa xếp, 5.000.000 đồng vay làm nhà năm 2016 là tài sản của vợ chồng ông, ông đề nghị ông T và bà L phải có trách nhiệm trả cho vợ chồng ông số tiền vay, ông không yêu cầu ông T và bà L phải trả tiền lãi. Đối với số tiền vay 165.000.000 đồng thì ông và ông T tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại bản tự khai bà Hà Thị Thanh H4 trình bày: Vợ chồng bà có cho vợ chồng ông T, bà L vay số tiền 12.000.000 đồng, hiện nay vợ chồng ông T, bà L ly hôn, bà yêu cầu vợ chồng ông T, bà L phải trả số tiền 12.000.000 đồng, bà không yêu cầu trả tiền lãi.

* Tại bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cụ Ngô Xuân T2, cụ Nguyễn Thị B trình bày:

Nguồn gốc diện tích đất mà ông T, bà L đang sử dụng là do vợ chồng cụ cho vợ chồng ông T. Đến năm 2001, diện tích đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 92 tờ bản đồ số 25 diện tích 604m² trong đó 400m² đất ở và 204m² đất vườn, địa chỉ tổ dân phố M, thị trấn P, huyện Y, tỉnh Bắc Giang (nay là thôn M, xã Y, tỉnh Bắc Ninh).

Năm 2016, vợ chồng ông T làm nhà 2 tầng và làm liền kề thửa đất của vợ chồng cụ nên vợ chồng cụ có cho ông T khoảng 70m² để làm móng nhà cho được hướng. Đến nay, ông T và bà L ly hôn thì vợ chồng cụ đồng ý cho diện tích đất nêu trên cho ông T mà không cho bà L. Ngày 18/3/2025 gia đình cụ gồm có vợ chồng cụ và ông T1 đã làm thủ tục cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ bìa đỏ sang bìa hồng. Đối với diện tích đất đã cho ông T làm nhà năm 2016 thì không có phần diện tích đất này trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp ngày 18/3/2025 vì giấy chứng nhận quyền sử dụng cấp năm 2025 là theo hiện trạng sử dụng hiện nay.

* Tại bản tự khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Ngô Thị H2 trình bày:

Đối với diện tích đất 604m² thửa số 92 tờ bản đồ số 25, địa chỉ tổ dân phố M, thị trấn P, huyện Y, tỉnh Bắc Giang (nay là Thôn M, xã Y, tỉnh Bắc Ninh) được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên hộ ông Ngô Văn T năm 2001, hiện nay bố mẹ chị đang yêu cầu chia diện tích đất nêu trên. Trường hợp chị có quyền với diện tích đất này và được chia thì chị sẽ giao cho mẹ chị, mẹ chị có toàn quyền quyết định đối với diện tích đất mà chị được chia. Đối với tài sản trên đất và số tiền gửi Ngân hàng chị xác định không đóng góp gì nên chị không yêu cầu phải trích chia cho chị tài sản trên đất và số tiền tiết kiệm gửi ngân hàng.

* Tại bản tự khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Ngô Thị H3, anh Ngô Xuân D trình bày:

Hiện nay bố mẹ các anh chị giải quyết ly hôn, chia tài sản khi ly hôn, các anh chị không có công sức đóng góp gì vào khối tài sản của gia đình nên các anh chị không có ý kiến và yêu cầu chia tài sản cho các anh chị trong vụ án.

* Tại văn bản trình bày ý kiến đại diện của Ủy ban nhân dân xã Y, tỉnh Bắc Ninh trình bày:

Hộ gia đình ông Ngô Văn T, được Ủy ban nhân dân (viết tắt là UBND) huyện Y cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số vào sổ cấp giấy chứng nhận 01747 cấp ngày 20/12/2001, tại thửa đất số 092, tờ bản đồ số 25, diện tích 604m² trong đó: Đất ở 400m², đất vườn 204m²; Nguồn gốc sử dụng là nhận tặng cho của bố mẹ đẻ ông T là cụ Nguyễn Xuân T3 và cụ Nguyễn Thị B năm 1999 và đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu năm 2001; Theo hồ sơ lưu trữ của xã P, hồ sơ kê khai đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu của hộ ông Ngô Văn T không có giấy tờ về việc tặng cho quyền sử dụng đất kèm theo; Trình tự thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được thiết lập và xét duyệt theo đúng quy định của Luật Đất đai năm 1993; Khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Ngô Văn T đã thực hiện việc đo đạc tách thửa theo đúng quy định các hộ liền kề đã ký xác nhận trong biên bản mô tả mốc giới, ranh giới; Từ năm 2001 cho đến nay thửa đất trên đã được đo đạc lập bản đồ địa chính năm 2019 cụ thể là thửa đất số 104, tờ bản đồ địa chính số 13, diện tích 761,8m², loại đất ONT + CLN.

Về diện tích ghi trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 604m², diện tích đo đạc hiện trạng là 706m², diện tích tăng là 102m². Diện tích tăng có một số nguyên nhân: Do hai phương pháp đo và tính diện tích khác nhau năm 1999 đo đạc tách thửa, tính diện tích bằng phương pháp thủ công do vậy độ chính xác không cao. Hiện nay đo đạc bằng công nghệ GPS có độ chính xác cao do vậy diện tích sẽ chính xác hơn; Diện tích tăng thêm có thể do thỏa thuận trao đổi giữa các chủ sử dụng đất liền kề trong quá trình sử dụng đất từ năm 1999 cho đến nay. Quá trình sử dụng đất hộ ông Ngô Văn T từ năm 1999 đến nay, hộ ông T sử dụng đất ổn định không có tranh chấp với các hộ sử dụng đất liền kề, không lấn chiếm đất công. Đề nghị Tòa án Nhân dân khu vực 3- Bắc Ninh giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.

Với nội dung nêu trên, bản án Hôn nhân & Gia đình sơ thẩm số: 51/2025/HNGĐ-ST ngày 17/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3, tỉnh Bắc Ninh, đã quyết định:

Căn cứ khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 28; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 3 Điều 144; khoản 1 Điều 146; khoản 4 Điều 147; Điều 157, khoản 1 Điều 158, khoản 2 Điều 165, khoản 1 Điều 166; Điều 227; khoản 1, khoản 2 Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Điều 357; Điều 463; khoản 1 Điều 466; khoản 2 Điều 468; khoản 1 Điều 469 Bộ luật Dân sự;

Khoản 2 Điều 27; khoản 2 Điều 37; Điều 55; Điều 59; Điều 60; Điều 62 Luật Hôn và Gia đình;

Khoản 2 Điều 26; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn ông Ngô Văn T và bà Hà Thị L.
  2. Chấp nhận yêu cầu chia tài sản chung của nguyên đơn ông Ngô Văn T và yêu cầu độc lập của anh Ngô Xuân H1.
    • - Chia cho ông Ngô Văn T được sử dụng diện tích đất 414,7m², trong đó 200m² đất ở nông thôn trị giá là 200m² x 1.500.000 đồng/m² = 300.000.000 đồng và 214,7m² đất trồng cây lâu năm (đất vườn) trị giá là 214,7m² x 55.000 đồng/m² = 11.808.500 đồng tại thửa số 92, tờ bản đồ số 25, địa chỉ: thôn M, xã Y, tỉnh Bắc Ninh là hình 12-13-3-4-5-6-7-8-9-10-11-12-13 (có sơ đồ kèm theo). Giao cho ông Ngô Văn T được sở hữu, sử dụng tài sản trên diện tích đất được chia gồm có: [nhà 2 tầng = 317.261.000 đồng; nhà bếp loại A = 3.564.000 đồng; 01 giếng đào = 1.980.000 đồng; nhà tắm =2.000.000 đồng] = 324.805.000 đồng. Tổng giá trị tài sản được quản lý sở hữu và sử dụng là 636.613.500 đồng.
    • - Chia cho bà Hà Thị L được sử dụng diện tích đất 291,3m², trong đó 200m² đất ở nông thôn trị giá là 200m² x 1.500.000 đồng/m² = 300.000.000 đồng và 91,3m² đất trồng cây lâu năm (đất vườn) trị giá là 91,3m² x 55.000 đồng/m² = 5.021.500 đồng tại thửa số 92, tờ bản đồ số 25, địa chỉ: thôn M, xã Y, tỉnh Bắc Ninh là hình 13-1-2-3-13-1 (có sơ đồ kèm theo). Giao cho bà Hà Thị L được sở hữu, sử dụng tài sản trên diện tích đất được chia gồm có: [nhà cấp bốn = 51.615.000 đồng + 01 nhà bếp = 2.293.000 đồng + mái tôn = 2.268.000 đồng] = 56.176.000 đồng.
    • Giao cho bà Hà Thị L được sử dụng số tiền chị Ngô Thị H2 được chia là 90.000.000 đồng.
    • Tổng giá trị tài sản bà Hà Thị L được quản lý, sở hữu và sử dụng là 616.990.500 đồng.
    • - Ông Ngô Văn T phải trích chia cho anh Ngô Xuân H1 (tức Đào Xuân H) số tiền 32.793.000 đồng. Bà Hà Thị L phải trích chia cho anh Ngô Xuân H1 (tức Đào Xuân H) số tiền 157.207.000 đồng.
  3. Chấp nhận yêu cầu cầu độc lập của ông Ngô Trọng T1:
    • - Ông Ngô Văn T phải có trách nhiệm trả cho ông Ngô Trọng T1 và bà Hà Thị Thanh H4 số tiền là: 6.000.000 đồng. Bà Hà Thị L phải có trách nhiệm trả cho ông Ngô Trọng T1 và bà Hà Thị Thanh H4 số tiền là: 6.000.000 đồng.

Ngoài ra bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, quyền yêu cầu thi hành án, lãi suất chậm thi hành án và quyền kháng cáo cho các bên đương sự.

Ngày 29/9/2025, bà Hà Thị L là bị đơn kháng cáo một phần bản án sơ thẩm về chia tài sản chung, bà đề nghị chia cho bà được sử dụng đất và tài sản trên đất là nhà ở 02 tầng và các công trình trên đất. Đối với số tiền 413.000.000 đồng gửi tiết kiệm đã rút ra chi tiêu hết nên không còn để phân chia.

Tại phiên toà phúc thẩm, ông Ngô Văn T là nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, bà Hà Thị L là bị đơn không rút kháng cáo, các đương sự không tự thoả thuận được với nhau về giải quyết vụ án.

Bà Hà Thị L trình bày: Về đất ở Tòa sơ thẩm giao cho ông T sử dụng phần diện tích đất có ngôi nhà 02 tầng và các công trình khác trên đất, bà đề nghị giao cho bà sử dụng phần diện tích đất của ông T để bà và con trai sở hữu, sử dụng. Phần diện tích đất Tòa sơ thẩm giao cho bà và công trình trên đất đề nghị giao cho ông T sử dụng. Đối với số tiền 413.000.000 đồng gửi tiết kiệm bà đã rút ra khi ông T có đơn ly hôn bà, bà dùng để trả nợ, chữa bệnh cho ông T và chi tiêu hết nên không còn để phân chia.

Ông Ngô Văn T trình bày: Ông không nhất trí với kháng cáo của bà L về các nội dung như bà trình bày, ông đồng ý với bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân khu vực 3, tỉnh Bắc Ninh đã xét xử.

Bà Hà Thị L tranh luận: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo của bà.

Ông Ngô Văn T tranh luận: Ông đồng ý như nội dung Quyết định của bản án sơ thẩm, không tranh luận gì thêm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã được đảm bảo đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 BLTTDS xử: Không chấp nhận kháng cáo của bà Hà Thị L; giữ nguyên bản án sơ thẩm số: 51/2025/HNGĐ-ST ngày 17/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3, tỉnh Bắc Ninh.Về án phí: Do kháng cáo của bà Hà Thị L không được chấp nhận nên bà L phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến tranh luận tại phiên toà. Sau khi nghe ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ vợ chồng: Ông Ngô Văn T và bà Hà Thị Liên kết H6 ngày 05/01/1999 tại Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện Y, tỉnh Bắc Giang (nay là xã Y, tỉnh Bắc Ninh). Trước khi kết hôn có được tự do tìm hiểu, tự nguyên đi đến hôn nhân, không bị ai ép buộc nên là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận. Sau khi kết hôn, ông bà đã có thời gian chung sống hạnh phúc. Đến tháng 10/2024 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân vợ chồng mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống và trong sinh hoạt hàng ngày nên vợ chồng xảy ra cãi, đánh nhau. Từ tháng 10/2024, vợ chồng sống ly thân, không quan tâm, chăm sóc nhau ông T có đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với bà L. Do đó, Tòa cấp sơ thẩm quyết định cho ông T được ly hôn với bà L là có cơ sở. Về nội dung này các đương sự không kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[2]. Xét kháng cáo của bà Hà Thị L được sử dụng phần diện tích đất có tài sản trên đất là nhà ở 02 tầng và các công trình trên đất, Hội đồng xét xử thấy:

Thửa đất số 92, tờ bản đồ số 25, diện tích 604m² trong đó: Đất ở 400m2, đất vườn 204m²; Nguồn gốc sử dụng là của bố mẹ đẻ ông T là cụ Nguyễn Xuân T3 và cụ Nguyễn Thị B, sau khi bà Liên kết H6 với ông T thì được cụ T3 và cụ B cho. Ngày 20/12/2001, hộ gia đình ông Ngô Văn T, được UBND huyện Y cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì hộ gia đình ông T có các thành viên là ông T, bà L, anh H và chị H4. Diện tích đất diện tích 604m² trong đó: Đất ở 400m², đất vườn 204m² tại thửa số 92, tờ bản đồ số 25, địa chỉ: tổ dân phố M, thị trấn P, huyện Y, tỉnh Bắc Giang (nay là Thôn M, xã Y, tỉnh Bắc Ninh). Năm 2001 cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu cho hộ ông Ngô Văn T không có giấy tờ nào về việc tặng cho quyền sử dụng đất kèm theo về việc cụ T3, cụ B tặng cho ông T. Vì vậy, xác định quyền sử dụng đất thửa đất trên thuộc quyền sử dụng của hộ gia đình ông T gồm có các thành viên hộ gia đình là ông T, bà L, anh H và chị H4.

Căn cứ kết quả đo đạc ngày 04/4/2025 diện tích đất gia đình ông T thực tế đang sử dụng có diện tích là 706m² tăng so với diện tích trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp năm 2001 cho hộ ông Ngô Văn T là 102m². Các đương sự đều thừa nhận phần diện tích đất tăng lên là sau khi hộ ông T được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2001 diện tích 604m². Đến năm 2016, vợ chồng ông T làm nhà thì gia đình cụ T3 có cho vợ chồng ông T một phần đất để làm nhà cho được hướng nhà. Quá trình giải quyết và tại phiên toà cụ T3, cụ B, ông T1 đồng ý cho diện tích đất để vợ chồng ông T làm móng nhà năm 2016. phần diện tích này chỉ cho ông T không cho bà L. Xét thấy, năm 2016 khi vợ chồng ông T, bà L còn chung sống với nhau thì gia đình cụ T3 đều nhất trí cho vợ chồng ông T một phần đất, vợ chồng ông T đã san lấp để xây dựng nhà, sau khi vợ chồng ông T làm nhà đã sử dụng ổn định không có tranh chấp. Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện hộ cụ Ngô Xuân T2 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 1578m² trong đó đất ở 400m², đất vườn 1178m². Đến ngày 18/3/2025 cụ Ngô Xuân T2, cụ Nguyễn Thị B, ông Ngô Trọng T1 được cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 1530,6m² trong đó Đất ở 400m², đất vườn 1130,6m² tại thửa số 552, tờ bản đồ số 13, địa chỉ: tổ dân phố M, thị trấn P, huyện Y, tỉnh Bắc Giang (nay là Thôn M, xã Y, tỉnh Bắc Ninh). Kể từ khi gia đình cụ T2 cho vợ chồng ông T đất để xây dựng nhà thì vợ chồng ông T chưa làm thủ tục cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo hiện trạng sử dụng. Diện tích đất tăng là do hiện nay đo đạc chính xác hơn, quá trình sử dụng đất của hộ ông T từ năm 1999 cho đến nay sử dụng ổn định, không có tranh chấp với các hộ liền kề hoặc lấn chiếm đất công. Như vậy phải xác định diện tích đất đo đạc hiện nay 706m², trong đó 400m² đất ở 306m² đất vườn là tài sản chung của hộ gia đình ông T nên cần chia diện tích đất trên cho các thành viên hộ gia đình.

Xét yêu cầu chia bằng hiện vật của ông T, bà L và anh H: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà anh Ngô Xuân H1 đề nghị Toà án xem xét chia cho anh một phần đất để anh lấy chỗ làm nhà. Trường hợp Toà án chia cho ông T đất thì anh đề nghị chia cho anh bằng tiền. Chị H4 có ý kiến phần quyền sử dụng đất được chia chị đề nghị giao cho bà L. Quá trình giải quyết và tại phiên toà ông T đề nghị chia cho ông ngôi nhà 2 tầng phần diện tích sát với đất của bố mẹ ông còn chia cho bà L phần diện tích đất có nhà cấp bốn. Bà L đề nghị chia cho bà P diện tích đất có ngôi nhà 2 tầng để lấy chỗ ở.

Xét thấy: Về nguồn gốc diện tích đất các đương sự đều thừa nhận là của bố mẹ ông T là cụ T2 và cụ B cho vợ chồng ông T năm 1999. Năm 2001, hộ ông Ngô Văn T được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích đất nêu trên. Tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất anh H1 mới 4 tuổi, chị H4 gần 1 tuổi nên phần đóng góp công sức vào việc tôn tạo diện tích đất không đáng kể. Do phần diện tích hiện nay mang tên hộ ông T được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2001 nguồn gốc là của bố mẹ ông T cho năm 1999, hơn nữa ông T sau khi bị tai nạn lao động sức khỏe yếu, không làm được việc nặng, kinh tế, thu nhập bị giảm sút. Vì vậy cần chia cho ông T phần đất nhiều hơn bà L và trích chia cho anh H1, chị H4 một phần bằng tiền.

Ông T và bà L ly hôn đều đề nghị được chia bằng đất để lấy chỗ ở, Tòa sơ thẩm căn cứ vào nguồn gốc thửa đất, công sức đóng góp của các bên, hiện ông T bị bệnh, không làm được việc nặng nên chia cho ông T phần đất sát với vị trí đất của cụ T2 và cụ B có ngôi nhà 2 tầng là phù hợp nên không có căn cứ chấp nhận nội dung kháng cáo này của bà L.

[3]. Xét kháng cáo của bà Hà Thị L đối với số tiền 413.000.000 đồng gửi tiết kiệm đã rút ra chi tiêu hết nên không còn để phân chia, Hội đồng xét xử thấy:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án, bản sao kê tài khoản tiền gửi tại ngân hàng A chi nhánh Y, Bắc Giang II cung cấp từ ngày 01/01/2020 đến ngày 13/03/2025 bà Hà Thị L đã mở và đóng tài khoản tiền gửi tổng là 23 số tài khoản, trong đó có 4 lần mở tài khoản và đóng tài khoản, cụ thể:

  • - Ngày gửi tiền là 19/4/2024 - ngày đến hạn là 19/4/2025, số tiền gửi: 110.000.000 đồng, ngày đóng tài khoản là 19/02/2025;
  • - Ngày gửi tiền là 02/8/2024 - ngày đến hạn là 02/8/2025, số tiền gửi: 60.000.000 đồng, ngày đóng tài khoản là 19/02/2025;
  • - Ngày gửi tiền là 21/8/2024 - ngày đến hạn là 21/8/2025, số tiền gửi: 117.000.000 đồng, ngày đóng tài khoản là 19/02/2025;
  • - Ngày gửi tiền là 03/02/2025 - ngày đến hạn là 03/02/2026, số tiền gửi: 126.000.000 đồng, ngày đóng tài khoản là 19/02/2025;

Tổng số tiền bà L rút ngày 19/02/2025 là 413.000.0000 đồng tiền gửi.

Trong quá trình giải quyết vụ án, ông T xác định số tiền gửi tiết kiệm là 470.000.000 đồng, ông đề nghị chia làm 3 phần cho ông, bà L và anh H1. Bà L xác định số tiền gửi tiết kiệm 400.000.000 đồng nhưng đã dùng vào việc chữa bệnh cho ông T, mua xe cho chị H3, tổ chức đám cưới cho chị H3 và anh H1 còn lại dùng vào việc chi tiêu trong gia đình đã hết số tiền gửi tiết kiện. Tại phiên toà sơ thẩm, ông T xác định số tiền bà L gửi tiết kiệm tại Ngân hàng N - Chi nhánh huyện Y 413.000.000 đồng và đề nghị chia số tiền trên làm 3 phần cho ông, bà L và anh H1. Căn cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện ngày 24/01/2025 ông T nộp đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn, chia tài sản chung và nghĩa vụ chung của vợ chồng khi ly hôn. Ngày 13/02/2025, Toà án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang (nay là Toà án nhân dân khu vực 3, tỉnh Bắc Ninh) thụ lý vụ án số 22 ngày 13/02/2025. Đến ngày 19/02/2025 bà L đã rút 4 lần tiền gửi tiết kiệm vào ngày 19/02/2025 với tổng số tiền là 413.000.000 đồng.Bà L xác định ngày 19/02/2025 bà có rút 4 lần với tổng số tiền 413.000.000 đồng tiền gửi tiết kiệm nhưng sau khi rút tiền về thì bà đã trả nợ cho các khoản nợ vợ chồng vay trước đây. Tuy nhiên, bà L không cung cấp tài liệu gì chứng minh về việc sử dụng số tiền rút tại ngân hàng ngày 19/2/2025. Như vậy, số tiền bà L rút tại ngân hàng sau khi Toà án đã thụ lý vụ án xác định là tài sản chung của vợ chồng ông T và bà L và anh H1. Theo như tài liệu có trong hồ sơ vụ án từ năm 2020 đến năm 2024 bà L đã 23 lần mở tài khoản tại ngân hàng vào các thời điểm khác nhau. Số tiền 413.000.000 đồng được bà L gửi tiết kiệm vào năm 2024. Tòa sơ thẩm xác định nguồn tiền chủ yếu là của ông T và bà L nên ông T và bà L sẽ được chia phần nhiều hơn và trích chia cho anh H1 số tiền 50.000.000 đồng, ông T và bà L mỗi người ½ số tiền còn lại là 181.500.000 đồng là phù hợp.

[4]. Tại cấp phúc thẩm, bà Hà Thị L không xuất trình được các tài liệu chứng cứ gì mới để chứng minh cho kháng cáo của mình là có căn cứ và hợp pháp, nên không có căn cứ để Hội đồng xét xử xem xét đối với kháng cáo của bà L, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm đã xét xử như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ.

[5]. Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo của bà Hà Thị L không được chấp nhận nên bà L phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

[6]. Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét giải quyết.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

  1. Không chấp nhận kháng cáo của bà Hà Thị L; giữ nguyên bản án Hôn nhân & Gia đình sơ thẩm số: 51/2025/HNGĐ-ST ngày 17/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3, tỉnh Bắc Ninh.
  2. Về án phí: Bà Hà Thị L phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự phúc thẩm.

    (Xác nhận bà Hà Thị L đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001465 ngày 10/10/2025, tại Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh).

  3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết kháng cáo, kháng nghị.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - Công TTĐT;
  • - TAND khu vực 3, tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND khu vực 3, tỉnh Bắc Ninh;
  • - Phòng THADS khu vực 3, tỉnh Bắc Ninh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Gia Lương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 43/2025/HNGĐ-PT ngày 27/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về ly hôn, chia tài sản chung

  • Số bản án: 43/2025/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, chia tài sản chung
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 27/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: T-H tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger